Josef gọi một ly cà phê đen, mà rồi anh cũng không động vào, chỉ ngồi nhìn Mạc Lan ăn món trứng và bánh mì nướng. Cô biết rằng việc mình lo lắng thái quá lại thừa rồi. Tối trước đó, khi cô gọi cho Josef từ sân bay, anh gợi ý một bữa tối đơn giản, nhưng cô gạt đi, vì cô tới không phải để làm khách hay để chờ người chăm sóc. Cô hỏi kế hoạch ngày hôm sau của anh là gì, và anh nói buổi sáng phải tới bệnh viện. Cô nói sẽ đến đón anh và tự ra quyết định cho hai người như cô vẫn quyết định mọi bữa trưa sinh nhật trước đó.
Josef nói căng tin bệnh viện giờ này sẽ chán lắm, nên cô đồng ý tới một quán cà phê gần đó để ăn sáng. Nhưng bây giờ - quá muộn như thường lệ - cô chợt nhận ra rằng anh không thể ăn được gì: ngày hôm nay anh còn một buổi truyền hóa chất nữa; với tất cả sự chu đáo của mình, làm sao cô lại có thể quên rằng với một thị trấn nhỏ như thế này, người ta không cần phải đi sớm hai giờ cho một cuộc hẹn?
Nhưng Josef vẫn chăm chú nhìn cô ăn như thể không có gì bất thường cả. Bộ comple của anh rộng ra, thùng thình; cặp má phúng phính hồng hào mà trước đây cô vẫn âu yếm gọi là má “Phật” giờ đã trở nên vàng bủng, làn da nhăn nheo bám trên khung xương lồi lõm. Anh di chuyển chậm hơn trước rất nhiều, nhưng vẫn giữ được phong thái. Cô tự hỏi không biết xương và các khớp có khiến anh khó chịu không, và đó là do căn bệnh hay do các đợt hóa trị liệu - mà điều đó có gì quan trọng chứ? Anh vẫn thẳng lưng khi ngồi cạnh cô trong xe, cũng không thõng người xuống sau khi cô phục vụ bàn đã mang đến phần ăn họ đặt. Anh là người sẽ chào đón tử thần với phong thái hoàn hảo, sẽ bắt tay, cảm ơn hắn đã mất công tới đón, rồi sau khi đã thu xếp mọi chuyện sau này ổn thỏa, chào tạm biệt gia đình, bạn bè rồi lên đường. “Thật chẳng ra sao khi ngồi đợi ở đây,” cô nói, trong lòng bỗng thấy bất an khi biết rằng đích đến tối chung của anh không còn là giả định nữa. “Lần sau chúng ta sẽ rời nhà đúng giờ thôi.”
“Đây là lần duy nhất anh đi khi có em ở đây,” Josef nói. “Nên đừng lo về lần sau nữa. À, Rachel gửi lời cảm ơn vì em đã tới giúp anh hôm nay.”
Mạc Lan biết, anh đang muốn gợi ý cho cô hỏi về Rachel, về mấy đứa nhóc, về anh chị em của Rachel và con cái họ. Trước đây, trong các bữa trưa sinh nhật, Mạc Lan và Josef đều rôm rả chuyện trò, mỗi người đều nghĩ ra những đề tài mới trước khi sự yên lặng xen vào: anh sẽ nói về những buổi hòa nhạc của dàn nhạc trong thị trấn mà anh đã tham dự, những dự án xây dựng trong thành phố, về con cái anh, những đứa cháu; cô thì kể về những sản phẩm mới ở công ty, màu cô mới sơn cho căn phòng ngủ của mình, những chậu thảo mộc cô đang trồng trên bậu cửa. Điều cô không làm được trong cuộc hôn nhân của họ, dường như đã bù đắp được sau ly hôn, ít nhất mỗi năm một lần: đưa sự hứng thú vào những chuyện vặt vãnh. Cần phải có lòng dũng cảm để tìm thấy sự khuây khỏa trong những điều vặt vãnh, và cần phải có sự cương quyết không để những điều vặt vãnh chiếm lĩnh cuộc sống của mình. Nhưng lúc này, những điều vặt vãnh có thể chờ tính sau, hoặc có thể bỏ quách đi luôn cũng được. “Sẽ có lần sau mà,” cô nói. “Em sẽ quay về.”
“Quay về đâu hả Mạc Lan?”
Phải chăng cô vừa nhận ra sự nghi ngờ hay thậm chí là nỗi hoảng sợ, dẫu chỉ thoáng qua, trong mắt anh? Ngôi nhà mà cô từng biết là của họ - trước đó là của anh và Alena - đã được sửa sang lại và bán đi hai năm về trước. Việc Josef chuyển sang chung cư ở, vào thời điểm đó cô đã biết, sẽ chỉ là sự khởi đầu cho một loạt những thay đổi khác, mà mỗi sự đổi thay sẽ càng thu hẹp thế giới của anh thêm nữa. Thật nhỉ, quay về đâu chứ? Nhưng có lẽ câu hỏi phù hợp hơn phải là quay về thời điểm nào? Suốt những năm qua, cô vẫn chưa đưa cho Josef bằng chứng nào về sự ổn định trong cuộc sống của mình: một cuộc hôn nhân mới, một cảm tình mới, một mối quan hệ, bất kỳ điều gì có thể chấm dứt nghi lễ sinh nhật của họ. Cô thật tử tế vì đã đến, năm nào anh cũng nói vậy, niềm hân hoan và lòng biết ơn của anh là có thật, bởi cô là người sắp xếp lại cuộc sống của mình mỗi năm một lần vì anh. Nhưng Mạc Lan ngờ rằng anh chỉ nói thế vì muốn tốt cho cô - bởi nếu không thế thì cuộc sống của anh vẫn sẽ như vậy, con cháu anh mang đến một thực tế vững chắc cho những kỷ niệm của anh về Alena, những kỷ niệm sẽ được trau chuốt thành hoàn hảo theo thời gian. Nếu Josef không dành một chỗ cho cô nghỉ chân, cô sẽ là một chú chim tội nghiệp, chẳng may bị lạc đường trong cuộc di trú từ năm này sang năm khác. Thực vậy, quay về thời điểm nào đây: về cái khoảnh khắc cô yêu cầu ly hôn, hay sớm hơn, khi cô đã thuyết phục được mình tin rằng một người đàn ông với trái tim đôn hậu sẽ dành cho cô một vị trí trong cuộc đời, hay thậm chí là sớm hơn nữa, khi họ lần đầu cảm thấy quyến luyến nhau?
“Anh đừng lo. Em sẽ không xông vào phòng khách nhà anh mà ở như khách không mời đâu. Em sẽ không ngáng đường khi con anh tới thăm đâu. Ôi, đừng, anh đừng có mà lo lắng đấy, Josef,” Mạc Lan nói mà lòng như thắt lại từng cơn. Cô đã định tìm dịp thích hợp để cho anh biết kế hoạch của mình, nhưng trước khi vào bữa sáng năm phút, cô đã để lạc mất chiến lược. Cô không đủ dũng khí để mở lời nói rằng chắc rồi sẽ đến lúc anh cần đến một người lái xe, một bàn tay để nắm khi đi trên vỉa hè đóng băng, một người để lắng nghe anh kể lại những kỷ niệm xưa cũ khi giấc ngủ ngoan cố không chịu đến, một người biết yêu trái tim đôn hậu của anh.
Josef lặng yên, rồi nói thật mừng vì sau khi đã có chút gì ấm bụng, cô đã trở về là Mạc Lan ngày xưa.
Ý Josef là khi ở bên anh, cô thường dễ nổi cáu và mất kiên nhẫn, một phần tính cách của cô mà không ai khác được phép thấy. Đối với thế giới, cô giống hệt Josef: điềm tĩnh theo kiểu ngày xưa. Cô thích tưởng tượng rằng cô mang theo mình điều gì đó tốt đẹp ở anh, tuy thi thoảng cô ngờ ngợ rằng mình thuộc tuýp người cứ đeo bám lấy những điều vốn không thuộc về bản chất rồi tìm mọi cách biến chúng thành của mình: ngày xửa ngày xưa thì là sự sôi nổi đầy lãng mạn của Tiểu Ái về những bất công và sự thờ ơ của Bá Dương đối với tất cả những thứ rắc rối. (Làm sao mà hai nét tính cách ấy có thể dung hòa vào trong cô được nhỉ? Mạc Lan băn khoăn, nhưng chuyện dường như đã quá lâu rồi, cô không còn hiểu được nữa.) Rồi còn có cả cái bất khả xâm phạm của Như Ngọc nữa, một vẻ dửng dưng xa lạ, vậy mà suốt nhiều năm Mạc Lan đã cố gắng đạt được điều đó, như thể khi làm cho mình giống Như Ngọc, cô sẽ có thể ít nhất là có được một phần nhỏ trong cái bất khả tổn hại của Như Ngọc. Nhưng làm thế nào để phân biệt đâu là nơi bản ngã thực sự của mình dừng lại và nhường chỗ cho những bản ngã vay mượn? Cho tới bây giờ, Mạc Lan thi thoảng vẫn choàng tỉnh dậy giữa những cơn mơ trong đó cô cười đùa thật vui vẻ. Thường thì trong những giấc mơ đó sẽ có Bá Dương, đôi khi cả Như Ngọc nữa, và khung cảnh xung quanh, dẫu mờ nhạt, chắc chắn là một trong những địa điểm yêu thích của cô ở Bắc Kinh; trong những khoảnh khắc đầu tiên sau khi tỉnh dậy, niềm hân hoan rất đỗi tự nhiên và không bị ràng buộc đó, như dư vị phảng phất của những đóa thích hòe mà họ đã ăn khi còn nhỏ, là rất thật, cho đến khi cô nhớ ra rằng mình không còn là người có điều gì đó để cười, hay có ai đó để chia sẻ niềm vui. Sự thất vong tột độ dường như là một bài học không ai có thể nắm vững: dù chuyện đó đã xảy ra vô số lần, song cái thực tế ấy vẫn đấm thẳng vào mặt cô hệt như một cơn bạo bệnh về thể lý, và trong giây lát, cô choáng váng, tự hỏi tại sao cuộc đời cô lại không biến thành một nơi dành cho niềm hạnh phúc ấy.
“Anh có làm em phật ý không?” Josef hỏi.
Luôn nhanh nhẹn thừa nhận sai lầm, luôn sẵn sàng xin lỗi - cả hai người họ đều như vậy. Làm sao hai con người như thế có thể duy trì một cuộc hôn nhân, thứ đòi hỏi một sự điên rồ nhất định nào đó? “Em nói thật đấy, Josef,” Mạc Lan nói. “Em sẽ quay về đây.”
“Tại sao?”
“Đó,” cô nhìn thẳng vào mắt Josef, “là một câu hỏi ngớ ngẩn.”
“Nhưng còn công việc của em thì sao?”
Để anh đỡ áy náy, cô có thể nói rằng mình đã thu xếp một kỳ nghỉ phép, nhưng sự thực là cô không bao giờ nói dối anh. Chuyện đó cũng không có gì đáng kể, cô biết: người ta có thể kiềm chế nhiều thứ và xây một bức tường rào quanh mình; người ta có thể có một bãi tha ma của những kỷ niệm chết mà không cần nói một lời. Nhưng chí ít, cô cũng cương quyết về việc mang lại cho anh thứ tình yêu mà cô chưa từng dành cho ai: thật hiếm khi người ta gặp được ai đó và rồi quyết định sẽ không bao giờ nói dối họ. “Em sẽ bỏ việc,” cô nói. “Đừng, em xin anh đấy, Josef, đừng cố thuyết phục em làm gì. Dù sao nó cũng chỉ là một công việc thôi mà.”
“Và em định làm gì ở đây?”
“Chuyện đó có thể quyết định sau,” Mạc Lan nói. “Trừ khi anh kịch liệt phản đối việc này.”
“Đây là đất nước tự do mà,” Josef thở dài.
“Liệu như thế có khiến anh khó xử với các con không? Liệu chúng có phản đối không?”
“Em không thể thay đổi cuộc sống của mình lúc này chỉ vì anh được.”
“Sao lại không thể vì cả em nữa chứ?” Cô nói bằng giọng rất nhỏ, không chắc là anh đã nghe thấy. Cuộc sống của cô như cách anh gọi thực chất chỉ là phương thức phủ định sự sống, và khi làm như vậy, cô đã mang phần đời của những người khác đi đó đây, biến chúng thành trống rỗng cùng với cuộc sống của cô.
Quán cà phê bắt đầu đông, hơi ấm của người cùng những niềm hạnh phúc thường nhật của họ lan dần. Hôm đó là thứ Tư. Có lẽ đây là ngày hẹn hò trong tuần của bốn bà cụ tóc muối tiêu ngồi cách đó hai bàn đang rôm rả chuyện trò, và của hai bà mẹ trẻ ngồi cạnh cửa sổ đang chia sẻ với nhau những vui buồn trong cuộc sống làm mẹ, những đứa trẻ say sưa nằm ngủ trong xe đẩy bên cạnh họ. Vài cặp đôi bước vào, tất cả đều trạc tuổi Josef, khiến Mạc Lan chột dạ, sợ gặp phải bạn bè anh, nhưng anh chỉ cười chào họ một cách thân thiện xã giao như với người lạ. Ngoại trừ hai cô gái độ tuổi đại học đang miệt mài làm bài tập bên tách cà phê, quán cà phê này dường như là nơi dành cho những người hoặc là đang ở vào đầu câu chuyện hoặc là, hợp lý hơn, vào cuối câu chuyện. Ngay cả hai cô gái đó, xét từ góc độ nào đó, cũng mới chỉ vừa bắt đầu. Cái mà người ta không tìm thấy ở một nơi như thế này là một người nào đó đang ở giữa chừng câu chuyện - nhưng có lẽ những người đó, như chính Mạc Lan một tuần trước đây, không có cái xa xỉ của sự nhàn tản vào một buổi sáng như thế. Giờ này có lẽ họ đang ngồi trong một ngăn làm việc nào đó nơi công sở, an toàn trong sự gò bó; thi thoảng họ sẽ nhìn lên trần nhà, một ký ức đã lãng quên từ thời thơ ấu hay một hình ảnh xa lạ về tuổi già sắp tới chợt thấp thoáng hiện lên trong trí óc họ, như cái bóng vụt qua của một con chim đang bay, trước khi những suy nghĩ của họ lại bị đóng khung vào hiện tại trước mắt. Không, để có thể ở giữa, đòi hỏi người ta phải thực tế kia: một người không từ bỏ một công việc ổn định; một người không có kỳ tạm nghỉ khỏi cuộc sống. Nhưng liệu có phải vị trí thực sự của cô là ở giữa không - không có tương lai nào để trông ngóng, liệu cô, bất chấp tuổi tác của mình, có phải đã ở phần cuối rồi?
“Em định tìm việc ở đây à?” Josef hỏi.
“Với điều kiện công việc phải linh động,” Mạc Lan nói. “Dù có thể không phải là việc tạm thời.”
“Thế em định dành thời gian làm gì?”
“Em quay về để được ở gần anh. Trừ khi...” Cô ngập ngừng, một nỗi sợ bất chợt dấy lên. “Trừ khi bây giờ anh đã có bạn gái rồi. Em không muốn gây phiền hà.”
“Nếu có thì anh đã kể cho em nghe rồi,” anh nói. Trước đây họ vẫn tránh nhắc đến đề tài này, nhưng cuối mỗi cuộc gặp, họ vẫn luôn tìm được cách thông báo cho nhau về đời sống tình cảm, hay thiếu tình cảm, của mình. Anh đã hẹn hò với một người phụ nữ được một thời gian, nhưng vào dịp Mạc Lan tới trong ngày sinh nhật tiếp theo của anh, mối quan hệ này đã chấm dứt. Còn một vài mối quan tâm khác nữa, nhưng rồi cũng không có gì nảy nở giữa họ cả, có lẽ với anh đó là sự thất vọng, nhưng mỗi lần nghe tin cô đều thấy mừng thầm, tuy không khỏi thấy áy náy vì sự mừng thầm đó.
“Vậy thì tại sao anh lại từ chối lời đề nghị của em thế?”
“Chẳng phải nếu là em thì em cũng sẽ từ chối sao?”
“Không.”
“Nhưng em sẽ từ chối mà, Mạc Lan,” Josef dịu dàng nói. “Em biết em sẽ thế mà.”
“Ở Trung Quốc có câu chuyện cổ này. Một người thợ rèn khoe khoang rằng anh ta vừa chế tạo được mũi mâu sắc nhất trần đời, có thể đâm thủng mọi loại thuẫn; rồi anh ta lại khoe khoang rằng anh ta vừa chế tạo được chiếc thuẫn cứng nhất, không loại mâu nào có thể đâm thủng.”
“Và người ta yêu cầu anh ta thử nghiệm hai sản phẩm của mình với nhau hả?” Josef hỏi.
“Ý hay lắm, Josef của em,” Mạc Lan nói. “Nhưng em nghĩ bài học rút ra ở đây là mỗi người trong chúng ta đều có những thiếu sót trong tư duy của mình, không nên lợi dụng điều đó ở người khác. Việc em sẽ làm gì nếu em là anh đâu có gì quan trọng. Điều quan trọng là em sẽ quyết định ra sao nếu em là chính em.”
“Dĩ nhiên, sẽ thật... tuyệt nếu được gặp em thường xuyên hơn.”
“Vậy thì tại sao chúng ta không chốt việc này đi?”
“Nhưng anh có ở đây mãi đâu.”
Tất nhiên, Josef sẽ là người nhắc cho cô nhớ về một thực tế mà cô chưa từng quên. “Chẳng phải như thế càng có thêm lý do để em quay về sao?” Cô nói, và đột ngột gọi người phục vụ đang đi qua lấy hóa đơn cho họ.
“Chúng ta vẫn còn thời gian mà,” Josef nói.
“Anh không thấy là em chẳng muốn làm con ngốc mà ngồi khóc ở đây sao?” Cô ngắt lời, rồi tựa mặt vào hai tay, tự dặn lòng không được để trượt kỳ kiểm tra đầu tiên của mình. Anh không cần một người phụ nữ sướt mướt; đối diện với cái chết, anh mới là người vô vọng hơn cô kia mà.
Người phục vụ mang biên lai đến. Mạc Lan vẫn ngồi yên, để Josef tự xử lý. Khi anh hỏi cô đã sẵn sàng đi được chưa, cô hít một hơi thật sâu rồi ngước nhìn lên. Nỗ lực kìm nước mắt đã vắt kiệt sức lực của cô, nhưng cô thấy mừng rằng con đập nước bên trong cô vẫn chưa vỡ. “Này, anh bỏ cái vẻ lo lắng ấy đi,” cô nói. “Em không đến đây để gây bê bối cho thanh danh của anh đâu.”
“Người đàn ông độ tuổi bảy mươi dọa vợ cũ đang tới thăm đến khóc ở nơi công cộng,” Josef nói. “Không, không, chúng ta sẽ không muốn đọc những tin đó trên báo đâu.”
“Nhưng người vợ cũ sắp không còn đến thăm nữa,” Mạc Lan nói. “Tin quan trọng là, cô ta sắp quay về ám ảnh anh ta.”
Josef làm điệu bộ giả như anh vừa bị ánh đèn pha chiếu vào, hai tay giơ lên nửa chừng, cố che lấy khuôn mặt, lúc này chợt đỏ bừng lên vì cử chỉ đột ngột đó. Trong phút chốc, cả hai cùng quay trở lại thời kỳ hạnh phúc xưa kia, khi anh khiến cô phì cười vì mấy trò ứng biến đột ngột như thế. Liệu những giây phút như thế này, Mạc Lan băn khoăn, có đủ để được gọi là hạnh phúc vào lúc muộn mằn này trong câu chuyện của họ không?
Sau đó, khi cô chở Josef về nhà, anh hỏi cô có muốn lên phòng ngồi chơi một lát không. Cô lưỡng lự, rồi nói rằng cô muốn để anh nghỉ ngơi. Cô muốn lên vài cuộc hẹn để đến xem một vài chỗ cho thuê nhà kẻo mọi người sắp rời thị trấn để đi nghỉ dịp Lễ Tạ ơn.
“Mạc Lan, ngớ ngẩn thế đủ rồi. Chúng ta không nhắc đến chuyện này nữa.”
“Tại sao chứ?” Cô hỏi. Trong giọng nói của anh cô nhận ra cái mệt mỏi của một người đã quá rệu rã, không thiết quan tâm đến lời ăn tiếng nói của mình nữa.
“Cả em và anh đều biết rõ rằng em không nên bỏ việc.”
Cô băn khoăn liệu có phải chuyến đến bệnh viện vừa rồi đã làm anh thay đổi ý định. Anh giới thiệu với cô y tá rằng Mạc Lan là bạn anh, trước khi họ ra về, cô y tá còn hỏi thăm về Rachel và gia đình con bé. Phải chăng cuộc sống của anh đã có một nhịp điệu ổn định rồi, và anh không muốn sự trở lại của cô làm xáo trộn nó? Hay là thời gian của anh, lúc này đã ngày càng trở nên eo hẹp, không còn thừa chỗ cho cô?
“Như thế là quá đáng với anh à? Em sẽ cướp anh khỏi gia đình và bạn bè anh sao?” Cô hỏi, siết chặt tay vào vô lăng, dù rằng lúc này cô đã đậu xe, vào ngay chính giữa hai vạch kẻ, như anh đã dạy ngày trước.
“Em biết lý do không phải là thế mà.”
“Thế thì là gì?”
“Em vẫn còn một nửa cuộc đời để sống.”
“Tại sao quay trở về đây lại không thể là một phần trong cái nửa ấy?” Cô hỏi. Khuôn mặt anh tái đi, trong ốm yếu hơn hẳn lúc trước; có lẽ anh đã kiệt sức sau khi dành cả buổi sáng bên cô. Nhỡ cô, dẫu có ý định tốt, lại chỉ là một chất độc đối với anh thì sao?
“Em biết anh rất hạnh phúc khi em đến đây mà,” Josef nói. “Anh còn quá vui mừng khi nghe em nói đến chuyện trở về. Nhưng chúng ta không nên nuông chiều bản thân.”
“Biết đâu anh cần có ai đó,” Mạc Lan nói, dẫu trong thâm tâm cô biết rằng vai trò người chăm sóc có thể dễ dàng được một người nào khác đảm nhận: như Rachel chẳng hạn, hoặc những đứa con khác của anh; dưới nữa thì có thể là một y tá được thuê, hoặc nếu không họ có thể chuyển anh từ chung cư sang một cơ sở y tế. Nhiều người trong thế hệ anh đã kết thúc cuộc sống như thế, và anh sẽ lập luận rằng khác biệt cũng chẳng có nghĩa lý gì. “Em bướng bỉnh quá,” Josef nói.
Cô ra khỏi xe, mở cánh cửa phía ghế phụ. “Đi nào,” cô nói, cúi người xuống chìa tay ra đón tay anh. “Em sẽ đưa anh lên nhà vậy.”
Mạc Lan chưa lên căn hộ của Josef lần nào, nhưng một nơi chốn, cũng như con người sống ở đó, có thể trở nên thân thiết với một người ngay lần gặp đầu tiên. Dĩ nhiên, có những đồ vật lấy từ căn nhà cũ: những bức ảnh lồng khung chụp con cái anh và Alena; bức tranh sơn dầu vẽ một ngôi nhà đơn độc trong một trang trại, sơn trắng, trông thấp tè vì những ngọn đồi xanh trập trùng làm nền đằng sau, đây vốn là bức tranh từng được treo trong phòng sinh hoạt chung; chiếc ghế sofa và bàn uống nước, cả hai, theo tính toán trước đây của Mạc Lan, chắc đều trạc tuổi cô, nếu không muốn nói là còn hơn thế. Nhưng hơn cả những đồ vật này, chính cái gọn gàng đơn sơ mới là thứ nhắc cô nhớ về căn nhà của mình. Người ta có thể dễ dàng lần ra dấu vết của một cuộc đời được sống trong niềm cô tịch. Cô dễ dàng nhìn ra những dấu chân, dẫu vô hình: những bước đi tới phòng bếp, phòng tắm, phòng ngủ, tất cả đều được thực hiện vì cần thiết.
Mạc Lan hỏi Josef có muốn đi nằm không, và anh nói ngồi ghế sofa thì dễ chịu hơn. Trên chiếc bàn uống nước, năm viên thuốc gồm ba màu khác nhau đặt trên một chiếc lót cốc, bên cạnh đó là một cốc nước. Mạc Lan hỏi anh có cần uống thuốc bây giờ không, anh nói có, và cảm ơn khi cô đưa thuốc cùng nước cho anh.
Cô hình dung có lẽ anh đã lấy chúng ra từ những lọ thuốc khác nhau - hẳn là trước mỗi lần đi bệnh viện anh đều làm thế này, vì sợ rằng lúc về anh sẽ quên hay cảm thấy quá mệt, không thể lấy thuốc được. Có lẽ trong cuộc sống của mỗi người đều có một lằn ranh giới mà một khi bị bước qua sẽ để lộ một sự thật nào đó mà người ta không thể nhận ra trước đây, biến sự cô tịch từ một sự lựa chọn trở thành trạng thái khả dĩ duy nhất của sự tồn tại. Mạc Lan vẫn luôn nghĩ rằng cô đã bước qua lằn ranh giới ấy từ lâu rồi - nhưng cụ thể là vào khi nào, cô tự hỏi, nhưng không thể tự trả lời. Có thể đó là khi cô tự giải phóng mình khỏi cuộc đời Josef, hoặc sớm hơn nữa, khi cô ngồi trong căn hộ bẩn thỉu đó ở Bắc Kinh, bất động và ngượng ngùng khi nhìn thấy cơ thể quá khổ của Tiểu Ái với những tràng cười vô nghĩa của cô ấy. Nhưng khi đó cô còn quá trẻ để có thể tính lần vượt qua lằn ranh giới đó là một trải nghiệm thực thụ, sự cô tịch của cô, thứ không tự chọn cô mà do cô tự chọn lấy, lại khác với sự cô tịch của Josef: của cô là một cuộc phản kháng, còn của anh lại là một sự đầu hàng.
Josef thiếp đi trên ghế, miệng mở hé, hơi thở ngắn. Mạc Lan lấy chiếc chăn cũ trên ghế nhẹ nhàng đắp lên người anh. Mí mắt anh quá nhợt nhạt - như thể chúng là phần trần truồng của một cơ thể không nên phơi bày - khiến cô phải nhìn đi chỗ khác. Nếu cô đi bây giờ, khi tỉnh dậy anh sẽ thấy nhà trống, sẽ nghĩ cô chỉ là một bóng ma trong cơn mơ. Nếu cô ở lại, khi mở mắt anh sẽ bị mất phương hướng một lát; nhưng dẫu lời đề nghị của cô có nhỏ nhặt đến đâu, hẳn nó cũng tốt hơn là một cơn mơ.
Mạc Lan đi ra phía cửa sổ trổ ra khu đỗ xe. Một người đàn ông, có vẻ là quản lý tòa nhà, đang dỡ những túi đựng đá muối khỏi chiếc xe bán tải. Trước đó, ở quán cà phê, khách ngồi ở hai, ba bàn râm ran trao đổi với nhau về cơn bão tuyết lớn sắp tới mà bản tin dự báo nói sẽ về đến khu vực này vào cuối tuần; họ thắc mắc không biết liệu nó có ảnh hưởng tới việc đi lại vào dịp nghỉ lễ không, nỗi lo lắng về chuyến trở về của con cái họ hằn lên gương mặt những bà cụ. Cả cô y tá, khi tạm biệt Josef, cũng bịu xịu nói rằng họ lại sắp đón một mùa đông dài lê thê nữa, như thể, trong đôi mắt mệt mỏi của cô, những đống tuyết ôi của năm ngoái vẫn xếp hàng dài bên vệ đường, chưa kịp tan.
Mạc Lan nhớ lại niềm hân hoan trong ánh mắt cặp đôi người Thái và hai cậu sinh viên người Ấn Độ từ nhiều năm trước, khi họ lần đầu tiên thấy tuyết rơi; khi họ báo tin này về quê nhà, hẳn nhiều người sẽ thấy ngạc nhiên lắm. Bản thân cô thì không cảm thấy phấn khích như họ. Người ta luôn có thể quay trở về một thời điểm khác trong quá khứ để phủ định hiện tại; chỉ những người dễ xúc cảm và những người non kinh nghiệm - trong trường hợp đó là những người đến từ các vùng nhiệt đới không tuyết - mới đặt tên cho một thời điểm là ký ức . Những ngọn đồi phủ tuyết bên phía tây Hắc Hải; bánh xe đạp của cô trượt trên mặt tuyết cứng, lồi lõm vết xe rồi đâm sầm vào xe của Bá Dương; một đội người tuyết mà họ đã dựng lên thành hàng trong sân trong một đợt bão tuyết dữ dội - nếu muốn, cô luôn có thể gán thêm nhiều ý nghĩa hơn cho những ký ức đó và loại bỏ những ký ức khác.
Nhưng sợi dây liên hệ của cô với miền Trung Tây lại bắt đầu bằng tuyết. Trước khi gặp Josef, cô đã ở Madison trong hai tháng rưỡi, nhưng những ngày đó, cũng như thời gian từ sau khi cô bỏ Josef, đã bị biến thành những vết chân của lũ chim biển trên nền cát ướt, chỉ tồn tại trong khoảng giữa dòng nước và đợt triều xuống. Một người liệu có thể hình thành sự gắn bó với một nơi chốn hay thời điểm mà không cần đến sự tham gia của một người khác? Nếu thế, hẳn nơi chốn hay thời điểm đó phải là nơi hoang vu nhất. Mà Bắc Kinh trong ký ức của cô tồn tại như hai thành phố, một thành phố trước vụ đầu độc Tiểu Ái và một thành phố sau đó, ở cả hai nơi ấy, cô đều không một mình. Dấu ấn ở Quảng Châu, nơi cô theo học đại học bốn năm, là sự thiếu vắng mọi liên hệ giữa cô và bạn bè cũ ở Bắc Kinh, nhưng ngay cả sự thiếu vắng ấy cũng vẫn mang nhiều ý nghĩa: con người, khi vắng mặt, có thể chiếm lĩnh nhiều không gian hơn. Tuy nhiên, cái thị trấn ở Massachusetts nơi Mạc Lan đã sống mười một năm qua lại không mang đến một sự trống rỗng đáng nhớ nào; bằng cách tránh giao du tiếp xúc với mọi người, cô đã biến nơi đó, với những ngày hè ngập nắng gió và những sắc màu tuyệt đẹp của mùa thu, trở thành một cái chấm đơn thuần trên bản đồ, thời gian mà cô trải qua ở đó thu gọn lại thành một ngày dài phi cảm xúc. Không, cô không có sự cô tịch; cái mà cô có là một sự cô lập không có hồi kết.
Tuyết vào ngày Mạc Lan gặp Josef lần đầu nhẹ và có bông, trong khu đỗ xe anh đã đeo găng tay rồi dùng tay quẹt lớp tuyết khỏi cửa kính chắn gió. Anh đã ngỏ lời lái xe đưa cô về khu ký túc xá Westlawn, còn cô thì không biết phải từ chối ra sao, dù rằng cô thích một chuyến đi bộ dài trong bóng chiều chạng vạng với những bông tuyết rơi hơn.
Phải mua thiết bị nạo tuyết mới, anh nói, và khi thấy vẻ bối rối ở cô, anh hỏi cô mọi chuyện có ổn không.
Cô nói mọi chuyện vẫn ổn, nhưng trông anh vẫn rất lo lắng, anh hỏi cơn đau đầu có khiến cô khó chịu không, và cô có cần uống thuốc không. Lẽ ra cô không muốn nói thêm gì nữa, nhưng cô biết nếu không nói thật, cô sẽ khiến một người đàn ông tốt bụng phải lo lắng không cần thiết. Cô trấn an anh rằng mình không sao cả; ngoại trừ một việc, cô không biết ý anh là gì khi anh nói về cái nạo tuyết.
Mối quan hệ của họ - một tình bạn trước khi phát triển thành tình yêu hay vợ chồng - đã bắt đầu từ nơi hầu như không tìm được điểm chung nào giữa hai người. Chính sự chú tâm đã đưa họ đến với nhau. Với Josef, những đồ vật và những quang cảnh từng quen thuộc với anh bỗng trở nên xa lạ. Với Mạc Lan, là nỗ lực tìm kiếm những điều mới mẻ - mà những thứ này vốn không thiếu ở một đất nước mới - để cô có thể thôi không hướng vào nội tâm mình mà tìm kiếm một lời lý giải có thể khiến cho quá khứ gần hơn của cô bớt phần mơ hồ.
Khi ngồi trong xe của Josef vào hôm đó, lần đầu tiên Mạc Lan được quan sát thế giới từ ghế dành cho hành khách. Những tấm biển báo giao thông và những dải phân cách sáng lên dưới ánh rọi của đèn pha như thể chúng đang luân phiên nhau mà hiển hiện; những bông tuyết bay vèo vèo rồi quay mòng mòng đập vào cửa kính chắn gió ở một góc và tốc độ cô chưa từng nghĩ là có thể; bảng điều khiển xe, với những vòng tròn và con số màu xanh neon nhạt - tất cả những thứ đó khiến cô nhìn thế giới ở cận cảnh hơn, việc mà đã lâu quá rồi cô chưa làm. Ở Westland, một vài bạn cùng phòng của cô có ô tô, nhưng Mạc Lan thích đi bộ hơn, cô cũng đã sắp xếp cuộc sống của mình trong vòng bán kính khả dĩ đi bộ được, thi thoảng có thể đi xe buýt: cô đi bộ tới trường, mua đồ ăn ở cửa hàng bách hóa gần đó, vào các dịp cuối tuần thì bắt xe buýt xuống trung tâm thành phố để ngắm các cửa kính bày hàng ở các cửa hiệu và ngắm những người đang mua sắm đằng sau những ô kính ấy. Một lần, cô thực hiện một hành trình mạo hiểm hơn, leo lên một ngọn đồi rồi đi xuống men theo một sườn dốc dài, um tùm cỏ, bước chân cô làm khuấy động lũ côn trùng, gợi cho cô nhớ về những ngày trẻ trung, táo bạo xưa kia, khi còn đi lùng dế và châu chấu voi với Bá Dương. Để ngăn dòng hồi tưởng, cô chạy một mạch xuống chân đồi, rồi khi tới mép đường cao tốc của bang, cô đứng chờ hơn năm phút, cho đến khi hai phía đều vắng xe, cô chạy nước rút ngang qua cả sáu làn để sang bên kia đường, nơi siêu thị mênh mông của Wal-Mart khiến cô phải sửng sốt bởi sự dồi dào mà nó có về tất cả mọi thứ mà một con người cần đến - hay chưa từng hình dung mình sẽ cần đến - để có một cuộc sống tại Mỹ.
“Đây là lần đầu tiên cô thấy tuyết à?” Josef hỏi lúc họ đang chờ đèn xanh. Có lẽ cô đang tròn mắt nhìn mọi thứ, người ngả về phía trước.
Cô nói không, rồi hỏi anh tiếng tít tít từ đâu vọng ra.
“Tiếng động cơ à?” Anh nói, rồi với tay tắt chiếc radio trong xe, lúc này đã biến thành trạm phát nhạc cổ điển với âm lượng thấp. Anh để tai lắng nghe. Lạ nhỉ, anh nói, không có tiếng gì cả. Anh vừa cho xe đi bảo dưỡng cách đây mấy tuần và mọi chuyện có vẻ đều ổn cả.
Hóa ra đó là tiếng của đèn xi nhan, vì sau khi đèn giao thông đổi sang màu xanh và chiếc xe rẽ, âm thanh đó biến mất. Khi bí ẩn nho nhỏ đó được giải quyết, Josef có vẻ sửng sốt thực sự, còn Mạc Lan lại khá hỉ hả trong lòng. Vào đầu học kỳ, cô và các bạn cùng phòng thí nghiệm tham gia một chuyến dã ngoại chào mừng người mới đến; ngồi hàng ghế sau giữa những người bạn Mỹ hoạt ngôn, cô cũng tò mò về âm thanh tít tít ấy nhưng vì ngại nên không dám hỏi.
Mùa đông năm ấy - dài, khắc nghiệt, như mọi người đều đã cảnh báo Mạc Lan - dường như kéo dài ra mãi, kết hợp với nỗ lực tìm hiểu nhau của cả Josef và Mạc Lan, vượt qua khoảng cách tuổi tác, khoảng cách về nguồn gốc xuất thân giữa họ. Mọi điều đều được nói đến hoặc khám phá; mọi thứ đều được nhìn nhận một cách kĩ lưỡng hơn. Tuyết, vốn chỉ đơn thuần là tuyết trong tiếng mẹ đẻ của cô, sinh ra cả một kho từ vựng mới khi Josef kiên nhẫn giải thích tỉ mỉ cho cô về những dạng tuyết khác nhau: bông tuyết, bột tuyết, mưa tuyết, đống tuyết. Các xe cào tuyết rải hỗn hợp cát và muối, đây là một cách làm rất mới đối với cô, vì ở nhà, cách duy nhất để xử lý tuyết là dùng xẻng, đôi khi cả một đơn vị làm việc hay một trường học phải nghỉ nửa ngày để đi dọn tuyết.
Cô chỉ đặt câu hỏi: bất kỳ điều gì khác cô nói đều sẽ có mối liên hệ dây mơ rễ má đến Bắc Kinh, và để quên đi nơi chốn kia, cô đã chào đón tình bạn của Josef. Cái gồ ghề của cát và đá dưới gót giày cô không chịu biến mất, dù có lớp tuyết ở giữa, và cái lạo xạo ấy mang lại cho cô cảm giác kỳ quặc về sự thiếu sạch sẽ hiện diện một cách trâng tráo. Ở Bắc Kinh, mùa đông mang đến một loại thiếu sạch sẽ khác: bụi, những đám bụi không bao giờ lắng xuống, mà theo gió cuốn đi khắp nơi, khiến bầu trời mang một màu vàng nhạt và phủ lên mọi thứ một lớp màu xám; vào những ngày có bão bụi, cô phải lấy một chiếc khăn mỏng phủ kín đầu, ấy thế mà lúc về đến nhà, việc đầu tiên cô phải làm vẫn là súc miệng và rửa mặt cho hết bụi. Một lần, khi cô và Bá Dương đi xem một cuộc triển lãm khoa học, cô vừa buồn cười vừa hoảng sợ khi đến nơi, ngay cả nếp gấp ở mí mắt của họ cũng dính đầy những hạt bụi nhỏ. Nhưng những ký ức như vậy sẽ không có ý nghĩa gì với Josef, cô luôn lái câu chuyện sang đề tài khác khi anh hỏi về Trung Quốc. Cô thích nghe kể về những điều mình không biết hơn, giờ ngẫm lại, cô băn khoăn tự hỏi không biết sự quan tâm của cô dành cho cả những tiểu tiết lặt vặt nhất có giúp ích cho Josef trong mùa đông năm ấy không. Anh không phải là người hay nói; nhưng dẫu sao, việc được chăm chú lắng nghe như vậy hẳn cũng đã mang lại cả một sự khác biệt lớn cho anh.
Khi mùa đông đến, thành phố bắt đầu mang dáng vẻ ảm đạm hơn. Con người, tuy chán ngấy tuyết, song dường như chưa từng chán buôn chuyện về nó. Ở một quán cà phê nơi họ từng đến vài lần, chủ quán, Dave, có lần nói đùa rằng anh ta sẽ dựng một tấm biển ghi “Cấm than vãn”.
Mạc Lan bảo Josef đánh vần từ “than vãn” cho cô nghe, và hỏi nghĩa là gì. Anh suy nghĩ một lúc rồi lấy giọng cao vút nói: “ Mọi người đổ dồn về khu rừng này. Không có tí không gian nào. Tớ chưa bao giờ thấy nhiều loài vật đến thế, mà chúng nhốn nháo hết cả lên. ” 7
Cô nhìn anh: lần đầu tiên cô thoáng thấy con người hài hước nơi anh, điều đó bỗng biến anh thành một con người khác. Khi anh bảo cô đoán xem lời thoại đó là của ai, cô lắc đầu.
“Gợi ý đây nhé. Vừa nãy anh làm là để em biết giọng than vãn là như thế nào. Còn giọng nói thật của nhân vật ấy thì như thế này...” Josef lấy hai tay kéo má xị xuống rồi hạ thấp giọng thành tiếng lầm bầm. “ Sẽ có những người chúc cậu buổi sáng tốt lành. Nếu đó là một buổi sáng tốt lành, thì tớ nghi ngờ lắm. ”
Mạc Lan cười. Trong đôi mắt anh thoáng nét tinh nghịch khi anh làm mặt buồn rầu.
“Em đã nghe đến Eeyore chưa?” Josef hỏi khi cô vẫn không thể đoán ra đó là nhân vật nào.
“Eeyore à?” Cô hỏi.
“Hoặc là Gấu Pooh?”
Mạc Lan lại lắc đầu, khiến Josef lúng túng, không biết tìm từ nào để diễn tả.
Mạc Lan bối rối nghĩ, có lẽ anh thấy nhàm chán lắm khi đụng đến đâu là phải giải thích đến đấy. Có lẽ giữa cô và Bá Dương cũng có nhiều điều không nói như vậy, giữa Josef và Alena hẳn là cũng thế, dù rằng sự so sánh này khiến Mạc Lan không thấy thoải mái cho lắm. Cả cô và Josef đều chưa ai coi những cuộc gặp gỡ cuối tuần này - xem phim, uống cà phê, thi thoảng đi thăm một bảo tàng trong vùng - là cái gì đó quan trọng. Cô thích nghĩ rằng cô là một sinh viên quốc tế mà anh đang tìm cách giúp để hiểu về nước Mỹ hơn. Cô có thể thấy, khi mình và Josef tình cờ gặp bạn bè anh trong thị trấn, họ ủng hộ dự án phụ này của anh, vì nó giúp anh tạm quên đi nỗi buồn.
Josef giải thích Gấu Pooh là một nhân vật trong cuốn truyện dành cho thiếu nhi. Anh đã đọc truyện này cho bốn đứa con vào giờ đi ngủ nhiều lần đến nỗi có những phần anh nhớ nằm lòng. Cô hình dung cảnh anh diễn tả các nhân vật trong truyện, nhưng cô không thể hình dung anh trong vai trò một ông bố trẻ, hay con cái anh khi chúng còn nhỏ. Vào dịp Lễ Tạ ơn vừa qua, cô đã gặp gia đình anh, ba người con trai và một người con gái: Michael, vợ là Sharon, và hai con Todd với Brant; John, đến cùng vợ sắp cưới Mimi; George, đi một mình; Rachel, người con duy nhất vẫn đang đi học. Họ, trong đó có cả hai cậu bé chưa đầy năm tuổi, đã khiến Mạc Lan hoảng sợ. Cô đã cố gắng tự giải thích cho mình rằng sở dĩ cô không thoải mái là vì chưa tự tin vào khả năng Anh ngữ, nhưng cô biết rằng đó không phải là lý do duy nhất.
“Nếu em thích,” Josef nói, “tuần tới anh sẽ mang cuốn sách cho em mượn. Hoặc chúng ta có thể ghé vào hiệu sách để mua.”
Thật phù hợp quá nhỉ, cô nghĩ bụng, và đột nhiên thấy tức giận. Trong mắt anh, có lẽ cô là một cô gái trẻ lớn lên ở một đất nước kém phát triển, tuy kỳ quặc nhưng cũng đáng thương vì ngờ nghệch. Ở Trung Quốc có sô-cô-la không? Một người bạn của Josef từng có lần hỏi cô như vậy, với thiện ý rất hoàn toàn; hoặc không thì: Khi cô còn nhỏ, bố mẹ cô có bó chân cô không? Họ có thu xếp chuyện hôn nhân cho cô không?
Mạc Lan nói nếu Josef viết ra tên cuốn sách, cô có thể đi tìm nó trong thư viện. Cô không rõ anh có phát hiện sự thay đổi trong giọng nói của cô không.
Josef rút từ trong túi áo khoác ra một chiếc bút, viết tên sách và tên tác giả lên tờ giấy ăn, không quên vẽ nguệch ngoạc thêm hình một con vật to béo ở phía dưới. Cô chăm chú quan sát anh, nửa bực mình vì anh, nửa xấu hổ vì sự bực dọc của mình. Trước đó, thầy giáo cố vấn của cô cũng đã cho cô mượn những quyển sách tranh mà con cái anh ta không cần dùng nữa - anh này nói cách tốt nhất để nâng cao tiếng Anh là đọc truyện thiếu nhi, còn kể thêm rằng khi anh học cao học, một cô gái người Trung Quốc cùng phòng thí nghiệm với anh, sau đó trở thành giáo sư tại Đại học bang Arizona, đã đọc toàn bộ khu sách thiếu nhi ở một thư viện gần nhà.
Mạc Lan không lấy làm phật ý chuyện thầy cố vấn đưa cho cô những cuốn sách bằng bìa cứng. Đó là người tốt, cô biết, và anh muốn cô phát triển ở đất nước này. Nhưng nhận sách thiếu nhi từ Josef dường như lại là một chuyện khác. Điều gì đã xảy ra với Bác sĩ Zhivago vậy, cô định hỏi. Trong ba lô của cô có bản dịch tiếng Anh của cuốn tiểu thuyết này, cô vừa mượn ở thư viện trường; con tem gần nhất ghi chín năm về trước. Ngày Chủ nhật tuần trước, họ đã nói chuyện về cuốn tiểu thuyết. Cô có kể với anh rằng ở phần cuối sách, có một dòng mà cô đã gạch chân rất nhiều lần trong bản dịch tiếng Trung, nhưng khi anh hỏi đó là dòng nào, cô lại không nhớ, đành hứa sẽ tìm lại nó trong bản dịch tiếng Anh.
“ Anh cố mường tượng một vài người mà cuộc sống của họ diễn ra song song và gần gụi, nhưng di chuyển ở những tốc độ khác nhau, anh băn khoăn không biết trong trường hợp nào thì một vài người trong số họ sẽ bắt kịp và tồn tại lâu hơn những người khác. ” Cô hơi sốc khi đọc câu này lần đầu bằng tiếng Anh. Những câu chữ đã mất đi ý nghĩa của chúng; câu mà cô đã gạch chân trong bản dịch tiếng Trung, khi sang tiếng Anh lại chỉ là một cảm xúc bình thường; hoặc cũng có khi điều từng thu hút sự chú ý của cô ở tuổi mười bảy giờ đây đã mất đi sức ảnh hưởng. Dẫu vậy, cô vẫn mang cuốn sách đến để chỉ cho Josef, nhưng lúc này cô lại băn khoăn, sau Gấu Pooh mà lại làm như vậy thì có ý nghĩa gì nữa. Bắt đầu một cuộc đời với một ngôn ngữ mới cũng giống như bị ném ngược về tuổi thơ - không ai thực sự quan tâm xem bạn nghĩ gì; người ta chỉ muốn bạn hỉ hả bận rộn với cái gì đó hoặc giấu bạn vào nơi nào đó an toàn. Có lẽ Josef cũng không phải là ngoại lệ.
Anh có vẻ không để ý thấy sự thay đổi tâm trạng ở Mạc Lan. Anh hỏi cô có kế hoạch gì cho kỳ nghỉ lễ Giáng sinh chưa; cô nói chưa, và anh nói nếu cô thích, anh sẽ đưa cô tới nhà một cặp vợ chồng bạn anh vì họ luôn biết cách tổ chức những bữa tiệc đêm trước Giáng sinh rất vui, cuối buổi mọi người còn cùng nhau hát các ca khúc mừng lễ nữa. Mạc Lan hỏi các con anh có đi cùng không, Josef nói Lễ Tạ ơn mới là dịp dành cho gia đình của họ. John và Mimi đang lên kế hoạch dành tuần nghỉ Giáng sinh ở Hawaii. Michael và Sharon thì sẽ đưa lũ trẻ về thăm ông bà ngoại ở Memphis. Còn George và Rachel? Mạc Lan hỏi, và Josef nói họ có thể đến hoặc không. “Anh không muốn chúng nghĩ rằng phải có nghĩa vụ phải dành kỳ nghỉ ở nhà vì anh.”
Mỗi thành viên trong gia đình này, Mạc Lan nghĩ, đều có một vị trí trong cuộc sống, mọi việc họ thực hiện - làm việc, nuôi dạy con cái, tiệc tùng, nghỉ ngơi - đều góp phần củng cố thêm cái vị trí vốn đã chắc chắn đó. Ngay cả Josef, tuy chưa phục hồi sau năm khó khăn nhất trong cuộc đời anh, cũng có thể yên trí với nếp sinh hoạt ổn định - những buổi gặp gỡ với nhân viên ở thư viện, những buổi tập hát ở nhà thờ, ăn tối với bạn bè, và gặp gỡ Mạc Lan vào các buổi chiều Chủ nhật. Trong bữa tối hôm Lễ Tạ ơn, Mạc Lan rất ấn tượng trước sự tự tin của mọi người trong gia đình anh; dù chủ đề nói chuyện của họ là gì - trận đấu bóng rổ ở đại học, nhiệm kỳ thứ hai của Bill Clinton, cách nấu món gà tây, các đơn xin thực tập của Rachel - thì dường như tất cả đều có quan điểm riêng của mình, và không ai e dè khi thể hiện chúng ra. Thi thoảng những cuộc trao đổi đó trở thành màn đấu khẩu giữa các anh chị em hoặc giữa vợ chồng với nhau, nhưng bầu không khí thoải mái mà họ tạo ra lại mang đến cho Mạc Lan một cảm giác phi thực, như thể họ đang sống trong một chương trình truyền hình vậy. Nhưng có lẽ đấy chỉ là ấn tượng thiên lệch của cô: có gì sai đâu khi một gia đình họp mặt quanh chiếc bàn đầy ắp thức ăn và sôi nổi chuyện trò chứ? Trong một thế giới song song, nếu mọi việc diễn ra khác đi, lẽ ra Mạc Lan cũng đã có thể thuộc về một không gian như vậy: cô có thể vẫn là bạn bè với Bá Dương, họ vẫn sẽ tếu táo với nhau như xưa - cô không dám hình dung hai người là một cặp, nhưng họ vẫn sẽ thân thiết như anh em. Trong một thế giới song song, Tiểu Ái sẽ xây dựng cho mình một sự nghiệp sáng chói, vì người ta không cần phải chờ chính quyền cho phép mới được làm việc; Như Ngọc - liệu chuyện gì sẽ xảy ra với cô ấy? - có lẽ cô sẽ ra khỏi cuộc sống của họ đột ngột như khi đến, nhưng có lẽ cả Bá Dương và Mạc Lan đều sẽ không cảm thấy quá buồn rầu vì sự mất mát này: ngay cả một người như Như Ngọc cũng có thể bị thay thế hoặc chìm vào lãng quên, nếu người ta cố gắng.
Nhưng lại chỉ có một thế giới này mà thôi, một thế giới mà Mạc Lan không thể lên tiếng khẳng định rằng nó là của mình. Không phải vì cô là một người nhập cư mới; một số sinh viên Trung Quốc cô gặp ở trường tỏ ra tự tin về vị trí của họ ở nước Mỹ như với Trung Quốc. Để có một vị trí - bất kỳ vị trí nào - đòi hỏi người ta phải có chính kiến: Mạc Lan thì lại không. Những gì cô có chỉ là những quan sát và những câu hỏi - những câu cô hỏi Josef, rồi anh cung cấp cho cô những câu trả lời, và những câu hỏi cô giữ lại cho riêng mình, mỗi câu hỏi không thể trả lời lại đẩy cô xa hơn khỏi thế giới này: đôi khi cô cảm tưởng như mình đang sống ở một tương lai nào đó rất xa xôi. Tại sao không ai phát hiện ra tiếng vang yếu ớt trong giọng nói khi cô cất tiếng chứ?
Không có lý do nào để từ chối lời mời dự tiệc Giáng sinh của Josef cả; có lẽ cô có thể vào vai một khán giả vui vẻ. Khi họ rời quán cà phê hôm đó và tới xe của Josef - một chiếc Ford Taurus 8 , anh bảo thế khi biết cô thuộc cung Kim Ngưu - Mạc Lan gạt cái chắn bùn ở cả hai bánh xe về bên phải. Những tảng bùn đóng băng rơi thịch xuống mặt đất, và rất kỳ lạ, cảnh đó lại khiến tâm trạng Mạc Lan vui vẻ lên. Cô đã để ý thấy người khác làm như thế, thi thoảng khi nhìn thấy chiếc xe nào ứ bùn đằng sau những tấm chắn bùn, cô lại muốn lấy chân đá vào đó.
Josef nhìn cô, lạ lùng. “Em xin lỗi,” cô nói. “Không nên làm thế à?”
Dĩ nhiên là không phải thế, anh nói, nhưng vẻ mặt vẫn còn bối rối rõ, khiến Mạc Lan thắc mắc, liệu hành động này có bị coi là thiếu nữ tính trong mắt anh không, nhưng anh không biết cô: anh sẽ không bao giờ có thể tưởng tượng ra cảnh cô buông hai tay đạp xe trên một dải đường vắng người ở Bắc Kinh, hay thong dong vừa đạp xe bên cạnh Bá Dương vừa huýt sáo chung một bài hát của John Denver: Country roads, take me home, to the place I belong - nhiều năm sau này, khi một đồng nghiệp của Mạc Lan huýt sáo bài này ở hành lang, Mạc Lan chỉ lặng lẽ úp mặt vào tay và khóc, bởi vì chiếc áo giáp của con tim luôn luôn bị thiếu một mảnh.
Josef lặng lẽ lái xe và chìm vào tâm tư riêng, Mạc Lan quấn chặt chiếc khăn quàng cổ của mình. Anh bật nhiệt độ trong xe cao hơn, rồi không chờ Mạc Lan hỏi, anh nói rằng ngày trước Alena cũng hay làm như thế. Cô không thể chịu được dù là một chút bùn hay tuyết đọng lại, anh vẫn thường thắc mắc sao vợ mình lại cố chấp một chuyện nhỏ như vậy.
“Anh có hỏi tại sao cô ấy lại làm thế không?”
“Có, nhưng chính cô ấy cũng không biết. Cô ấy nói không thể kiềm chế được.”
Mạc Lan đã thấy ảnh Alena ở nhà Josef, có tấm chụp cô đang cúi nhìn con, hoặc trong một tấm ảnh cưới, cô cười với một người bạn từ thuở thiếu thời. Cô gạt cái chắn bùn chỉ để thỏa mãn niềm vui đơn giản là loại khỏi tầm mắt một thứ không mấy dễ nhìn, hay trong cô có điều gì đó chỉ có thể được thể hiện thông qua một hành động bạo lực mà vô hại? Mạc Lan thoáng xấu hổ khi thấy mình nghĩ về quá khứ của một người phụ nữ đã quá cố. Bí mật đó thuộc về Josef, và trước đó, là Alena.
Tiếng điện thoại kêu đâu đó trong căn chung cư. Josef trở mình trên ghế sofa nhưng chưa dậy. Mạc Lan nhìn thấy chiếc điện thoại trên bàn bếp. Cô băn khoăn không biết có phải Rachel gọi không, sau một lúc lưỡng lự, cô nhấc máy.
Giọng Rachel hào hứng, “Ồ tốt quá, dì vẫn đang ở đấy với bố.”
“Ông ấy đang ngủ.”
“Dì có thể ở với bố thêm một lát được không? Con có nói là sẽ qua, nhưng nhà trường vừa gọi điện. Có lẽ Willie lại bị nhiễm khuẩn dạ dày.”
“Tệ quá nhỉ, Rachel,” Mạc Lan nói. “Con cứ đi lo mọi chuyện đi. Dì sẽ ở đây.”
Khi quay người lại, Mạc Lan thấy Josef đã tỉnh dậy rồi. Anh hỏi có chuyện gì vậy, cô nhắc lại lời của Rachel. Anh gật đầu, nói kể từ sau khi biết bệnh tình của anh, Rachel đã mệt mỏi nhiều.
Nếu Mạc Lan cố gắng gợi lại kế hoạch quay trở về, có lẽ sẽ thành ra lợi dụng sự áy náy của anh, nhưng nếu cô nói với Rachel thì sao nhỉ? Liệu sự tán thành của Rachel có làm anh thay đổi ý định? Nhưng ý nghĩ phải bước ra khỏi vị trí giấu mình sau lưng Josef để nói chuyện trực tiếp với Rachel khiến Mạc Lan cảm thấy không thoải mái. Trong cuộc hôn nhân với Josef, cô có mối quan hệ khá ổn thỏa với ba người con trai của Josef, vốn đều ở xa bố; Rachel ở lại thì không có thiện cảm với cô. Dĩ nhiên, có lý do cho thái độ hằn học của Rachel: bản năng bảo vệ của một người con gái đối với người cha góa bụa; sự trung thành với Alena; tuổi tác của Mạc Lan - cô chỉ lớn hơn Rachel ba tuổi; và gốc gác ngoại quốc của Mạc Lan. Josef chỉ nói bóng gió về những chuyện đó, nhưng Mạc Lan đâu cần anh phải chỉ rõ ra; anh từng nói dần dần Rachel sẽ đổi ý, và họ chỉ cần kiên nhẫn thêm một chút nữa thôi.
Chấp nhận những lý do đó cũng có nghĩa là đồng ý rằng có thể lý giải tất thảy mọi thứ bằng một vài nhận định vơ đũa cả nắm: mẹ kế thì luôn độc ác, người ngoại quốc thì không đáng tin, một người phụ nữ lơ mơ được một người đàn ông tử tế đón nhận sẽ đền đáp sự tử tế kia như con rắn trong truyện ngụ ngôn của Aesop, hoa hồng thì đỏ, màu tím thì buồn. Nhưng Mạc Lan thấy khó mà đặt mình - hay bất kỳ ai - cho vừa vặn vào một không gian được bảo toàn bởi những quan điểm cứng nhắc như vậy.
“Trông em tư lự quá,” Josef nói. “Em đang nghĩ gì vậy?”
“Rachel,” Mạc Lan thật thà nói.
“Con bé không như em nhớ ngày trước nữa đâu.”
Lần cuối Mạc Lan gặp Rachel, cô vừa đính hôn với Matt; triển vọng về một đời hạnh phúc càng khiến Rachel bực bội hơn với cuộc ly hôn đang sắp sửa diễn ra giữa Mạc Lan với Josef. Ngày đó, Rachel nói rằng cô là người duy nhất biết sự thể rồi sẽ ra sao; bố và các anh trai cô, tất cả đều bị lừa. Giữa Rachel và Mạc Lan chưa từng có chuyện gì, nhưng dẫu sao, những lời Rachel nói cũng khiến Mạc Lan băn khoăn tự hỏi không biết có đúng là cô đã lợi dụng Josef không, nhầm tưởng rằng anh là điểm khởi đầu của một câu chuyện mới, rồi ruồng bỏ anh khi kịch bản đó thất bại - cuộc đời con người ta chỉ có duy nhất một điểm khởi đầu, nó diễn ra lúc họ chào đời. Khi người ta nói về chuyện bắt đầu lại, thì đó chẳng qua chỉ là một mơ ước viển vông: những gì đã đến trước đây, những gì đã xảy ra ngày hôm qua, đều chưa từng đến hoặc đều không xảy ra.
“Rachel dạo này thế nào?” Mạc Lan hỏi. Trên điện thoại vừa rồi, trong giọng nói của Rachel cô cảm thấy cái mệt mỏi của tuổi trung niên đang hiện rõ. “Gia đình con bé nữa?”
Josef vui vẻ hẳn lên khi nói về con cháu anh. Ngoại trừ George, các con anh đều đã ổn định cuộc sống ở miền Trung Tây: Michael làm trong ban quản lý bệnh viện ở Omaha, còn Sharon, sau khi hai con trai đều đến tuổi đi học, đã quay lại trường và giờ đang là giáo viên cấp hai; John, trước là chuyên gia tâm lý trẻ em, nay là hiệu trưởng một trường tư ở Chicago, có ba con với Mimi, và cả hai đã vượt qua vài đoạn sóng gió trong đời sống vợ chồng; Rachel và Matt có công ty riêng trong lĩnh vực đo đạc thị lực, Matt làm chuyên gia còn Rachel quản lý hoạt động. Ngay cả George, vẫn độc thân, đã rời Portland, Oregon và đang đồng sở hữu một chiếc xe bán đồ ăn, dường như cũng khiến Josef tự hào, dẫu niềm tự hào đó chỉ xuất phát từ việc anh cho rằng cuộc sống của George có chút gì đó bí ẩn.
“Em thấy đấy, mọi người đều ổn thỏa cả. Về mặt này thì anh là người may mắn,” Josef nói.
Có điều gì đó vững vàng ở các con của Josef khiến Mạc Lan cảm thấy bị thu hút từ xa, như một lữ khách bị hút về phía có ánh lò sưởi khi đứng ở ngoài cửa sổ nhìn vào qua những tấm rèm buông hờ. Mỗi lần đi ngang qua một buổi tiệc, Mạc Lan đều không đừng được mà phải nhìn vào: từng nhóm hai hoặc ba người tụm lại trò chuyện, cười đùa, hoặc nhấm nháp những ly rượu đã gần cạn. Mạc Lan không muốn ở đó, nhưng cô vẫn luôn tin rằng họ hạnh phúc hơn cô. Dĩ nhiên, họ có những uẩn khúc riêng mà chỉ mình họ mới biết, nhưng cô tin rằng nếu họ có lo lắng hay đau khổ, thì ít ra họ cũng có lý do chắc chắn để cảm thấy như thế: khi Rachel chia tay cậu bạn trai đại học, đó là khoảng thời gian cô khóc lóc rồi tiệc tùng khiến Josef lo lắng, nhưng trong một bữa tiệc như thế, cô lại gặp Matt, và đột nhiên mọi chuyện trở nên tốt đẹp hơn; khoảng thời gian ly thân sáu tháng giữa John với Mimi, sau khi Mimi không thể tiếp tục sự nghiệp ca sĩ vì phải chuyển đi cùng John do yêu cầu công việc của anh, cũng rất đáng buồn, nhưng từ đó cô đã tìm được việc để làm với dàn hợp xướng nhà thờ và một chương trình học bổ túc để bây giờ cô có thể cảm thấy thỏa mãn - chắc chắn đây là nguyên văn từ dùng của Mimi, khi Josef kể lại những chuyện này với Mạc Lan trong một bữa trưa sinh nhật của họ.
“Anh nên nhận lấy một chút công lao chứ,” Mạc Lan của hiện tại nói. “Anh có đói không? Anh muốn ăn gì không? Hay uống trà nhé?”
Josef nhìn cô như chưa nghe thấy những câu hỏi của cô. “Ngoại trừ - chúng ta làm gì với em đây, Mạc Lan?”
“Anh có gì phải lo lắng nào?” Cô hỏi, và chợt hối hận ngay vì giọng cô nghe có vẻ hơi cứng rắn.
“Em có biết là mình tiếp tục cuộc sống rất chậm chạp không?” Josef dịu dàng hỏi.
Mạc Lan băn khoăn không hiểu anh đang nói về việc cô không thể tiếp tục cuộc sống sau cuộc ly hôn giữa họ - hay là anh đang nói về cái chết của chính mình? Hỏi một người rằng liệu cô ta có thể đương đầu với cái chết của một người không cho thấy một sự tự mãn, hoặc một tình yêu sâu đậm đến mức chỉ một người đàn ông sắp chết mới dám thừa nhận.
“Tiếp tục cuộc sống? Đó là quan niệm của người Mỹ mà em chẳng tin,” Mạc Lan nói. Nếu ngay từ khởi điểm đã không có vị trí nào, thì nghĩ về vị trí tiếp theo trong thời gian và không gian cũng vô ích thôi. Trong dịp Lễ Tạ ơn cuối cùng hồi Mạc Lan còn là vợ Josef - năm 2001, không lâu sau vụ khủng bố 11/9 - đề tài nói chuyện quanh bàn ăn là tiếp tục cuộc sống . Khi đó, cô đã thầm nghĩ, tiếp tục cuộc sống - là tiếp tục tới đâu, hay tới cái gì? Thời gian đó, cô thường xuyên bắt gặp cụm từ này trên báo chí và cảm thấy rất khó hiểu, nhưng dường như Mạc Lan là người duy nhất có những ngờ vực về ý nghĩa của việc tiếp tục cuộc sống đối với đất nước này và người dân ở đó.
Thật quá tự tin, và người ta có thể tìm bằng chứng ở đâu để chứng tỏ rằng sự lạc quan của họ là có cơ sở? Ngay cả vụ tai nạn vô nghĩa của Alena cũng không mảy may khiến gia đình cô nghĩ đến cái gọi là định mệnh. Khi Josef cưới Mạc Lan, bạn bè anh, dẫu vẫn có những nghi ngại, hẳn là cũng yên trí khi thấy anh đã tiếp tục cuộc sống; sau khi họ ly hôn, tiếp tục cuộc sống có lẽ cũng là một phần trong những gì họ nói với Josef - hay thậm chí không cần nói - để khiến cô không còn ý nghĩa gì với anh nữa.