Sau buổi lễ ngày mồng 1 tháng Mười, cuộc sống quay trở về những nề nếp cũ, gần như đã bình thường trở lại, dù rằng Mạc Lan không còn biết cô đang nghĩ đến loại bình thường gì. Hầu như không còn hy vọng gì trong trường hợp của Tiểu Ái, cô không còn thuộc về một trường học hay đơn vị làm việc nào cả. Cả Mạc Lan và Bá Dương đều không có can đảm hỏi Tiểu Ái xem cô làm gì những ngày này. Vào các buổi chiều tối, có thể thấy cô loanh quanh ở trong nhà hay ngoài sân, ủ dột và xa cách.
Chú không kiệm lời hơn trước, nụ cười đặc trưng vẫn thường trực trên môi, và Dì thì vẫn hay nói như thường lệ. Nhưng những cố gắng tỏ ra bình thản của họ không thể xua tan màn sương tuyệt vọng đang lơ lửng trước mặt. Họ trông đã già hơn, thi thoảng lại lơ đãng khi cố gắng tham gia vào những cuộc nói chuyện của hàng xóm. Hơn bao giờ hết, dường như họ đang rất sợ con gái mình.
Mạc Lan được dạy rằng những khó khăn trong cuộc sống cũng giống như thời tiết khó chịu, con người ta nên chịu đựng gian khó bởi vì thời tiết xấu rồi sẽ tan, như vận rủi rốt cuộc rồi cũng mãn kỳ. Niềm hy vọng là mặt trời ló rạng sau trận bão, là mùa xuân ấm áp sau những ngày đông lạnh giá; nữ thần số phận, tuy đỏng đảnh, lại có một đầu óc nhạy cảm, hệt như những cô gái trẻ, sẵn sàng mỉm cười với những người bền bỉ nhẫn nại.
Bản tính của Mạc Lan là tìm kiếm niềm hy vọng cho người khác trước khi bản thân cô cảm thấy hy vọng. Im lặng là bước đầu tiên trong việc chấp nhận sự tuyệt vọng, vì vậy, với thứ triết lý đầy mơ tưởng được thừa kế đó, khi chỉ có cô và Tiểu Ái ở lại trên sân, cô đã nhắc lại nó với Tiểu Ái. Đó là một buổi chiều thứ Bảy, chỉ học nửa ngày, và tới tầm trưa thì cả Bá Dương lẫn Như Ngọc đều biến mất. Mạc Lan đoán Như Ngọc đi tập đàn, còn Bá Dương chắc lại đi chơi bóng rổ hay bóng đá với đám con trai.
“Mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp hơn, chị Tiểu Ái,” Mạc Lan nói. “Đừng nản lòng. Chị có nhớ câu chuyện Tái ông thất mã nhưng rồi nó lại mang thêm một con ngựa khác về chuồng không?”
“Em tự biến mình thành cái loa của những kẻ thông thái và lạc quan từ bao giờ thế?” Tiểu Ái hỏi, nhìn Mạc Lan đầy ngờ vực.
Mạc Lan đỏ bừng mặt. “Em không muốn chị cảm thấy cô độc trong hoàn cảnh của mình,” cô nói.
“Em không muốn chị cảm thấy cô đơn hả? Chị cá là em còn muốn nhiều điều nữa cho những người khác, đúng vậy không?”
Mạc Lan bối rối lắc đầu. Còn quá trẻ để biết rằng tình cảm của cô là thứ tình cảm khiến một đứa trẻ nổi loạn chống lại mẹ mình, cô thấy thất vọng trước những lời lẽ nặng nề của Tiểu Ái.
“Em đúng là tham vọng quá khi lại đi muốn thay chị,” Tiểu Ái nói. “Nhưng để chị cho em một lời khuyên xác đáng mà chị cũng đã khuyên bố mẹ chị thế này nhé: đừng lãng phí cảm xúc của em cho một người không xứng.”
Mạc Lan lắp bắp nói cô vẫn luôn ngưỡng mộ Tiểu Ái.
“Mạc Lan ơi là Mạc Lan, chị có nói về chị đâu. Dĩ nhiên, tới giờ thì bố mẹ chị cũng cần phải biết rằng không nên tốn hơi lo lắng về chị nữa,” Tiểu Ái nói. “Còn em, em không thấy rằng mình trẻ con quá sao, cứ bám lấy hai người bạn kia như thể em không thấy rằng họ thích đi riêng với nhau?”
Phải mất một lúc Mạc Lan mới hiểu Tiểu Ái muốn bóng gió nói đến điều gì, lúc này Tiểu Ái đã mở khóa xe đạp, để Mạc Lan chới với trong một vực thẳm. Cô chậm chạp quay về nhà, tìm chìa khóa.
Chẳng có lý do gì để không tin lời Tiểu Ái cả. Mạc Lan băn khoăn, không biết có phải những người khác - bố mẹ cô chẳng hạn, hay bà của Bá Dương - cũng đang muốn cảnh báo cô hay không. Từ thuở nhỏ, Mạc Lan đã nhìn thấy, trong con mắt tán thành của những người lớn tuổi, một tương lai cho cô và Bá Dương. Cô vẫn chưa dám đặt tên cho nó, vì rằng Bá Dương chưa đặt tên cho nó. Tất cả những gì cô có là sự trung thành với tương lai, nhưng sự trung thành với một tương lai, khác với quá khứ, là một cảm giác vừa mù quáng vừa ngạo mạn. Cái gì bắt đầu bằng một cái tên thì cũng có thời hạn kết thúc; bằng cách chỉ định nghĩa một thứ sau khi nó đã biến mất - một người anh em, một người bạn, một mối tình thời thơ ấu - sẽ đến ngày nào đó Mạc Lan hiểu rằng sự mất mát, mà vốn đây chỉ là một sự mất mát hạn chế đối với Bá Dương vì chắc từ lâu anh đã khước từ bằng một cái tên dành cho nó, với cô là một khoảng trống tồn tại dai dẳng.
Mạc Lan để nguyên đồng phục lên giường nằm, kéo chăn trùm kín người và lặng lẽ khóc. Một sự thay đổi nhỏ trong vài ngày qua, vốn nhỏ nhặt đến nỗi cô cứ phân vân cho rằng có khi đó chỉ là do mình tưởng tượng mà ra, chợt xuất hiện trở lại với một ý nghĩa khác. Như Ngọc vẫn thường nhảy lên chiếc xe nào gần với cô ấy hơn, nhưng một buổi sáng tuần trước, cô lại đi vòng qua Mạc Lan để ngồi vào xe Bá Dương, rồi kể từ hôm đó tới nay, cô ấy luôn chọn xe của anh.
Ngày hôm sau, Mạc Lan đề nghị với Bá Dương rằng các tối học nhóm nên chuyển sang phòng anh thay vì phòng Như Ngọc. Để cho chị Tiểu Ái có chút không gian, cô nói. Sau một đêm trằn trọc, cô đã quyết định vẫn giữ nguyên tình bạn của cô với hai người bọn họ, nhưng cô không muốn Tiểu Ái nhìn ra sự dũng cảm - hay ngu ngốc - này của mình.
Bá Dương đồng ý ngay. Có lẽ chính anh cũng cảm thấy khó khăn khi ở gần Tiểu Ái trong những ngày này; Mạc Lan tự hỏi không biết Tiểu Ái có làm anh khó xử bằng cách bình luận về mối quan hệ giữa anh với Như Ngọc không. Mạc Lan không nhận thấy bất kỳ thay đổi nào ở anh đối với cô, còn Như Ngọc thì vẫn xa cách như thế, không có gì khác. Biết đâu Tiểu Ái vì tâm trạng không tốt mà muốn làm tổn thương người khác; những gì cô đã nói với Mạc Lan có thể là không đúng. Ý nghĩ này khiến Mạc Lan thấy hy vọng trở lại, đồng thời mang đến sự thương hại trong sự thông cảm của cô dành cho Tiểu Ái. Giống như bất kỳ những đầu óc trẻ trung nào, Mạc Lan, vốn quá mải mê với viễn kiến của chính mình về hạnh phúc, không có khả năng đồng cảm thực thụ - tức là loại đồng cảm không được thể hiện một cách chiếu lệ xuất phát từ nghĩa vụ của một người trước cái bất hạnh của người khác. Nhưng có bao nhiêu người đủ mạnh mẽ để có thể mang đến - hoặc thậm chí là nhận về - sự đồng cảm thực thụ? Khi đau khổ và lúc gặp tai ương, người ta thường không tìm kiếm nguồn động lực ở những người gần gũi với mình nhất, mà ở sự lãnh đạm hoàn hảo trên gương mặt của những người xa lạ, những người đã đưa cái khốn khổ của họ trở về đúng nơi của nó - không liên quan đến mức nực cười.
“Thế hệ nào cũng phải học bài học này,” mẹ Mạc Lan nói trong bữa ăn khi chủ đề câu chuyện chuyển sang Tiểu Ái. “Phản kháng công khai ở cái đất nước này đâu có ích gì. Cái không may là, một số người phải trả giá đắt hơn những người khác. Con không còn là trẻ con nữa, hãy dùng đầu óc của mình khôn ngoan hơn đi.”
Mạc Lan lầm bầm câu trả lời trong miệng. Hàng xóm không bàn chuyện về Tiểu Ái. Suốt mấy tuần qua, tất cả đều phải trải qua một đợt “rà soát” chính trị, nhưng chỉ mình Tiểu Ái có kết quả không hay. Họ vẫn đối xử với cô bằng thái độ tôn trọng và nhẫn nại như cũ, nhưng phía sau những cánh cửa nhà đóng kín, có lẽ họ cũng xì xào với nhau những lời lẽ khó nghe về cô, như bố mẹ Mạc Lan chẳng hạn.
Một con bướm đêm chấp chới bay về chiếc bóng đèn treo phía trên bàn ăn, bố Mạc Lan huơ huơ đôi đũa như thể chỉ cần làm như vậy là thứ phá đám kia sẽ đi. Mạc Lan nhìn con bướm, đôi cánh của nó bụi bặm và màu xám, hành trình vô định của nó. Những con bướm này không lớn hơn loài bọ rùa là bao, dường như đã trở thành một vật cố định thường trực trong nhà. Chúng đến từ những con sâu màu vàng rơm sống trong những bao gạo mà bố mẹ cô đã phải chật vật mới mua được vì sợ tình trạng lạm phát ngày càng tệ hơn; nhiệm vụ của Mạc Lan là sàng gạo để loại bỏ những con sâu uốn éo này ra trước khi nấu cơm. Khác với lũ muỗi và ruồi mà mẹ cô kiên quyết truy sát cho bằng được, những con bướm đêm này, vốn không làm hại ai, được để cho tự sinh tự diệt.
Mạc Lan thở dài, và mẹ cô, như thể chỉ chờ đợi cơ hội này, bắt đầu một bài diễn thuyết về việc tại sao một thanh niên như Mạc Lan lại cho rằng cô có quyền thở dài. Mạc Lan ngoan ngoãn ngồi nghe. Những ngày này, lũ bướm đêm, cùng với vô số các thứ đồ nhu yếu phẩm mà bố mẹ cô đã tích trữ để chống chọi lại với lạm phát - những thanh xà phòng kiềm, những mảnh vải màu nâu xám bọc trong giấy màu vàng rơm, những hộp diêm đã bị ẩm nên khó đánh lửa, giấy vệ sinh, bột giặt, loại trà rẻ tiền đúc thành những thanh hình chữ nhật thô kệch, tất cả đều đã để lâu ngày và đang bám bụi - những cảnh tượng này khiến Mạc Lan chán nản: quay đi đâu cũng có thể dễ dàng va vào hàng đống đồ ngổn ngang, khiến lũ bướm đêm đang yên ổn lại bay loạn xạ. Thế giới này đã trở nên nhỏ bé hơn, u ám hơn, nhưng nó chỉ dành cho riêng cô thôi sao?
Mạc Lan phải giấu bố mẹ sự chán chường này. Chẳng phải mẹ cô đã trải qua một tuổi thơ nghèo khó với sáu anh chị em trong nhà, tất cả chỉ trông chờ vào khoản thu nhập ít ỏi từ chiếc xe xích lô của bố hay sao? Chẳng phải bố cô đã phải chịu hàng năm trời nhục nhã vì là con của một tiểu tư sản hay sao?
Những con bướm đêm màu xám này cũng bay vào các ngôi nhà khác, nhưng dường như cả Bá Dương và Như Ngọc đều không mấy bận tâm. Sao họ phải thế chứ, nếu như cuộc đời đã hào phóng mà ban tặng cho họ mọi thứ tốt đẹp mà Mạc Lan không có? Nhưng cái ý nghĩ độc địa đó lại khiến cô cảm thấy day dứt: dĩ nhiên là Như Ngọc đã trải qua những mất mát lớn hơn; chắc chắn là cô xứng đáng nhận được sự tử tế hơn, tình yêu đẹp đẽ hơn.
Sau tiết học cuối cùng trong ngày, Như Ngọc thường tới phòng nhạc để tập phong cầm. Thi thoảng, khi cô ngồi chơi ở ngoài hiên, Mạc Lan lại tới xem. Cô không muốn vào trong cái lán lụp xụp, tối tăm đó, mà thực ra thì cô không có quyền vào; ngoài Như Ngọc, thầy Thư còn phụ trách một vài học sinh học nhạc nữa - bốn nghệ sĩ vĩ cầm, hai nam sinh chơi piano song tấu, và một nữ sinh cấp hai thuộc một dàn nhạc mộc cầm ở Nhật Bản, trong đó duy chỉ có cô là người Trung Quốc, gồm năm mươi thành viên, tất cả đều là nữ. Mạc Lan không biết làm sao mà cô bé này có thể tham gia vào một dàn nhạc Nhật Bản, và có những ngày, khi ngồi trên hiên lắng nghe những nhạc cụ này, mỗi thứ đều mải mê phiêu diêu với âm nhạc của riêng nó, cô lại băn khoăn về những điều mình đã bỏ lỡ hay sẽ bỏ lỡ trong cuộc sống. Cô không có năng khiếu tạo ra cái gì đẹp đẽ cả - thứ âm nhạc duy nhất cô có thể tạo ra là huýt sáo một giai điệu đơn giản, giọng run run vì không chắc chắn, mà ngay cả chuyện đó cô cũng bị mẹ lườm nguýt vì con gái không ai lại huýt sáo hết; nét vẽ và viết của cô ngây ngô như trẻ con, thực ra là cô hầu như không có kĩ năng trong bất kỳ môn nghệ thuật nào; ngay cả cơ thể và khuôn mặt cô cũng không có đặc điểm gì nổi bật.
Mạc Lan quay ra quan sát Như Ngọc - đó là một trong những ngày thu đẹp nhất ở Bắc Kinh, bầu trời cao trong xanh, thầy Thư đã xua tất cả các học sinh do thầy phụ trách, ngoại trừ hai nghệ sĩ piano, ra tập ở mái hiên. Trong bóng râm của mái đua, Như Ngọc lơ đễnh đưa những ngón tay lên xuống dọc theo phím đàn, nhưng khi Mạc Lan nhắm mắt lại, cô không thể phân biệt được đâu là một màn biểu diễn hết mình và đâu là một màn biểu diễn nửa vời, cũng như cô không thể phân biệt được đâu là sự tự tin hay xấc xược của Như Ngọc.
“Chắc cậu thấy chán lắm hả,” Như Ngọc nói sau khi chơi xong một đoạn nhạc. “Cậu không cần phải đợi tôi đâu.”
“Không, không chán đâu,” Mạc Lan nói. “Cậu vừa chơi bản gì đấy?”
Như Ngọc lật tờ giấy chép nhạc như chưa nghe thấy câu hỏi của Mạc Lan. “Tôi có thể đi bộ về nhà,” cô nói sau khi dừng lại đọc trang nhạc tiếp theo. “Hoặc tôi có thể đi nhờ xe Bá Dương.”
Ba ngày một tuần, Bá Dương chơi bóng rổ, hai ngày còn lại, anh chơi bóng đá hoặc chỉ loanh quanh chơi và tán chuyện với một vài cậu con trai ở chỗ gần nhà để xe đạp. Thi thoảng Mạc Lan cũng nhập bọn với họ, bởi tất cả đều thân thiện với cô, dù rằng chủ đề ưa thích của họ - Michael Jackson, những điệu nhảy breakdance , phim Người biến hình - không mấy hấp dẫn đối với cô. Cũng có lúc cô chơi bóng bàn, nhưng cô không phải là một người chơi tài năng, và thường thì cô nhường sân cho người khác khi cuộc chơi trở nên cạnh tranh hơn. Ba cô bạn học cô chơi thân từ cấp hai cũng ở lại trường sau giờ học, nhưng họ chỉ nói chuyện với nhau chứ không làm gì cả; tình bạn giữa Mạc Lan với họ không tiếp diễn suôn sẻ ở cấp ba như cô hình dung: dường như có một dòng hải lưu ngầm nguy hiểm, một tam giác phức tạp mà trong đó Mạc Lan thường đi lạc, và những ngôn từ của họ, dường như lúc nào cũng đầy ắp những ẩn ý, đôi khi quá cẩn thận hoặc quá ngớ ngẩn.
“Tôi chờ không sao đâu,” Mạc Lan nói. “Thực ra, tôi còn thích xem cậu chơi kia.”
Như Ngọc lạnh lùng nhìn Mạc Lan dò xét. “Ý cậu là thích xem người ta chơi nhạc? Hay là cậu thích xem tôi?”
Mạc Lan đỏ mặt. Dường như Như Ngọc đang muốn hỏi cô có quyền gì mà ngồi cạnh Như Ngọc, mà nói là bạn cô? “Tôi không biết. Có lẽ tôi chỉ thích nghe âm nhạc thực sự đang được chơi trên một nhạc cụ.”
“Vì sao?”
“Vì tôi không biết chơi nhạc?” Mạc Lan nói, bắt đầu thấy dao động trước cái nhìn chằm chằm của Như Ngọc. “Những người tôi biết cũng không chơi nhạc.”
“Cô có muốn không?”
Mạc Lan nhìn cô gái đang chơi mộc cầm say sưa đến độ ngay cả khi đôi mắt cô ta mở lớn - và đó là đôi mắt to, gần như không phải mắt người, sâu thăm thẳm đầy huyền bí - dường như cô ta cũng không nhìn thấy gì cả. Nhiều năm sau, cô gái này sẽ trở thành tay trống cho ban nhạc rock nữ đầu tiên ở Trung Quốc, và Mạc Lan sẽ thấy ảnh của cô trong một cuốn tạp chí: mặc đồ da đen bóng loáng, đôi mắt cô vẫn giữ vẻ nhiệt tình, hoặc là nỗi thất bại bị phóng đại.
Như Ngọc liếc sang cô gái. Mạc Lan chột dạ, không biết trong mắt Như Ngọc, cô gái có phải là một diễn viên ưa khoa trương không, hay tệ hơn, một sự vướng mắt. Nhưng cô gái này có thể mang nhạc cụ lên máy bay tới Nhật Bản, trình ra hộ chiếu của mình cho các quan chức ở cả hai quốc gia. Ngoại trừ chị gái Bá Dương, Mạc Lan không biết ai từng đi nước ngoài cả; không ai ở khu tập thể có đủ điều kiện để nộp hồ sơ xin cấp hộ chiếu nữa kia.
Với thái độ khinh khỉnh không nói ra lời, Như Ngọc quay sang nhìn Mạc Lan, như thể muốn hỏi có phải cô muốn được là cô gái đang chơi mộc cầm đó hay không. “Tôi cũng mong mình biết chơi nhạc lắm,” Mạc Lan nói. “Nhưng có phải ai cũng được như vậy đâu.”
“Sao không? Trẻ mồ côi như tôi còn biết chơi nữa mà.”
Đó là lần đầu tiên Như Ngọc dùng từ trẻ mồ côi . Mạc Lan không biết nói gì để an ủi Như Ngọc, nhưng lời tuyên bố đó, với sự ngạo mạn của mình, được phóng vào thế giới như một con dao găm thì đúng hơn, và Mạc Lan, khi không biết phải trả lời ra sao, đã tự nộp mình làm mục tiêu.
Như Ngọc quay lại tập nhạc, và bắt đầu một bản polka có tiết tấu rất nhanh. Mạc Lan hiểu ý rằng cô không phải là người bạn đồng hành được chào đón ở hàng hiên này. Vì tự trọng, lẽ ra cô phải xin lỗi và đi chỗ khác, nhưng việc cô đi hay ở dường như không quan trọng. Dĩ nhiên, Như Ngọc có thể làm nhiều điều mà không ai khác có thể làm được: lý do không phải vì cô là trẻ mồ côi - nếu Mạc Lan mồ côi, chắc cô sẽ giống như những đứa trẻ run rẩy xin ăn ở vệ đường kia; lý do cũng không phải vì Như Ngọc xinh đẹp - đúng là cô ấy xinh, nhưng còn nhiều cô gái khác xinh hơn, vóc người đẹp hơn, nhưng thi thoảng chính họ cũng có lúc ngờ vực, băn khoăn mà Như Ngọc thì miễn nhiễm với chúng; không, Như Ngọc có thể làm bất kỳ điều gì cô muốn, với người khác, với thế giới, bởi vì cô biết số phận đã định đoạt cho cô trở thành một người đặc biệt. Cô không cảm thấy mình có trách nhiệm phải chứng tỏ điều đó với bản thân hay với bất kỳ ai, cô cũng không có sự bao dung với những người không được chọn như cô. Mạc Lan trong mắt Như Ngọc là gì? Nhiều năm sau, Mạc Lan chợt nghiệm ra rằng, đó hoặc là điều may mắn nhất, hoặc là điều bất hạnh nhất trong cuộc đời cô khi lần đầu tiên cô nhìn nhận bản thân mình qua con mắt người khác, cô lại chọn con mắt của Như Ngọc: cô là ai trong mắt Như Ngọc chứ, nếu không phải là một người quá đỗi bình thường đến nỗi niềm vui hay nỗi buồn của cô đều chỉ là những thứ vặt vãnh thường ngày?
Vài ngày sau đó, Bá Dương kể với Mạc Lan rằng Như Ngọc muốn được tới xem trường đại học nơi bố mẹ anh dạy. “Chiều thứ Bảy,” anh nói. “Ta cùng đi nhé?”
Trường đại học này, ở phía tây thành phố, nằm không xa Cung điện Mùa hè, khuôn viên trường trước đây từng là nơi ở cho các hoàng thân quốc thích của những vị vua trong triều đại cuối cùng. Người ta bảo đây là một trong những địa điểm đẹp nhất ở Bắc Kinh, thế nhưng suốt bao năm Mạc Lan quen biết Bá Dương, cô chưa một lần tới thăm nơi đây. Đó là một phần của thế giới mà anh không muốn chia sẻ với cô; mà cô cũng không thấy mình thoải mái khi đến gần nó. Bố mẹ anh, cô biết, không mấy coi trọng cô cùng bố mẹ cô và những người như họ.
Đề nghị của Như Ngọc không phải là điều gì quá ngạc nhiên. Dẫu vậy, Mạc Lan vẫn không khỏi đau lòng khi nghĩ đến chuyện điều bị cấm đoán với cô lại là điều bình thường với Như Ngọc, người chỉ cần hỏi là được tấm vé thông hành. Bá Dương có nhận ra sự khác biệt này không? Cô nhìn anh, nhưng dường như anh đang rất hào hứng với kế hoạch sắp tới. “Dĩ nhiên, cứ để cậu ấy đi xe buýt, chúng ta sẽ gặp cậu ấy ở trường. Nhưng theo cậu thì cậu ấy đi xe buýt ổn chứ? Sẽ phải đổi tuyến giữa đường. Hay là cậu đi xe buýt cùng cậu ấy luôn nhỉ? Nhưng thế thì cả ba sẽ chỉ có một cái xe đạp, mà khuôn viên trường thì rộng kinh khủng, làm sao mà đi bộ được kia chứ.” Bá Dương chợt dừng lại. “Sao? Cậu đã có kế hoạch gì khác cho ngày thứ Bảy rồi à?”
“Không, làm gì có,” Mạc Lan nói. Giọng cô có vẻ háo hức quá, cô nghĩ bụng, nhưng cô không muốn khiến anh thất vọng.
“Bố mẹ cậu có đồng ý để chúng ta ăn tối ở đó không? Không phải ăn với bố mẹ tôi. Như Ngọc muốn tới thăm phòng thí nghiệm của mẹ tôi, nên tôi nghĩ chúng ta có thể ăn tối ở phòng ăn, rồi sau đó tới phòng thí nghiệm sau giờ làm việc, như thế thì sẽ không phải tiếp chuyện ai cả.”
“Mẹ cậu có ở đấy không?”
“Ồ, đồ ngốc, đừng có lo lắng. Mẹ tôi sẽ không vì chúng ta đến mà nán lại đâu. Dù có là thủ tướng thì bà ấy cũng không chịu thay đổi kế hoạch của mình nữa là.”
Tuy phân vân, nhưng khi ngày hẹn tới gần, chính Mạc Lan cũng bắt đầu nôn nóng. Chắc chắn Bá Dương sẽ vào học ở trường đại học nơi bố mẹ anh đang làm việc - anh là học sinh giỏi nhất lớp, thậm chí không cần dùng đến đặc quyền của gia đình để được vào đó. Anh cũng luôn cho rằng Mạc Lan sẽ vào trường này học, nhưng cô thì lại không chắc chắn lắm. Cô sẽ phải cải thiện điểm xếp hạng của mình và đạt điểm số cao trong kỳ thi đầu vào, nhưng khi cô nói những điều này cho Bá Dương thì anh chỉ giễu cợt rằng cô đang quá cẩn trọng. Anh nói với cô rằng dĩ nhiên mọi chuyện đâu sẽ vào đấy; cô giỏi hơn so với những gì cô tự nghĩ về mình rất nhiều. Hãy tưởng tượng mà xem, họ sẽ được tự do thế nào khi vào đại học, anh nói, và cô chỉ thấy có một lựa chọn là tin tưởng vào lòng nhiệt tình của anh, cho tới giờ, cô vẫn thích thú với những viễn kiến của anh.
“Vậy là,” Tiểu Ái nói trong bữa tối chiều thứ Sáu. “Chị có nghe nhầm không về chuyến thăm một trường đại học nào đó vào ngày mai?”
Như Ngọc không ngước nhìn lên để ghi nhận câu hỏi. Những ngày này, bữa tối trở thành cực hình đối với cô, còn tệ hơn cả giờ đi ngủ, bởi vì lúc đó cô lại có một cuộc chiến mở, khiến cô và Tiểu Ái càng thêm xa cách nhau. Tiểu Ái tìm cách chạm vào người Như Ngọc một lần duy nhất sau cái đêm đó, nhưng với giọng nói bình tĩnh nhất có thể, cô đã bảo Tiểu Ái để cô yên. Sau lần đó, cô không nói gì thêm nữa, chuyện sàm sỡ cũng chấm dứt, và hằng tối, Như Ngọc lại lấy chăn quấn chặt người, chỉ ngủ lơ mơ để luôn cảnh giác.
Như Ngọc đã thề, mà cho đến giờ đã giữ đúng lời thề, rằng cô sẽ không bao giờ nhìn vào mặt Tiểu Ái nữa. Tuy nhiên, sự hiện diện của Chú và Dì lại làm cho mọi việc trở nên khó khăn hơn. Trong bữa ăn, vì ngồi đối diện với Tiểu Ái, nên Như Ngọc đành phải hoặc là nhìn xuống bát ăn, hoặc là, khi Dì nói chuyện với cô, nhìn lên Dì, nhưng cố tình để mắt làm mờ những khu vực xung quanh.
“Trường đại học nào?” Dì hỏi, giọng gay gắt. Trường đại học là một trong những từ gần đây họ không muốn nhắc đến trong nhà.
“Như Ngọc đây,” Tiểu Ái nói, “sắp đi thị sát xem sẽ dành tương lai học tập tươi sáng của mình ở đâu.”
Cái tệ nhất là Như Ngọc không có cách nào che chắn cho mình khỏi những tiếng ồn ào mà những người khác tạo ra: tiếng đũa ăn lách cách va vào nhau, tiếng chân ghế kêu ken két trên nền nhà, tiếng ầm ừ trong cổ họng thay thế câu trả lời cho những câu hỏi của Dì, và vô số những lời bình phẩm khác nhau ném vào Như Ngọc hòng khích cô phải phản ứng.
Dì nhìn Như Ngọc, toan hỏi gì đó lại thôi.
“Mà con mới nghe nói Dạ Ngưng thân mến của chúng ta vừa được nhận vào làm thực tập sinh ở công ty Dầu mỏ và Khí đốt Sino,” Tiểu Ái nói.
Khi không thấy ai đáp lời ngay, Dì thở dài hỏi Dạ Ngưng sẽ làm công việc gì.
“Học cách trở thành một phụ nữ quyến rũ và dễ bảo trong thế giới thực,” Tiểu Ái nói. “Cô ấy còn có thể làm gì khác được nữa chứ?”
Giá mà Tiểu Ái ngậm miệng lại thì hay biết mấy, Như Ngọc nhủ thầm, nhưng những ngày này, Tiểu Ái là người dẫn dắt những câu chuyện bên bàn ăn, như thể các chủ đề của cô đều vô hại, thông thường. Rõ ràng là cô ý thức được - mà thậm chí còn khoái trá tận hưởng nữa kia - những nỗi đau mà cô đang mang đến cho bố mẹ mình, những người không thể ngăn cô đừng tra tấn họ nữa. Như Ngọc đã có thể thấy Tiểu Ái đang dần đánh mất vị trí của mình ở khắp mọi nơi ngoại trừ trái tim bố mẹ cô - không còn là một ứng cử viên tiềm năng cho công việc nào, ngày càng nhận được ít sự cảm thông hơn từ hàng xóm láng giềng, những cái nhìn đầy sợ hãi từ Mạc Lan và Bá Dương. Nhưng sao phải tội nghiệp cho bố mẹ Tiểu Ái làm gì chứ? Chính họ đã đưa một con người như vậy đến thế giới này cơ mà, họ sẽ phải sống dưới sự chuyên chế của cô ta rất lâu sau khi cô ta không còn ý nghĩa gì với thế giới này nữa.
“Con không sao chứ, Như Ngọc?” Dì hỏi.
Nhìn nét mặt Dì, Như Ngọc đoán mình vừa bỏ lỡ một câu hỏi của Dì nhằm tránh tiếp tục một cuộc nói chuyện khó khăn với Tiểu Ái. Như Ngọc xin lỗi rồi nói rằng cô đang mải nghĩ xem liệu mình có để quên tập tài liệu ôn thi quan trọng ở trường không.
Trông Dì có vẻ lo lắng, khiến Như Ngọc thắc mắc, có phải trong thâm tâm Dì cũng rất mong chờ cơ hội xuất hiện một rủi ro khả dĩ có thể kiểm soát được như thế này hay không. “Con cứ kiểm tra cặp sách cho kỹ,” Dì nói. “Nếu không có, thì chắc Bá Dương hay Mạc Lan cũng phải mang về chứ. Con phải hoàn thành bài tập tối nay à?”
Như Ngọc nói cô sẽ đi kiểm tra và xin phép rời bàn ăn. Trong phòng ngủ, trên chiếc bàn hẹp, là tập tài liệu ôn thi, cô hờ hững cầm lên tờ đầu tiên rồi bắt đầu đọc câu hỏi đầu tiên; được nửa chừng thì cô quên khuấy mất, nhưng vẫn cố gắng tỏ ra đang chăm chú vì sợ Dì nhìn vào. Trên ghế là chiếc cặp sách mới mà Dì cương quyết mua, vì Dì nói học sinh cấp ba không ai dùng cặp trẻ con như cái mà Như Ngọc mang từ nhà đến cả. Ở góc phòng là một chiếc tủ ngăn kéo cũ, hai ngăn kéo dưới cùng là của Như Ngọc. Vừa thoáng nhìn lên các ngăn kéo trên, nơi Tiểu Ái đựng quần áo lót, Như Ngọc rùng mình, xé đôi tờ giấy đang cầm.
Chiếc hòm gỗ liễu của hai bà dì nằm ở dưới gầm giường, Như Ngọc đã lấy một chiếc khăn cũ phủ lên để che bụi cho nó. Chiếc phong cầm thì ở trường, được khóa trong một nơi có dáng vẻ như thể hằng đêm vẫn được hồn ma bóng quế của bao nhiêu thế hệ các nhà sư ở đó tới viếng thăm. Đó là tất cả những gì cô sở hữu trong cuộc đời này - không nhiều, nhưng vừa đủ với cô để không trở thành một kẻ vứt đi. Khi bố mẹ cô bỏ cô trên ngưỡng cửa nhà của các bà dì, họ có nghĩ đến khả năng cô sẽ bị chết vì đói hoặc lạnh trước khi hai chị em họ phát hiện ra cái bọc quấn cô hay không? Trong con mắt hai bà dì, Chúa đã khiến họ tìm thấy cô trước khi có điều gì không hay xảy đến, nhưng giờ thì Như Ngọc hiểu rằng Chúa của họ không hề thông tuệ hơn những lời lẽ mà họ đặt vào miệng Người. Nếu Như Ngọc thu dọn đồ đạc rồi ra đi ngay lúc này, cô sẽ không để lại dấu vết nào trong cuộc đời của những con người này, nhưng cô lại không có nơi nào để đi ngoại trừ việc ôm chiếc hòm nhảy xuống sông. Nếu cô tự tử, các bà dì có thể sẽ thắc mắc không ngừng, nhưng cả Chúa của họ lẫn người trần tục đều không thể đưa ra lời giải thích nào, dù là đơn giản nhất.
Nhưng người ta chỉ chết khi bị buộc phải chết mà thôi. Một đứa trẻ sơ sinh không được hưởng tình yêu thương của bố mẹ, nếu bị bỏ mặc ở bên ngoài, sẽ khóc cho đến khi khản giọng; bản chất của chúng ta là không chết trong lặng lẽ.
Ngày hôm sau, Như Ngọc bắt xe buýt tới phía tây thành phố. Đó là lần đầu tiên cô đi xe buýt kể từ hôm tới đây. Mới hơn hai tháng một chút thôi, nhưng quá nhiều thứ đã thay đổi rồi. Những người đàn ông và phụ nữ xung quanh không thể làm hại cô vì cô đã học được bí quyết dùng ý chí để làm mình biến mất khỏi tầm nhìn và suy nghĩ của họ. Khi vô hình, cô cảm thấy mình là bất khả hủy hoại.
Giữa đường, hai đứa trẻ, một trai một gái, chắc không quá mười tuổi, lên xe và đứng cạnh cô. Cả hai đều không bám vào lưng ghế mà để người lắc lư theo nhịp xe và giữ thăng bằng. Chúng nói chuyện với nhau về các loại đá, thao thao nhắc đến những từ như đá trầm tích, đá hỏa sinh, hay đá biến chất , như thể lúc đó chúng không có lý do gì khác để có mặt trên thế giới này ngoại trừ việc tìm hiểu xem một diễn trình hàng triệu năm đã khiến cho loại đá này khác với loại đá kia ra sao. Sau vài trạm dừng, chúng xuống xe. Qua cửa xe, Như Ngọc nhìn chúng sang đường, cẩn thận len lỏi qua những chiếc ô tô đang bấm còi inh ỏi, kiên quyết không chịu giảm tốc độ để nhường đường cho chúng. Có lẽ Mạc Lan và Bá Dương cũng từng có một thời trông như thế. Rất đỗi tự tin về khả năng ngăn tách cái thế giới nguy hiểm cho khỏi xâm phạm đến mình; rất ít ngờ vực về những nỗ lực vô ích của mình.
Khuôn viên trường đại học quả đúng là đẹp như Bá Dương từng khoe: một cái hồ với hàng cây tô điểm xung quanh, cành liễu rũ lả lướt, lúc này lá mới chớm ngả vàng, nghịch ngợm thò xuống mặt nước để chạm vào hình ảnh phản chiếu của chính mình; một chiếc thuyền tạc từ đá, vĩnh viễn buông neo gần một hòn đảo nhỏ; ở trên một đỉnh đồi tọa lạc một ngôi chùa, một ngôi miếu, và một chiếc chuông cổ; một bức tượng Cervantes bằng đồng trong hình hài một người gầy gò đang giương một thanh kiếm gãy; một vài ngôi mộ của những bậc danh nhân, cả người Trung Quốc và phương Tây, đã qua đời từ lâu - cả Mạc Lan và Như Ngọc đều chưa từng nghe đến tên họ, nhưng dẫu sao, được an táng ở một nơi như thế này thì còn gì bằng, sự cô tịch cổ xưa của họ bị phá vỡ, một cách dễ chịu, bởi cái hối hả nhộn nhịp của các sinh viên đại học đang qua lại, đi bộ hoặc đạp xe. Tới cuối ngày, nhiều người hướng về phía các phòng ăn, những chiếc thìa kêu leng keng trong những cặp lồng kim loại mà họ cầm trên tay hoặc để ở cái đèo hàng buộc sau xe đạp.
Mạc Lan thấy ngại ngùng khi ngồi ở đầu này của chiếc bàn dài trong phòng ăn, Bá Dương và Như Ngọc thì ngồi đối diện cô. Một vài nam sinh đại học huýt sáo khi nhìn thấy họ, có lẽ vì thấy bộ đồng phục cấp ba của họ trông buồn cười lắm, nhưng dường như điều này không khiến Bá Dương hay Như Ngọc bận tâm. Thi thoảng lại có người, cả nam và nữ, ghé qua vỗ vai Bá Dương - đó là sinh viên của bố mẹ anh, Bá Dương giải thích với Mạc Lan và Như Ngọc. Anh cho biết, mẹ anh đã gửi chìa khóa phòng thí nghiệm cho một sinh viên cao học và người này sẽ gặp họ ở lối vào tòa nhà hóa học cũ.
“Có tòa nhà hóa học mới à?” Mạc Lan hỏi, nhưng Bá Dương vì đang mải nói chuyện gì đó với Như Ngọc nên không nghe thấy.
Như Ngọc quay sang Mạc Lan, có vẻ như chờ đợi hoặc thách thức cô nhắc lại câu hỏi, nhưng Mạc Lan quay đi, giả vờ nhìn một cặp đôi ngồi ở đầu bàn bên kia đang mải ngắm nhau mà không đụng vào đồ ăn. Nỗi khao khát trong ánh mắt họ khiến Mạc Lan cảm thấy cô như kẻ xâm phạm - mà có lẽ cô đúng là kẻ xâm phạm thật, ở đó và ở bất kỳ nơi nào. Cô gặng nghĩ về những người chào đón cô với tư cách khán giả: bà của Bá Dương khi bà hồi tưởng về các nạn đói năm 1941 và 1958; hai cậu con song sinh của chú Vấn Dưa Hấu với biệt tài bắt chước chính xác những hành vi đặc trưng của người khác; những người xa lạ trên đường, đứng lại than phiền về điều này điều nọ; bố mẹ cô, những người luôn hào hứng kể lại những bài học họ đã rút ra từ cuộc sống nghèo khổ. Giá mà việc ở gần những người cô muốn gần gũi cũng dễ dàng được như thế; nhưng họ dường như lại chỉ muốn cô đừng có mặt: Như Ngọc không thích cô bên cạnh khi đang tập đàn, và bây giờ, khi ngồi đối diện hai người bạn của mình, Mạc Lan lại băn khoăn tự hỏi không biết có phải Bá Dương mời cô đi cùng chỉ vì lịch sự hay không.
Phòng thí nghiệm ở tầng trên cùng trong tòa nhà ba tầng. Hành lang ngổn ngang các dụng cụ cũ, những tấm áp phích cuộn lại, những chiếc ghế ba chân dựa vào những chiếc bàn ọp ẹp, và vô thiên lủng những thứ không tên khác - tất cả như đã ở nguyên vị trí này để đón bụi hằng năm trời rồi. Người sinh viên cao học cầm chìa khóa có nét mặt đăm chiêu, dặn dò mấy câu về việc phải khóa cửa rồi biến mất cuối dãy hành lang tối tăm.
Bá Dương mở cửa, bật mấy chiếc bóng đèn huỳnh quang lên cho sáng. “Thực ra cũng không có gì đáng xem đâu,” anh nói. Dẫu vậy, anh vẫn dẫn hai cô gái đi qua các lối đi trong phòng, thi thoảng lại mở một cánh tủ nào đó để chỉ cho họ thấy các hóa chất và dụng cụ được cất ở đâu, bật công tắc chiếc tủ hút khí độc để chỉ những tấm biển cảnh báo chất độc vẽ hình đầu lâu xương chéo dán trên một vài chiếc chai màu nâu.
Sau đó, họ vào ngồi trong văn phòng cạnh phòng thí nghiệm. Bá Dương đun nước trong một chiếc bếp hâm để pha trà. Một sự trịnh trọng khá kỳ quặc, vì không ai trong số họ uống trà ở nhà cả. Dẫu vậy, có vẻ việc đóng vai trò chủ nhà lại khiến Bá Dương khoái chí. Văn phòng có hai chiếc ghế, chiếc ghế xoay cao là của mẹ anh, và một chiếc ghế gỗ nhỏ hơn. Mạc Lan lưỡng lự khi Bá Dương bảo họ ngồi xuống và cô chọn lấy chiếc ghế gỗ. Như Ngọc ngồi sau chiếc bàn, mắt nhìn vào các tựa báo trước mặt.
“Nếu là cậu thì tôi sẽ không động vào chúng đâu,” Bá Dương nói.
“Tại sao?” Như Ngọc hỏi. “Mẹ cậu sẽ để ý à?”
“Để ý? Không có gì là mẹ tôi không để ý cả.”
“Bác ấy có khó chịu không?”
“Không đâu. Nhưng cậu có thể khiến mẹ tôi hiểu nhầm rằng bây giờ tôi đã hứng thú với công việc nghiên cứu của bà, nên có trời mới biết, lần gặp nhau tới có khi bà lại đưa cho tôi cả đống tài liệu ấy chứ.”
“Bác ấy nghiên cứu cái gì?” Như Ngọc hỏi.
Bá Dương nhún vai, nói đó là chủ đề quá phức tạp, chỉ có mẹ anh mới quan tâm.
“Khi vào đại học cậu sẽ theo ngành hóa học chứ?” Như Ngọc hỏi.
“Không,” anh nói. “Nhàm chán lắm.”
“Cậu sẽ học ngành gì?”
“Tôi không biết. Cái gì đó hữu dụng. Kĩ thuật. Hoặc lập trình máy tính. Cậu định học gì?”
Như Ngọc không trả lời mà quay sang hỏi Mạc Lan định học ngành gì. Cho đến bây giờ, Mạc Lan vẫn nghĩ cô sẽ theo bất cứ chuyên ngành gì mà Bá Dương chọn. Điều đó có vẻ hợp lý, vì rằng anh biết những thứ này rõ hơn cô, nhưng lúc này mà cô nói kĩ thuật hay lập trình máy tính thì chắc sẽ lố bịch lắm. “Có thể là hóa học,” cô nói. “Tôi không ngại những môn nhàm chán.”
Bá Dương phá lên cười, nói rằng chỉ riêng câu phát biểu đó thôi cũng sẽ khiến mẹ anh bắt đầu một bài diễn văn tràng giang đại hải. “Nhưng cậu nghĩ đến chuyện học hóa từ bao giờ vậy?”
Mạc Lan bối rối lắc đầu, cô cảm nhận rõ ràng Như Ngọc đang nhìn mình với sự chăm chú mà cô không hiểu nổi. Cô chuyển chủ đề và hỏi Bá Dương vài câu về các sinh viên cao học của mẹ anh, nhưng cô thấy anh không hoàn toàn để tâm vào cuộc nói chuyện. Anh ít nói hơn thường lệ.
Cuộc nói chuyện uể oải tiếp tục thêm một chút, nhưng cả Bá Dương và Như Ngọc dường như đều không muốn vội về. Mặt trời đã lặn, từ ô cửa sổ duy nhất trong phòng, họ có thể nhìn thấy cái mái nghiêng nghiêng của tòa nhà bên cạnh, những viên ngói bằng đất nung, trước đây được sơn màu vàng và xanh, giờ đã bạc phếch cả. Một con quạ cất tiếng kêu đùng đục, khàn khàn trong cái cây gần đó, và lập tức có người lớn tiếng chửi thề cái điềm xui xẻo mà tiếng quạ kêu mang lại.
Có điều gì đó trong buổi chiều hôm ấy - bữa tối xa nhà, cái gần gũi của cái thế giới vẫn tiếp tục những công việc thường ngày của nó ở bên ngoài cửa sổ, sự tự do không bị xâm phạm của họ - khiến Mạc Lan cảm thấy như cuối cùng, sau bao chờ đợi, cô đã đến được ngưỡng cửa của cuộc đời đích thực của mình, cuộc đời mà cô đã và đang tập luyện như một đứa trẻ cần cù. Niềm tin tưởng và lòng trung thành, nỗi thất vọng và sự cam chịu, hạnh phúc và đau khổ, tình bạn và tình yêu - trong cuộc đời mới này, khác với trong buổi diễn tập, mọi thứ đều đâu vào chỗ nấy, và không gì có thể ngăn cản vở kịch hướng đến lúc hạ màn. Mạc Lan nhìn vào các bạn mình: họ tự tin và có vẻ như họ có sự chuẩn bị tốt hơn.
Điều gì sẽ xảy ra nếu không có gì thay đổi cả, và cô sẽ luôn được giao cho vai trò thứ yếu đó? Điều gì sẽ xảy ra nếu ở cô không có gì khiến cô trở thành người đáng được yêu thương? Nhưng chắc chắn ở mỗi người đều có nét gì đó khả ái chứ, nếu không thì tại sao chúng ta lại sống từ ngày này sang ngày khác làm gì? Trong nỗi tuyệt vọng mà chính cô cũng không nhận thức được, Mạc Lan chìa bàn tay cầu cứu tới các bạn mình: một nụ cười, một cử chỉ trìu mến, một sự khẳng định không lời - để cứu rỗi một người khỏi nỗi tuyệt vọng đâu có khó khăn gì, nhưng họ, dửng dưng trước sự khẩn thiết đang ngốn ngấu linh hồn cô, chỉ ngắm bóng tối buông xuống trong sự thờ ơ riêng tư của họ.
Mạc Lan ước cô có thể là một phần trong cái yên lặng đó; sự yên lặng của cô, sự yên lặng mà cô buộc phải chịu, chỉ càng khiến cô khao khát lời nói. Nhưng nếu lên tiếng, cô sẽ trở thành một con quạ vô tâm, phá hoại một giấc mơ, chẳng nhận về được gì ngoại trừ một lời nguyền im lặng.
Như Ngọc đứng lên nói cô sẽ quay lại ngay, Bá Dương gật đầu và nói phòng vệ sinh nữ ở cuối hành lang. Khi Như Ngọc đi rồi, Mạc Lan quay sang Bá Dương, nhưng anh vẫn nhìn vào mái nhà bên kia sân, cô biết anh đang mải bận tâm chuyện gì đó trong đầu. Cô ước mình là con người trước đây, người không biết ngần ngại khi muốn hỏi anh điều gì. Giữa họ chưa từng có bí mật nào cả.
“Chẳng phải cậu ấy là người rất đặc biệt sao?” Bá Dương thì thầm, quay lại nhìn Mạc Lan với vẻ khẩn cầu, như thể khi không nhắc đến tên Như Ngọc, cô sẽ được giữ gìn như một kho báu.
Mạc Lan mỉm cười đồng tình.
“Cậu cũng nghĩ thế phải không?” Bá Dương hào hứng hỏi.
“Chúng ta chưa từng gặp ai như cô ấy,” Mạc Lan nói.
Bá Dương mừng rỡ ra mặt. “Tôi cứ băn khoăn không biết cậu ấy sẽ theo ngành gì ở đại học.”
“Tôi nghĩ cậu ấy muốn đi Mỹ.”
“Tôi biết. Chúng ta cũng có thể đi mà.”
Mạc Lan vừa yên lòng lại vừa đau đớn khi thấy mình được có mặt, như một người em gái, trong mọi kế hoạch của anh. “Sau đó thì sao?” Cô hỏi.
Bá Dương dường như không phát hiện ra sự thay đổi nào trong tâm trạng cô. “Chúng ta có thể cùng nhau thuê một ngôi nhà,” anh nói. “Hãy hình dung mà xem, một ngôi nhà thực sự, với sân và tầng áp mái. Tôi biết chúng ta có thể làm được điều đó ở Mỹ.”
Một cách ngây thơ - nhưng với sự tàn nhẫn mà chỉ những kẻ ngây thơ mới có thể gây ra được - Bá Dương đã khiến Mạc Lan phải hình dung cô là một chiếc ghế trong căn nhà đó, một bức tranh trên tường, một chiếc rèm buông hờ. Họ là một cặp xứng đôi, cô nghĩ, cả hai đều đẹp đẽ, thông minh, cả hai đều đặc biệt theo những cách mà cô sẽ không bao giờ đạt tới. Cô có thể nghĩ mình may mắn khi được mời vào cuộc sống của họ theo bất kỳ cung cách nào, nhưng khi đến lúc, sẽ không còn chỗ cho cô trong ngôi nhà đó. Cô có đủ lòng tự tôn để không trở thành một vật dụng hay một đồ trang trí trong cuộc sống của bất kỳ ai, nhưng điều tách cô ra khỏi họ không phải là lòng tự tôn của cô mà là một thực tế anh chưa thể nhận ra bây giờ: rồi sẽ đến ngày, cô biết, anh sẽ quên mất rằng anh từng đưa ra lời mời đó.
Uể oải, Mạc Lan đứng dậy nói cô sẽ quay lại ngay. Bá Dương lại chỉ đường tới nhà vệ sinh nữ ở cuối hành lang, nhưng lần này, dường như anh đang trong một cơn mơ, mắt anh như đang tìm kiếm điều gì đó ở bên ngoài, trong bóng chiều chạng vạng. Bầu trời đã chuyển từ sắc rực rỡ của buổi hoàng hôn sang những gam trầm hơn của màu đỏ, đỏ tía, và xanh da trời. Tình yêu có thể biến một buổi chiều tà bình thường thành nên thơ. Nỗi buồn cũng vậy.
Khi ra khỏi văn phòng, Mạc Lan thấy Như Ngọc đang đứng cạnh tủ hút khí độc; nghe tiếng bước chân Mạc Lan, cô quay lại, hai tay đút trong túi. Theo bản năng, Mạc Lan liếc sang nhìn những chiếc chai màu nâu trong tủ. Các công tắc đèn và công tắc hút khói đều đang bật. “Hai người vừa nói chuyện vui chứ?” Như Ngọc hỏi và tắt các công tắc đi. “Tôi không muốn làm phiền các cậu, sợ các cậu cần thời gian riêng tư.”
Mạc Lan lúng túng nói họ đang đợi cô.
Tối đó, Mạc Lan chờ Như Ngọc ở trạm dừng xe buýt. Bá Dương đã tới căn hộ của bố mẹ, nhưng trước khi đi đã kịp dặn đi dặn lại rằng Mạc Lan phải đón Như Ngọc ở điểm xuống xe để cô không bị lạc đường về nhà. Sao có thể lạc được chứ? Mạc Lan ước giá mà cô có thể hỏi câu đó; trạm dừng chỉ cách khu tập thể mười phút đi bộ, mà giờ giấc cũng chưa muộn đến mức có thể xảy ra điều gì bất trắc. Nhưng cô vẫn đồng ý, và hứa rằng sẽ bảo đảm mọi chuyện suôn sẻ cả.
Lúc xuống xe, Như Ngọc trông có vẻ mệt mỏi, nhưng khi Mạc Lan bảo cô nhảy lên yên sau, cô chỉ lắc đầu. “Cậu cứ về nhà đi,” cô nói. “Tôi sẽ đi bộ.”
Mạc Lan nói đằng nào cô cũng không vội. Cô dắt xe đạp đi cạnh Như Ngọc, trong bụng biết rõ rằng hẳn Như Ngọc thấy cô là kẻ phiền phức lắm. Sau một lúc im lặng, Mạc Lan hỏi Như Ngọc nghĩ gì về trường đại học họ vừa đến thăm.
“Cậu nghĩ sao?” Như Ngọc hỏi.
“Khuôn viên đẹp quá, phải không?” Mạc Lan hỏi. Thấy Như Ngọc không nói gì thêm, Mạc Lan nói tiếp, “Nếu như sau khi tốt nghiệp cấp ba, tất cả chúng ta cùng được vào đó học thì chắc sẽ tuyệt lắm nhỉ?”
“Cậu thực sự nghĩ thế à?” Như Ngọc chợt dừng lại, quay sang hỏi Mạc Lan.
Cô nghĩ sao về điều gì - đó là một câu hỏi mà cô không còn có thể tự tin trả lời nữa. Mạc Lan chợt nhận ra rằng khi người ta hỏi ý kiến cô, họ đâu có thực sự muốn nghe cô nói. “Tại sao cậu lại muốn tham quan phòng thí nghiệm?” Mạc Lan hỏi.
“Tại sao cậu lại hỏi thế?”
“Tôi không biết. Tôi tưởng cậu sẽ thích tham quan khuôn viên trường kia. Không ngờ là cậu lại thích phòng thí nghiệm hóa học.”
“Nhưng chúng ta cũng được thấy khuôn viên trường rồi mà.”
Nhưng Như Ngọc lại không đòi tới thăm nơi nghiên cứu của bố Bá Dương, một chuyên gia trong lĩnh vực vật lý năng lượng cao; tuy nhiên Mạc Lan không muốn nói ra điều này chỉ để gây mâu thuẫn. Họ song song bước trên đường, chân giẫm lên những chiếc lá khô kêu lạo xạo.
“Cậu nghĩ người ta sẽ đi về đâu sau khi chết?” Như Ngọc hỏi khi đến đoạn rẽ sang đường khác.
Mạc Lan dừng lại, quay sang nhìn Như Ngọc. Đôi mắt cô trong sáng, và không toát ra nét lạnh lùng vẫn khiến Mạc Lan sợ hãi. Cô cảm thấy Như Ngọc đang có tâm trạng thoải mái để nói chuyện, nhưng cô lại đang mệt, chỉ muốn về nhà nằm cuộn mình trên giường. “Tôi không nghĩ là họ sẽ đi đâu cả,” cô nói. “Họ được hỏa thiêu, và thế là hết.”
“Nhưng điều đó chỉ đúng với những người vô thần các cậu thôi.”
“Cậu có...” Mạc Lan nhớ lại câu hỏi mà cô chưa từng dám hỏi trước đây. “Cậu có theo đạo không?”
“Sao, vì các bà dì tôi theo đạo à?”
“Vậy thì vì sao cậu lại hỏi câu đó chứ? Cậu nghĩ người ta khi chết sẽ đi về đâu?”
“Không đâu cả,” Như Ngọc nói, sự mệt mỏi trong giọng nói của cô khiến Mạc Lan liên tưởng đến một phụ nữ luống tuổi. Cô đã thấy sự mệt mỏi ở những người như Dì và mẹ cô, những người bị khuất phục trước nỗi lo cơm áo gạo tiền hay những đối xử bất công ở nơi làm việc cùng nhiều thứ nữa. “Cậu ổn không?” Mạc Lan hỏi.
“Sao tôi lại không ổn chứ?”
“Nhưng chắc phải có gì đó thì cậu mới hỏi vậy chứ,” Mạc Lan nói. “Về chuyện người ta chết ấy.”
“Người ta chết là chuyện bình thường mà. Ông của Tiểu Ái chẳng sớm thì muộn cũng chết. Ngày nào đó các bà dì tôi cũng sẽ chết. Bất kỳ ai cũng có thể chết bất kỳ lúc nào. Ngay cả người trẻ. Ngay cả cậu và tôi. Ngày hôm nay. Ngày mai. Ai mà biết được chứ.”
Mạc Lan rùng mình. Cả hai đã dừng lại lúc nào không hay dưới một cây thích hòe lâu năm, trời lúc này đã quá tối để có thể xác định xem lá cây đã ngả sang màu gì hay bao lâu nữa thì chúng rụng khỏi cành - tán lá che họ khỏi bầu trời trong và sâu thăm thẳm trên cao. Những con dế mùa thu kêu rền rĩ trong các bụi cỏ và trong cả kẽ nứt của bức tường xây dọc lối đi. Từ ngôi nhà ở khu tập thể lân cận vọng ra tiếng một đoạn quảng cáo cho hãng cà phê hòa tan Maxwell House đang phát trên ti vi, một thương hiệu mới vừa được nhập khẩu vào trong nước. Tiếp đến là đoạn quảng cáo cho hãng cà phê hòa tan Nestlé, cũng là một thương hiệu mới vào. Nếu nhắm mắt lại, Mạc Lan có thể mường tượng ra cảnh khói bốc lên từ những cốc cà phê ở cả hai đoạn quảng cáo, các nữ diễn viên trong đó hít những hơi thật sâu, thật mơ mộng. Nhưng mùi cà phê thế nào nhỉ? Không gia đình nào trong khu tập thể này chịu vung tiền ra để mua một lọ cà phê của cả hai thương hiệu trên, chỉ đến khi đó Mạc Lan mới nhận ra rằng cô chưa từng thắc mắc điều gì đã khiến những nữ diễn viên kia trông hạnh phúc đến vậy. Bao nhiêu người xem những chương trình quảng cáo đó và biết được hương thơm của cà phê? Có lẽ hạnh phúc cũng như vậy, trông nó thật hơn khi được người khác lên kịch bản và diễn xuất.
Bài hát chủ đề của một chương trình truyền hình nổi tiếng xuất hiện sau đoạn quảng cáo của Nestlé. Hẳn là lúc này bố mẹ Mạc Lan đang ngồi xem và thắc mắc với nhau có điều gì trên đời này lại khiến cô bỏ lỡ chương trình này. “Cậu có,” Mạc Lan lên tiếng định hỏi, ngập ngừng một lát rồi mới thu hết can đảm để nói tiếp, “cậu có lấy cái gì từ phòng thí nghiệm không?”
Như Ngọc bình thản nhìn Mạc Lan dò xét. Cuối cùng cô nói, “Chắc là bố mẹ cậu đã dạy dỗ cậu rất tốt, nên cậu mới không dùng từ ăn trộm .”
“Vậy là cậu có lấy, đúng không?”
“Cậu có trông thấy tôi làm gì không?”
“Không, nhưng tôi nghĩ...”
“Nếu không tận mắt chứng kiến, cậu không có quyền nói cậu nghĩ gì được cả,” Như Ngọc nói. “Cậu nghĩ gì hay bất kỳ ai nghĩ gì không quan trọng.”
“Nhưng cậu sẽ nói cho tôi biết chứ?”
Như Ngọc lắc đầu. “Nói cho cậu thì ích gì?” Cô hạ giọng nói khẽ, nhưng thay vì nét mỉa mai mà Mạc Lan đã chuẩn bị sẵn tinh thần đón nhận, những lời nói của cô dường như lại hàm chứa một nỗi buồn mà Mạc Lan chưa từng nghĩ rằng Như Ngọc sẽ có khả năng thể hiện với người khác.
“Cậu đã lấy cái gì vậy?” Mạc Lan nhẹ nhàng hỏi.
Như Ngọc nhìn xuống mũi giày, và khi cô ngẩng đầu lên trở lại, nét buồn bã kia đã biến mất. “Cậu có định kể với Bá Dương về sự nghi ngờ của cậu không?” Như Ngọc nói và cười khẩy.
Mạc Lan cảm thấy một cơn đau nhói mà cô chưa từng có trước đây. Nếu là ngày hôm qua, có lẽ cô đã đạp xe vào thành phố, tìm cho bằng được bốt điện thoại nào còn mở cửa vào giờ này và quay số nhà bố mẹ Bá Dương; cô sẽ chịu hàng loạt những câu hỏi của họ chỉ để được nói chuyện với anh, kể cho anh nghe về những điều cô lo lắng, nhưng tất cả, sau ngày hôm nay, đều đã trở thành bất khả. Cô có thể nói gì với anh đây, rằng cô gái mà anh yêu đã lấy trộm gì đó của mẹ anh sao? Nhưng tại sao chứ, anh sẽ hỏi thế, và sao cô lại biết được? - Và Mạc Lan sẽ không biết trả lời ra sao. Như Ngọc nói đúng. Mạc Lan không nhìn thấy gì cả, nên cô không có quyền tuyên bố mình biết gì cả. Bá Dương sẽ tự lắc đầu với chính mình, anh quá rộng lượng để nói rằng mình thất vọng vì cô, rằng sự nghi ngờ vô căn cứ của cô chỉ xuất phát từ cái nơi không mấy hay ho là lòng ghen tị, chính nó đã dung dưỡng cho trí tưởng tượng đen tối. Ý nghĩ phải sống trong sự thất vọng của người khác, mà trong trường hợp này là sự thất vọng của Bá Dương, khiến Mạc Lan hoảng sợ. Cô nhìn Như Ngọc với vẻ nài nỉ. “Tôi sẽ không nói gì với cậu ấy nếu cậu muốn thế.”
“Nhưng việc cậu có nói gì với cậu ấy hay không đâu có can hệ gì đến tôi,” Như Ngọc nói. “Cậu không thể nói cậu đã làm hay không làm gì chỉ để tôi vui lòng. Chẳng phải thế sao?”
Sự bồn chồn trấn áp Mạc Lan. “Tôi sẽ không kể cho cậu ấy. Đó là quyết định của tôi,” cô nói.
“Vậy thì thôi,” Như Ngọc nói. “Ta quay lại được chưa? Muộn rồi.”
“Nhưng khoan đã. Chúng ta chưa về được,” Mạc Lan nói. “Sao cậu lại lấy thứ gì đó từ phòng thí nghiệm? Cậu định làm gì với nó?”
“Nếu tôi nói mình không lấy cái gì, liệu cậu có tin tôi và quên chuyện này đi không?”
Mạc Lan hít một hơi thật sâu nhưng không cảm thấy trấn tĩnh hơn chút nào. “Không,” cô nói. “Tôi không thể.”
Như Ngọc mỉm cười. “Người ta muốn có thứ này thứ kia vì nhiều lý do lắm. Có người muốn tiền để mua các thứ; có người muốn tiền nhưng họ không bao giờ tiêu pha. Có người muốn kẻ khác trở thành tài sản của mình; có người muốn trở thành tài sản của kẻ khác,” cô nói. “Nếu sự tưởng tượng của cậu là đúng, vậy cậu có nghĩ rằng tôi chỉ muốn thứ gì đó có thể giúp tôi cảm thấy tốt hơn?”
“Nhưng như thế nào chứ?” Mạc Lan nói, đầu óc bùng nhùng trong nỗi sợ rằng hoặc là cô, hoặc là Như Ngọc đang bị loạn trí. “Cậu không có ý định tự tử đấy chứ?”
Đôi mắt Như Ngọc, lơ đãng trong thoáng chốc, rồi nheo lại với vẻ mỉa mai. “Tôi không biết làm sao cậu có thể nghĩ ra cái ý tưởng ngớ ngẩn ấy được, Mạc Lan ạ.”
Mới buổi sáng hôm đó cô còn là một con người hoàn toàn khác, Mạc Lan nghĩ; cô có thấy buồn, nhưng nỗi buồn đó chẳng qua chỉ là tâm trạng của một cô gái. Ngay cả lúc ngồi trong văn phòng với Bá Dương, ngắm bầu trời thay đổi màu sắc, cô vẫn còn là con người đó, buồn hơn, nhưng không mảy may băn khoăn về cuộc đời. Giữa lúc đó và bây giờ, điều đã từng xảy ra không còn nữa, nhưng sự thay đổi này diễn ra như thế nào và tại sao, cô không biết.
“Cậu lo lắng à?” Như Ngọc hỏi. “Cậu định nói với tất cả những người lớn để cảnh báo họ à? Sự thật là, nếu người nào đã muốn tự tử thì cậu không thể làm gì được đâu. Nhưng chí ít cậu cũng nên biết rằng tự tử, theo các bà dì tôi, là một tội lỗi. Không có sự chuộc tội nào dành cho những kẻ như vậy.”
Những từ như tội lỗi và chuộc tội không tồn tại trong vốn từ vựng của Mạc Lan. Cô không biết một nửa những gì Như Ngọc biết về cuộc đời, bây giờ liệu đã quá muộn rồi chăng? “Cậu thấy không hạnh phúc à?” Mạc Lan hỏi, cố gắng lái cuộc nói chuyện theo hướng bớt gay gắt hơn.
“Cậu biết không, tôi để ý thấy rằng cậu luôn hỏi mọi người xem họ có hạnh phúc hay không.”
Thật sao? Mạc Lan chột dạ. Cô không để ý chuyện đó, nhưng có lẽ đúng là cô có thói quen ấy thật. Thi thoảng khi thấy một đứa trẻ hàng xóm khóc, câu hỏi đầu tiên của cô sẽ là sao em buồn vậy?
“Tôi không nghĩ người ta lại đi hỏi câu đó,” Như Ngọc nói.
“Không ư?”
“Chưa ai từng hỏi tôi câu đó,” Như Ngọc nói. “Cậu là người đầu tiên, và cũng là duy nhất. Nếu cậu chịu nghĩ - tôi không có ý làm tổn thương cậu đâu, Mạc Lan - nhưng nếu cậu chịu nghĩ về việc đó, thì đó là câu hỏi vô dụng nhất. Nếu người ta nói có, tôi hạnh phúc, vậy thì rồi sao?”
“Thì tôi sẽ thấy mừng cho họ.”
“Còn nếu họ không hạnh phúc thì sao?”
“Nếu họ không hạnh phúc, tôi sẽ cố gắng thay đổi điều đó,” Mạc Lan nói.
Như Ngọc nhìn Mạc Lan như người ta nhìn vào một con chim non bị một con mèo hoang ăn dở, lòng thông cảm và sự ghê tởm dường như hòa quyện vào nhau thành một thứ bất phân biệt hình hài. Như Ngọc không nói thêm gì nữa, cô bước tiếp.
Bị buộc phải hiểu về sự ngớ ngẩn của chính mình như vậy chẳng khác gì đâm đầu vào một bức tường mà cô chưa từng biết nó tồn tại ở đó. Nỗi đau này buốt nhọn đến mức Mạc Lan thấy phải thở gấp để nó dịu xuống.