Mã Thủ không ngờ rằng ẩn sau mặt tiền bé tí tẹo kia lại là một không gian rộng lớn đến vậy.
Như thể gã đang đứng giữa hành lang tối tăm, quạnh quẽ của một khu chợ buôn quy mô nhỏ sau giờ đóng cửa. Phía trước là hàng chục lối đi theo hình xương cá, hai bên tăm tắp các cửa hàng như những quán trà sữa, tạp hoá ngoài đường. Cả hành lang nguyên một màu u ám, chỉ đâu đôi ba gian ở thăm thẳm tận cùng là sáng đèn.
Hẳn B36 nằm trong lối rẽ thứ hai.
Mã Thủ bật đèn pin điện thoại, bấm bụng rờ rẫm vào hành lang. Gió đánh cành đưa, lá úa lả tả vờn bay quanh gã.
Cửa B36 rực rỡ ánh đèn vàng óng ả. Trong bóng tối bao trùm, nguồn sáng ấy như một hang động ấm áp, gọi mời gã mau mau bước lại.
Đứng trước gian hàng mang đậm nét cổ điển xa xưa, Mã Thủ sững sờ giây lát, ngỡ mình đang lạc lối trong một phim trường cổ trang với những phố xá triều Tống và thành trì thời Đường.
Biển hiệu bằng vải bố, lúc thì như lá cờ gọi hồn màu vàng nâu phấp phới trên giáo đài, khi lại tựa tấm biển quảng cáo điện tử cứ lần lượt vài giây “B36” rồi thoắt đổi thành “Châm Nương” bằng chữ triện.
Dưới biển hiệu là một người đàn bà đang xào nấu trên bếp lò cao cỡ ngang nửa người. Bên chân là một thùng nước lã và một rá tre đong đầy hỗn hợp bột đất, than gỗ thông trộn tàu xì.
Chị ta chừng ngoài bốn mươi, người gầy hốc hác như một que củi bận váy sam thô, tóc vấn bằng vải bố, nếp nhăn giữa mày thẳng đứng như kim treo. Hẳn là Châm Nương nọ.
Chị ta là “thầy lang” ư?
Chị đảo xẻng luôn tay, tiếng lạo xạo như rang đậu vang bên tai không dứt. Thế nhưng thứ được rang trong chảo lại là kim may dài cả tấc, lập loè ánh bạc.
Châm Nương nhìn gã, thoạt cười.
Nụ cười ấy khiến nếp nhăn khắp mặt hằn sâu như kim châm chiếc ngang chiếc dọc, giọng chị thân quen như gặp bạn cũ: “Đến rồi đấy à.”
Nói đoạn, chị nhanh tay gác xẻng lật, trút hết đồ trong rá, vùi kín cả chảo kim, chỉ sót lại đôi ba chiếc dựng đứng như một phần mộ nho nhỏ giữa chảo.