Chốn Cô Độc Của Linh Hồn

Lượt đọc: 392 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16

Ngày Chủ nhật sau chuyến tham quan trường đại học, Mạc Lan giật mình tỉnh giấc, như thể có chuyện gì đã xảy ra và cô đã muộn rồi. Tối trước đó, cô bảo bố mẹ rằng mình mệt nên đi nằm luôn, nhưng trằn trọc hồi lâu không ngủ. Những đợt sóng cảm xúc dồn dập ập đến, khiến tâm trí cô thành một mảnh đất hoang tàn lúc này đã quay trở lại với cô, tất cả đều chỉ hướng tới một sự thật không thể nhầm lẫn: Bá Dương yêu Như Ngọc.

Mà tại sao lại không chứ? Mạc Lan cố nói lý lẽ với chính mình. Anh chọn Như Ngọc là đúng, vậy thì tại sao cô phải ngạc nhiên làm gì? Trí não con người ta, khi bị lừa phỉnh bởi sự kiêu hãnh, không nhận ra sự thông thái xuất phát từ nỗi đau khổ. Người ta hấp tấp lao đi tìm liều thuốc giải cho lòng tự trọng mà không biết rằng chính lòng tự trọng, chứ không phải sự khước từ, mới biến trái tim mình thành một bộ phận nhút nhát, cầu xin được chở che.

Khi ánh sáng đầu tiên chiếu xuống, cả khu tập thể nhộn nhịp tỉnh giấc, những cánh cửa mở ra, giải phóng cho mọi người trong các căn nhà được ra ngoài hít thở không khí: vài người đánh răng rồi ngửa mặt súc miệng sùng sục ngay tại vòi nước, thầy giáo Phấn vừa tưới hoa vừa ngân nga một giai điệu nhạc kịch, vợ chú Vấn Dưa Hấu đang xa xả mắng hai đứa con sinh đôi vì tội hăm hở tìm cách bẫy con mèo từ khu tập thể bên cạnh lạc sang. Giây lát sau, Mạc Lan nghe tiếng bà của Bá Dương hỏi chuyến thăm trường đại học có vui không, rồi tiếng Như Ngọc đáp rằng có. Khác hẳn ở đây, đúng không nào? Bà Bá Dương hỏi, và có lẽ Như Ngọc gật đầu trả lời, vì Mạc Lan không nghe tiếng cô đáp lại.

Bá Dương đang yêu, còn Như Ngọc thì sao? Tâm trạng bất ổn định và cách cư xử không thể lý giải của cô tối hôm trước không giống với người đang yêu. Hay là cô không có cảm tình với anh? Niềm hy vọng đó, tuy quá mong manh để tiếp tục khai thác thêm, nhưng cũng để ngỏ một cánh cửa cho trái tim Mạc Lan. Bá Dương là người có thể sở hữu bất kỳ thứ gì anh muốn, nhưng hẳn là cũng đến lúc cái may mắn đó hết đi. Khi thất tình, biết đâu anh sẽ nhìn thấy một kẻ thất tình khác phù hợp với mình.

Sau bữa sáng, vợ chú Vấn Dưa Hấu nhờ Mạc Lan trông hộ hai đứa trẻ, không quên than phiền rằng lại đến phiên cô trực tuyến xe điện cuối tuần, dù rằng mọi người trong khu tập thể đều biết tỏng hễ có dịp là cô lại xin trực. Hai vợ chồng cô vốn yêu thương nhau, nhưng cả hai đều nóng tính: vào dịp cuối tuần, khi cả hai cùng ở nhà là kiểu gì họ cũng cãi cọ nhau, khi thì về chuyện con cái, lúc lại chuyện mua đồ, hay chỉ đơn giản là bất đồng ý kiến về một bộ phim trên ti vi.

Mạc Lan thở phào vì rốt cuộc cô cũng có việc gì đó cụ thể để làm. Cô vừa làm đổ bát cháo ăn sáng. Có lẽ hôm đó sẽ là một ngày dài, cô vừa háo hức chờ vừa sợ hãi lúc Bá Dương trở về. Lòng trung thành đòi hỏi cô phải vui mừng cho anh, nhưng cô lại không phải là một diễn viên giỏi; mà rồi, trung thành với ai kia? Đến lúc đó Mạc Lan mới nhận ra sự xa cách giữa họ. Họ đã đến thời điểm khi mà điều gì tốt cho anh không còn tốt cho cô nữa từ bao giờ?

Như Ngọc tiến lại phía cái bàn đặt ở dưới giàn nho xem Mạc Lan dạy hai đứa trẻ cắt giấy. Mỗi khi cắt hỏng chúng lại ỉ ôi than vãn. Hai đứa đấu với nhau bằng các hình cắt nhân vật người máy biến hình, rồi xin phép ra ngoài đấu cho rộng chỗ. Mạc Lan dặn chúng không được đi xa. Giọng cô run run, nhưng cô mong rằng Như Ngọc không phát hiện ra.

Như Ngọc cầm một mảnh giấy đã cắt xong, nói cô không ngờ Mạc Lan biết cắt giấy. Mạc Lan ngạc nhiên khi thấy Như Ngọc lại tìm cách bắt chuyện. Đôi mắt Như Ngọc hiện vẻ điềm tĩnh. Mạc Lan thấy nhói lòng, tự hỏi có phải mình đã nhầm lẫn rồi không: có lẽ Như Ngọc cũng đang yêu.

“Tôi cắt không khéo lắm đâu,” Mạc Lan nói, và cho hay bà Bá Dương mới là thợ cắt giấy tài tình, bản thân cô đã cố học theo nhưng chỉ làm được vài mẫu đơn giản. Cô cảm tưởng như việc đưa tên Bá Dương vào câu chuyện cũng giống như một cử chỉ thách thức, hoặc đầu hàng, nhưng Như Ngọc không thừa nhận cả hai phương án đó, như thể sáng nay anh không xứng đáng có mặt trong câu chuyện của họ. Mạc Lan cầm lên một cuốn sách thiếu nhi trên đầu chồng sách, nội dung kể về chuyến phiêu lưu của hai người bạn, một người tên là Mít Đặc, người kia là Biết Tuốt.

“Tụi tôi thường đùa rằng Bá Dương là Biết Tuốt,” Mạc Lan nói.

“Vậy chắc cậu là Mít Đặc rồi?”

Mạc Lan chực nói đúng, nhưng rồi thấy bối rối vì như thế sẽ là khoe khoang một cách bất công về mối liên hệ mà Như Ngọc chưa từng có với Bá Dương. Thay vào đó, cô hỏi, “Sáng nay cậu thấy thế nào?”

“Cậu nói như thể tôi bị ốm vậy.”

Như Ngọc đã quên chuyện tối hôm trước rồi sao? “Tối qua trông cậu có vẻ không vui,” Mạc Lan nói. “Cậu nói về...”

“Đừng bận tâm chuyện tôi nói.”

“Sao lại không được chứ?” Mạc Lan hỏi. “Hôm nay cậu thấy vui hơn chưa?”

“Cậu lại hỏi về vui vẻ với hạnh phúc rồi kìa,” Như Ngọc nói. “Sao cậu cứ phải cố gắng quá sức như vậy?”

“Cố gắng làm gì?”

“Làm người tốt,” Như Ngọc nói rồi đứng lên.

“Nhưng khoan đã,” Mạc Lan nói, giọng khẩn thiết nài nỉ. “Đừng đi vội.”

“Sao vậy?”

Mạc Lan nhìn quanh rồi hạ thấp giọng. “Cậu có thể cho tôi biết hôm qua cậu đã lấy cái gì ở phòng thí nghiệm không?”

“Khi nào thì cậu mới chịu thôi không hỏi nữa đây, hả Mít Đặc?”

“Tôi thấy lo cho cậu.”

“Nhưng ai khiến cậu lo cho tôi?” Như Ngọc nói rồi bỏ đi, không để Mạc Lan kịp trả lời.

Mạc Lan không thể tìm đến ai để xin lời khuyên: nói với một người lớn, hay với Bá Dương, đều là xâm phạm lời hứa cô dành cho Như Ngọc. Giá mà Tiểu Ái không vướng vào quá nhiều rắc rối riêng đến vậy. Cô thậm chí còn có thể biết tâm trạng thật của Như Ngọc là gì. Nhưng làm phiền Tiểu Ái bây giờ, với một cuộc khủng hoảng chỉ có trong tưởng tượng, sẽ là rất vô tâm.

Sự cô đơn đến cùng với những bí mật; và đến lượt chúng, những bí mật lại trở thành chiếc huy hiệu danh dự cho sự cô đơn. Trong trái tim Mạc Lan vẫn nấn ná cái mong ước trẻ con, ấu trĩ về một thế giới rõ ràng, nhưng cô lại bị bí mật của Như Ngọc - một bí mật mơ hồ, không thể lý giải - chặn lại, đẩy cô vào sự cô đơn, điều đó đã khiến Mạc Lan lần đầu tiên được nếm trải cảm giác về một cuộc đời bị xâm phạm. Có lúc cô thấy người hầm hập như lên cơn sốt; có lúc lại rùng mình: sự cô đơn, khi không được người sở hữu nó thấu hiểu, lại trở thành một ảo giác.

Một ý nghĩ kỳ quặc thoáng qua đầu Mạc Lan: rằng cuộc sống của cô, so với cuộc sống của Tiểu Ái hay Như Ngọc, tẻ nhạt đến mức có lẽ trong mắt hai người kia, nó chẳng có gì đáng sống. Ngay cả Bá Dương dường như cũng có một câu chuyện ở đâu đó, bố mẹ và chị gái anh tạo thành một thế giới không có nhiều sự chồng chéo với khu tập thể này; anh có thể đàm luận với một sinh viên cao học, có thể dễ dàng hình dung cảnh mình sống trong một ngôi nhà ở Mỹ. Hãy mở to mắt, nếu không bạn sẽ không biết thế giới này kỳ diệu đến thế nào , đó là nội dung một câu khẩu hiệu cho một chương trình du lịch trên truyền hình. Đây là một chương trình rất mới mẻ, và quả thực, qua lăng kính của nó, thế giới này dường như thật kỳ ảo: những người nhảy bungee can đảm trên một đỉnh núi ở New Zealand; một cặp đôi trẻ trung, vô tư đi thuyền đáy bằng trên sông Cam; khoảnh sân trong vắng vẻ ở quê hương Karl Marx, những đóa phong lữ nở bung trên các bậu cửa sổ; đám tường vi xanh mơn mởn leo trên những tòa nhà gạch đỏ trong khuôn viên các trường đại học hàng đầu ở Mỹ; cây Cầu Cổng Vàng trong màn sương buổi sớm; Quảng trường Thời Đại loang loáng ánh đèn đêm.

Mạc Lan có thể mở to mắt luôn luôn, nhưng cái mà cô nhìn thấy chỉ là những gì xung quanh cô: bố cô ngồi dò dẫm từng dòng trong cuốn sổ ghi chép chi tiêu gia đình nhằm chắc chắn rằng họ đã cố hết sức tiết kiệm được vài tệ dành để mua một chiếc tủ lạnh; Dì và Chú lúc nào cũng đứng ngồi không yên vì sợ rằng Tiểu Ái sẽ vĩnh viễn bị loại ra khỏi hệ thống ; những dãy dài người xếp hàng chờ khẩu phần lương thực; những con ngài sống và chết không mục đích. Nếu thế giới này quả thực kỳ diệu, hẳn nó chỉ đúng với những người có trí tưởng tượng phong phú hơn cô. Dường như đối với Mạc Lan, để nhìn được đòi hỏi người ta phải làm nhiều điều hơn là chỉ đơn thuần mở to mắt.

Nhưng Như Ngọc nhìn thấy cái gì ở thế giới? Mạc Lan không biết. Cô thậm chí còn không thể tự tin, dù chỉ mảy may, mà nói bây giờ Bá Dương đang nhìn thấy gì, dẫu rằng sở dĩ như thế là vì dạo này mắt anh chỉ chăm chăm hướng về Như Ngọc. Có lẽ hai người đang yêu đã đủ tạo nên cả một thế giới cho riêng họ nên không cần phải nhìn đi đâu nữa cả. Đã có nhiều bài hát, bài thơ viết về điều đó, nhưng chưa có bài hát hay bài thơ nào từng, hoặc sẽ, viết về những hàng người dài hay tem phiếu thực phẩm hay cái vặt vãnh của nỗi lo về giá thịt lợn. Mạc Lan thấy mình thật già nua. Nhỡ cô không bao giờ có nổi trong mình chút gì thi ca để người ta yêu thương thì sao?

Những ý nghĩ này cứ quanh quẩn trong đầu và chẳng đi tới đâu cả, thường thì chúng khiến Mạc Lan như mụ người đi, và vào buổi sáng thứ Năm, cô rơi vào trò chính trị khi để đầu óc lang thang. Nghe cô giáo gọi tên mình, cô đứng dậy, mơ hồ nhận thức rằng mình vừa bị hỏi câu gì đó.

“Em có thể đưa ra một ví dụ được không, Mạc Lan?” cô giáo nhắc.

Không thấy cô trả lời ngay, Bá Dương, ngồi bàn sau bàn cô, thì thào, “Cải thìa.”

Mạc Lan nói cải thìa, thế là trong lớp râm ran tiếng cười khúc khích.

“Chà, đó là một ví dụ khá... độc đáo,” cô giáo nói. “Nhưng em có thể đưa ra những ví dụ sát hơn được không?”

“Dầu ăn?” Mạc Lan đánh liều nói. “Hay đường? Gạo? Bột?”

Cả lớp phá lên cười. Mạc Lan quay lại nhìn Bá Dương, thấy anh gật đầu và giơ ngón tay cái lên. Không biết cô giáo đang nói tới chuyện gì, nhưng chắc chắn là Mạc Lan đã chuyển bầu không khí lớp học sang hướng bớt nghiêm trọng hơn. Cô không phải là một học sinh láu lỉnh; hiếm khi cô là tâm điểm của bất kỳ chuyện gì, nhưng cô cũng không hối hận khi tạm đặt mình vào vai trò người mua vui cho cả lớp. Bởi một lẽ, thay vì ngồi, khi đứng dậy và trở thành nguồn gốc cho trò vui như vậy, cô được giải thoát khỏi tâm trạng ủ dột.

Cô giáo ra hiệu cho Mạc Lan ngồi xuống. Đợi cả lớp trật tự, cô nói: “Tất cả đều là những ví dụ cụ thể. Cô không có gì phản đối em, nhưng cô mong chờ một vài ví dụ hay hơn: chẳng hạn như là sản xuất và phân phối thép, hay khai thác than, hay xây dựng đường sắt.” Cô nhìn đồng hồ, rồi chuyển sang tóm tắt bài học về so sánh tương quan các mô hình kinh tế kế hoạch của Xô viết và Trung Quốc.

Giờ ra chơi, Bá Dương mới cho biết là cô giáo yêu cầu nêu ví dụ chứng minh sự ưu việt của nền kinh tế kế hoạch, và Mạc Lan đã thật xuất sắc khi liệt kê ra một danh sách các loại lương thực chia theo khẩu phần. Từ lúc đó cho tới cuối ngày, vài cậu bạn trai trong lớp hễ thấy Mạc Lan đi qua là nhại “cải thìa”, dù cô biết rằng họ không có ý xấu. Cô bật cười khi một người khuyên cô nên nghĩ tới chuyện nộp đơn cho nhà trường xin thành lập Câu lạc bộ cải thìa, và tất cả họ sẽ tham gia nếu cô là chủ tịch Câu lạc bộ đó.

Thật kỳ quặc khi một sự cố nhỏ như vậy lại giúp xóa tan tâm trạng rối bời của cô. Mạc Lan nhớ lại cặp câu đối mà vợ chồng thầy giáo Thư và cô giáo Lý treo trong phòng khách nhà họ: Thiên hạ bổn vô sự; Dung nhân tự nhiễu chi 9 . Thế giới, như bố mẹ cô và hàng xóm, chưa bao giờ xử tệ với cô; đổi lại, họ muốn cô cư xử như một người ở địa vị cô sẽ làm: dễ chịu, ngoan ngoãn, biết điều.

Khi tan học ngày hôm đó, Mạc Lan quyết định rằng cô phải thực lòng biết ơn vì đã được ở gần Như Ngọc và Bá Dương. Họ là hai con người phi thường, còn cô thật may mắn khi được làm bạn với họ. Ngày nào đó, cô sẽ ngoảnh nhìn lại và nhớ về những ngày này, ngay lập tức, cô xua những suy nghĩ ủy mị ra khỏi đầu.

Trên đường về họ ghé vào một cửa hàng bách hóa. Hôm đó là sinh nhật Dì, và Như Ngọc nói muốn mua một món quà; cô đã biết cần mua quà gì. Dì thường mang theo một chiếc lọ thủy tinh làm cốc trà, đựng trong một chiếc lưới móc bằng ni lông màu. Chiếc lọ vốn chắc chắn, với nắp màu vàng cam có in dấu thương hiệu của hãng Tang, được một người bạn đồng nghiệp cho Dì khi người này dùng hết. Mấy ngày trước, lúc đang đứng mua dưa chua, Dì đặt chiếc lọ trên quầy hàng, vậy mà chỉ trong một phút có kẻ đã lấy trộm nó.

Không gia đình nào trong khu tập thể này từng được nếm qua thương hiệu Tang, sản phẩm nước cam ép dạng bột nhập khẩu từ Mỹ. Đây là loại nước uống chính thức được NASA chỉ định dùng cho các phi hành gia, chương trình quảng cáo trên ti vi thông báo với khán giả như vậy, kèm theo đó là hình ảnh quay chậm một giọt nước ép nảy lên từ một chiếc cốc đựng bằng thủy tinh, màu nước ép đậm đến mức Mạc Lan phải rùng mình khi nghĩ tới sự tương phản giữa quả cam đó trên màn hình và ngoài màn hình. Cuộc sống của cô ngày càng gợi cho cô nhớ về những bộ màu nước cô từng có khi học cấp một, đầu mỗi năm học cô đều được mua một bộ mới. Đó là loại màu có giá rẻ nhất, với mười hai ô hình bầu dục trong một chiếc hộp nhỏ và một chiếc cọ vẽ nhỏ. Lần duy nhất bộ màu trông đẹp đẽ là trước khi cô mở nó: dù cô đã cẩn thận tô đi tô lại, màu sắc trên giấy vẫn rất nhợt nhạt, sau đó những ô hình bầu dục khô queo, đóng cục lại, rồi rời ra thành từng mẩu nhỏ. Dẫu vậy, cô cũng chưa bao giờ đòi bố mẹ mua cho bộ đắt tiền hơn, như những bộ mà một số học sinh khác trong trường vẫn tự hào mang đi. Mạc Lan biết, nếu cô đòi, bố mẹ sẽ cố gắng tìm cách mua cho cô một bộ tử tế; họ sẽ bớt thịt ở một vài bữa ăn, nhưng cô sợ không thể chứng tỏ rằng mình xứng đáng có bộ tốt hơn.

Nhưng cái ngày Như Ngọc mua lọ nước ép Tang lại không phải một trong những ngày ảm đạm với những gam màu nước nhợt nhạt. Dì kinh ngạc trước sự xa xỉ của món quà. Nó trị giá 18 tệ, nhiều hơn tiền ăn trưa một tháng của Mạc Lan; người bán hàng, một phụ nữ trung niên, tò mò nhìn Như Ngọc khi cô đưa hai tờ 20 tệ ra, và lúc quay về phía quầy tính tiền để lấy tiền lẻ trả lại, bà ta lầm bầm nói với một đồng nghiệp rằng không biết loại bố mẹ nào lại đi làm hư con cái bằng cái sự xa xỉ như thế. Mạc Lan bồn chồn, nhưng Như Ngọc vẫn đứng im như thể không nghe thấy câu nói đó, dẫu người ta đã cố ý nói to để cô nghe thấy.

Chiều tối hôm đó, Bá Dương và Mạc Lan tới xem Dì thử món quà sinh nhật của mình. Hôm đó Tiểu Ái không về nhà ăn tối, Như Ngọc có thể thấy rõ rằng Dì vừa buồn vì Tiểu Ái không có mặt vào ngày sinh nhật bà, vừa thở phào vì bữa tối, do Chú nấu cho Dì, đã diễn ra suôn sẻ, không có cái căng thẳng thường lệ.

Dì lấy vài chiếc cốc ra rồi trịnh trọng xúc những thìa bột cam mịn tơi vào từng cốc, còn Chú lấy ấm nước nóng châm vào từng cốc. Nước không được nóng quá, Chú nói, vì nhiệt độ quá cao sẽ làm hỏng vitamin C trong bột. Thế sao không dùng nước từ trong vòi luôn, Bá Dương đề nghị, và Dì đáp nước lạnh lại không tốt cho dạ dày. “Các con phải học cách chăm sóc cơ thể đi,” Dì nói. “Có ai trẻ mãi đâu.”

Nước vừa rót vào thì bột đã tan, và cốc nào cốc nấy đều có màu đậm hệt như quảng cáo trên ti vi. “Bây giờ mỗi đứa mang một cốc đi cho các nhà,” Dì nói với Bá Dương và Mạc Lan. “Nhớ nói đây là quà của Như Ngọc nhé.”

“Tại sao chứ? Chúng cháu không được nếm trước à?” Bá Dương hỏi.

“Đi đi rồi về đây sẽ có,” Dì nói, quay sang hỏi Chú xem có thể làm thêm cho chúng không.

“Dì đừng rộng rãi quá ạ,” Bá Dương nói. “Cái lọ ấy rồi chẳng mấy mà hết.”

Trong tâm trạng vui vẻ hiếm hoi, Chú nói hết thì Dì càng vui vì sẽ sớm có lọ Tang mới để mang đi khoe khắp nơi. “Mà lần này bà ấy có khi còn khoe toáng lên là chính chúng ta đã uống hết ấy chứ,” Chú nói.

Dì giả bộ bực mình, bảo Chú đừng chọc ghẹo nữa. Bá Dương phá lên cười, cầm hai cốc nước cam rồi giữ cửa cho Mạc Lan đi sau, cũng đang hai tay hai cốc. Như Ngọc cầm lên một cốc, nói để dành cho chị Tiểu Ái ở trong phòng. Và đừng quên Ông nữa, Như Ngọc nói với Dì, khiến Dì san một phần nhỏ trong cốc của mình mang cho Ông.

Đêm đó trời quang mây, và mặt trăng chỉ còn một ngày nữa là tròn, phủ lớp sáng bạc lên sân. Sau khi Mạc Lan đi mời xong các nhà - hai gia đình tấm tắc khen ngon và gửi lời cảm ơn Dì - cô nhìn thấy Bá Dương đang đợi mình dưới giàn nho. Cách đó mấy ngày, thầy giáo Phấn đã hái nho chia cho hàng xóm, nhưng còn chừa lại vài chùm chưa chín hẳn.

Bá Dương với lấy một chùm đưa cho Mạc Lan rồi nói như thì thầm, “Đấy, cô ấy là người tốt bụng mà.”

Lời nhận xét bất ngờ này khiến Mạc Lan giật mình. Cô chực nói không biết anh đang nói về ai, nhưng như thế lại không thành thật. “Có ai bảo là không đâu?” Mạc Lan hỏi.

Bá Dương nghiêm nét mặt nhìn Mạc Lan. “Vậy thì tại sao dạo này cậu lại có thái độ với cô ấy như thế?”

“Tôi sao?”

“Có thể người khác không nói chắc được, nhưng cậu biết rõ là cậu đối xử với cô ấy khác trước kia,” Bá Dương nói. “Có phải là do những gì tôi nói với cậu hôm thứ Bảy vừa rồi không?”

Có lẽ tình yêu mang đến cho người ta những cảm nhận mà bình thường họ không có. Giống như nhiều chàng trai cùng độ tuổi, Bá Dương không phải là người giỏi quan sát. Đầu óc thằng bé đó cứ như cái sàng vậy, bà anh từng nhận xét như vậy về thói lơ đễnh của anh.

“Thực là tôi có thái độ không?” Mạc Lan hỏi. “Sao cậu biết?”

“Có gì chúng ta không biết về nhau đâu.”

Thật là không có gì sao, Mạc Lan băn khoăn, hay nên có gì đó? “Cậu có nghĩ Như Ngọc cũng cảm thấy như thế không?”

“Rằng cậu đang không thân thiện với cô ấy? Tôi hy vọng là không, nhưng dù có cảm thấy như vậy thì cô ấy cũng sẽ không chịu nói đâu,” Bá Dương nói. “Cậu biết cô ấy mà. Cô ấy đã quen giữ chặt mọi chuyện trong lòng từ nhỏ rồi.”

Mạc Lan thở dài. “Tôi vẫn luôn cố gắng làm bạn tốt của cô ấy.”

“Thật hả?” Bá Dương hỏi lại. Trong giọng nói của anh có một vẻ xa lạ khiến Mạc Lan thấy đau lòng.

“Sao chứ? Có chuyện gì chứ?”

“Tôi nghĩ cậu đang ghen với cô ấy.”

Mạc Lan thấy mừng vì họ đang đứng trong bóng tối, mà thực ra trời sáng trăng cũng không soi rõ được sắc mặt cô lúc này đang đỏ bừng lên vì xấu hổ và giận dữ và tuyệt vọng. Cái ranh giới giữa ngây thơ và tàn nhẫn, nếu quả thực có ranh giới ấy tồn tại, chắc là phải mỏng manh lắm, đến độ chỉ những người từng trải đầy đủ nhất về bản chất của con người mới có thể nhận ra. Mạc Lan vẫn chưa qua độ tuổi khi mà sự ngây thơ và sự tàn nhẫn thường song hành với nhau, cô cảm thấy mình như bé lại trước Bá Dương. Giảng hòa với anh hay tự bảo vệ mình bây giờ đều không thể. Trong cuộc đời, có những lúc chỉ cần lên tiếng là nói sai.

“Nếu cậu tìm được người đặc biệt cho mình, tôi sẽ rất mừng cho cậu,” Bá Dương nói. “Tôi không hiểu sao cậu lại không thấy mừng cho tôi chứ?”

“Nhưng tôi mừng cho cậu mà!”

“Cậu biết là không phải thế, và tôi biết tại sao cậu lại cảm thấy như vậy,” Bá Dương nói. “Cậu giống như em gái tôi vậy, và tôi nghĩ giữa chúng ta đã có một tình bạn hết sức thuần khiết.”

Liệu có tình bạn thuần khiết nào giữa hai con người không? Mạc Lan ước giá mà cô có thể nói cho Bá Dương biết về hóa chất mà Như Ngọc đã lấy trộm trong phòng thí nghiệm của mẹ anh, nhưng thời điểm phù hợp - nếu có - đã qua mất rồi. “Ta quay vào thôi,” Mạc Lan nói mà lòng cảm thấy đau đớn.

Một cánh cửa mở ra, Chú bước ra ngoài, ngửa mặt nhìn lên mặt trăng hồi lâu rồi mới cúi xuống cố nhìn cho rõ hai cái bóng đang đứng trong bóng tối của giàn nho. “Hai đứa đấy à?” Chú hỏi. “Nhanh lên kẻo cốc Tang nguội rồi kìa.”

Sáng hôm sau tỉnh dậy, Mạc Lan lên cơn sốt cao. “Chắc là bị cúm sớm rồi,” cô nghe tiếng bà Bá Dương nói vậy khi mẹ cô bảo Bá Dương và Như Ngọc cứ đi học mà không có Mạc Lan.

Cô nằm cả ngày trên giường, lúc thức lúc tỉnh, nhưng cô thấy cảm ơn cơn bệnh, vì nhờ nó mà giờ đây cô không phải nghĩ ngợi gì nữa. Mẹ cô đưa chiếc đài từ phòng khách tới đặt trên chiếc ghế. cạnh giường cô, không quên để một ấm đun nước dưới chân ghế. Bà nói sẽ nhờ bà Bá Dương tới xem tình hình cô vào buổi trưa, nhưng Mạc Lan ngăn lại, nói nếu đúng cô bị cúm thật thì không nên để ai lại gần.

Thời gian chậm chạp trôi qua. Mạc Lan quên không vặn dây cót chiếc đồng hồ đeo tay tối hôm trước, nên trước khi trời sáng nó đã ngừng chạy. Cô nhìn ánh mặt trời nghiêng nghiêng lọt qua khe cửa sổ, để lại một dải các hạt bụi lơ lửng bay trong không khí. Trong sách giáo khoa của cô có bài thơ ví đời người trôi qua như con ngựa trắng nhảy qua khe núi hẹp nhất; người xưa không sai nếu nói một nghìn năm, từ lúc họ viết bài thơ này cho đến lúc cô đọc được nó, đã trôi qua trong gang tấc, nhưng liệu họ có cảm nhận được cái nặng nề của dòng thời gian miên man không dứt khi họ viết những dòng đó không?

Chiếc đài vặn tiếng nhỏ, rủ rỉ chuyển từ chương trình buổi sáng sang bản tin dự báo thời tiết rồi sang chương trình âm nhạc thiếu nhi, nhưng giữa những cơn mộng mị nửa mê nửa tỉnh ngây ngấy sốt, tất cả đều mang một màu sắc phi thực. Mạc Lan nghĩ về những người chịu nghe đài vào một buổi sáng như thế này: những ông bà già về hưu, những chủ cửa hàng ngồi sau quầy tính tiền chờ đợi người khách đầu tiên trong ngày, một người sửa xe đạp ở một cái lán bên vệ đường đang kéo một cái săm xe thủng lỗ chỗ ra, một người nằm ngoài hệ thống như Tiểu Ái, không có nơi nào để tồn tại.

Tới cuối ngày, Mạc Lan nghe tiếng mọi người lục tục đi làm về. Cơn sốt vẫn chưa hạ, nên cô có lý do để cách ly mọi người. Lát sau, Mạc Lan nghe tiếng Bá Dương ở phòng khách vọng vào, tiếng mẹ cô nói rằng anh nên tránh xa. Anh xin phép vào chào Mạc Lan, và mẹ cô nói để bà đi kiểm tra xem cô có thức hay không. Mạc Lan nhắm mắt lại, và khi nghe tiếng Bá Dương đi về, cô lặng lẽ nằm khóc.

Mạc Lan mất một tuần mới khỏi hẳn, tối nào Bá Dương cũng sang trò chuyện với cô - ngoại trừ ngày cuối tuần anh phải tới nhà bố mẹ - có hôm cả Như Ngọc cũng đi cùng. Khi Mạc Lan đỡ mệt hơn, cô ngồi dậy, tựa lưng vào gối, còn anh ngồi ở chiếc ghế đặt ở cửa phòng ngủ. Ban đầu, họ còn e dè, nhưng Bá Dương nhanh chóng quay trở lại con người anh thường ngày. Anh cho biết một số bạn cùng lớp họ cũng đã bị cúm, nhưng anh và Như Ngọc may không bị; kỳ thi giữa kỳ sắp diễn ra trong hai tuần nữa, nhưng Mạc Lan không cần phải lo những buổi học bị lỡ, sau khi cô khỏi bệnh, anh sẽ ôn lại các bài học với cô một lượt; ngày hôm sau họ sẽ thực hành giải phẫu cóc trong phòng thí nghiệm sinh học, mà anh biết cô vốn không ưa trò đó nên cô có thể cứ ốm và trốn tiết này; nhân tiện, anh hỏi cô có biết chị Tiểu Ái cũng đang bị ốm không, để khi mọi người trong khu đi làm hoặc đi học cả, cô và Tiểu Ái có thể sang bầu bạn với nhau.

“Chị Tiểu Ái bị làm sao vậy?” Mạc Lan hỏi, thoáng ngạc nhiên vì chưa thấy bố mẹ nhắc nhỏm gì chuyện này.

Bá Dương đoán có lẽ cũng do cùng một loại virus gây ra. Anh hỏi cô có nhớ lần họ cùng bị lên sởi không, và cô nói dĩ nhiên cô còn nhớ. Ngày lớp ba, cả Mạc Lan và Bá Dương cùng bị nhiễm dịch sởi, bà Bá Dương phải dành căn hộ của bà cho hai người cách ly khỏi mọi người khác trong khu tập thể; cứ sáng tối hai bận, bà lại mang cho họ uống một thứ nước đen ngòm, đắng ngắt đun từ thảo dược, nhưng bù lại họ được ở riêng cùng nhau với một bộ cờ và một chiếc đài. Mạc Lan chơi cờ rất tệ. Hễ đến lúc cô sắp thua là Bá Dương lại đổi bên cho cô, và cô kinh ngạc khi thấy rằng dù cô mở đầu ván cờ của mình tệ đến đâu chăng nữa, anh vẫn có thể xoay chuyển tình thế để nó tốt hơn; đôi khi họ đổi bên đến mấy lần trong một ván, cho đến khi cô làm mất hết quân ở cả hai bên đỏ và đen, và họ chỉ còn cách xử hòa.

Đó quả là những tháng ngày hạnh phúc, Mạc Lan nghĩ thầm nhưng không nói với Bá Dương, với anh, những tháng ngày hạnh phúc hơn đang chờ ở phía trước.

Trong khi Mạc Lan phục hồi sức khỏe từng ngày thì Tiểu Ái, trái lại, càng ngày càng tệ đi. Tới lúc Mạc Lan được đi học trở lại, tâm trí cô hầu như chỉ nghĩ về bệnh tình Tiểu Ái - cô đã rơi vào hôn mê trước đó vài ngày. Các bác sĩ lúng túng vì các triệu chứng giống cúm ở Tiểu Ái đã nhanh chóng biến mất, nhường chỗ cho những vấn đề khác trầm trọng hơn: rụng tóc, nôn mửa, co giật, và mất phần lớn chức năng não; họ đã thực hiện rất nhiều cuộc kiểm tra nhưng không thu về manh mối gì.

Trước khi về nhà bố mẹ vào cuối tuần, Bá Dương dặn Mạc Lan gọi cho anh nếu có bất kỳ tin tức nào về Tiểu Ái. Hằng ngày, Dì và Chú lại thay nhau vào Khu Chăm sóc Tích cực với Tiểu Ái; hàng xóm ngỏ ý đỡ họ vài ca trực để hai vợ chồng có thể nghỉ ngơi, nhưng họ từ chối, nói rằng trước khi bác sĩ đưa ra chẩn đoán chính xác thì tốt nhất là họ nên ở đó.

Sau bữa trưa ngày Chủ nhật, Mạc Lan tới nhà Tiểu Ái để tìm Như Ngọc. Sáng đó hai người đã cùng học ôn thi giữa kỳ với nhau. Chú đang nằm nghỉ, còn Như Ngọc đang đút cháo cho Ông ăn. Những ngày này, Như Ngọc dành phần lớn thời gian rỗi để chăm Ông, người duy nhất được miễn trừ khỏi những mối lo lắng đang bao phủ cả khu tập thể như một màn sương u ám. Dường như cứ thêm mỗi ngày Tiểu Ái hôn mê lại thêm một người bị mất tinh thần. Trong bữa sáng hôm đó, mẹ Mạc Lan thắc mắc liệu trong tình hình này họ có nên nghĩ đến một viễn cảnh khác không: “Chắc chắn Tiểu Ái không thể phục hồi như người khỏe mạnh bình thường được nữa rồi - rồi ra có khi mọi người sẽ thấy dễ dàng hơn nếu bố mẹ nó để nó ra đi.”

Trong căn buồng nhỏ của Ông, Như Ngọc ngồi trầm tư. Sau khi cho Ông ăn xong, cô lấy khăn rửa mặt và cổ cho Ông rồi thấp giọng bảo Mạc Lan rằng cô sẽ ngồi đây đợi Ông ngủ. Tôi sẽ ở đây cùng cậu, Mạc Lan thì thào đáp lại. Như Ngọc liếc sang cô, và cô hiểu rằng Như Ngọc không chào đón sự hiện diện ấy. Dẫu vậy, Mạc Lan vẫn cảm thấy bớt bồn chồn hơn khi có thể để mắt đến Như Ngọc; vào các ngày trong tuần, Bá Dương lúc nào cũng quanh quẩn bên cạnh, nhưng vào một ngày Chủ nhật như thế này, khi mọi người đang mải chú ý đến chuyện khác, Mạc Lan càng không đành lòng để Như Ngọc một mình.

Không ai nói với ai câu nào. Ông có vẻ mệt mỏi nên sớm thiếp đi. Mạc Lan ngước lên nhìn bầu trời xanh qua ô cửa sổ duy nhất trổ phía trên cao bức tường đang mở, lắng nghe tiếng lũ sẻ đang lục tục mổ vào mái nhà. Mùa thu sắp qua rồi, khi mùa đông đến, những người bán hàng rong sẽ châm bếp dầu ở các góc phố rồi nướng khoai lang và hạt dẻ trong những đống tro nóng. Những mùa đông trước, Mạc Lan và Bá Dương thường ghé vào một chiếc bếp dầu như vậy, lựa lấy củ khoai to nhất, lớp vỏ màu tía hay màu nâu đã chuyển sang màu than đen và nhăn nhúm. Trong trí tưởng tượng của mình, cô có thể dễ dàng mường tượng ra cảnh Như Ngọc và Bá Dương chia nửa củ khoai, say sưa nhìn nhau cười qua hơi nóng bốc lên từ lớp ruột vàng quánh của củ khoai.

Mạc Lan cắt đứt dòng suy tưởng đó, trong lòng có chút hổ thẹn vì cô đã quá ích kỷ mải mê vào nỗi đau đớn lặt vặt của mình trong khi tính mạng Tiểu Ái đang bị đe dọa. Mạc Lan không tin rằng Tiểu Ái sẽ chết, những ngày này, trước khi Tiểu Ái phục hồi, khiến Mạc Lan nhớ đến lần cô bị ngất trong một nhà tắm công cộng khi còn nhỏ. Bầu không khí trong nhà tắm lúc ấy thật ngột ngạt, hơi nước nóng bốc lên dày đặc, còn người lớn thoải mái trần truồng và ồn ào nói chuyện với nhau; giọng nói của họ, hòa lẫn với tiếng vòi hoa sen chảy, tiếng vỗ nước bì bõm, nghe như từ xa vọng lại; khi chân Mạc Lan bắt đầu mềm và khuỵu xuống, ý nghĩ cuối cùng trong đầu cô là phải giữ thật chặt bánh xà bông vì xà bông thơm giá đắt lắm.

Giờ đây, bất kỳ hôm nào, bất kỳ giây phút nào, Dì hoặc Chú sẽ quay về với những tin tức tốt lành - một sự chẩn đoán chắc chắn, hay tốt hơn, virus đã lui đi, Mạc Lan lại có thể thoải mái hít thở, như khi cô tỉnh dậy trong bầu không khí lạnh lẽo của phòng thay đồ, dù rằng lúc này bánh xà bông đã trượt khỏi tay và không lấy lại được. Một ngày nào đó, những người hàng xóm trong khu tập thể này sẽ nhắc lại khoảng thời gian này là những ngày Tiểu Ái bị ốm một cách bí hiểm, như họ sẽ nói về cái buổi chiều tháng Năm, khi một chiếc xe tăng quân đội bị lật đổ và bị đốt cháy ở một ngã tư gần đó, hay về cái ngày trong tháng Sáu, khi người em họ của thầy giáo Phấn chở ba thi thể trên chiếc xe đạp ba gác từ Quảng trường tới bệnh viện. Có lẽ Mạc Lan thậm chí sẽ còn nghĩ về những ngày này như là sự khởi đầu cho chuyện tình giữa Bá Dương và Như Ngọc nữa ấy chứ. Cuộc đời, khi nhìn lại, có thể giản đơn như một bộ sưu tập các giai thoại, chúng ta sống dựa vào các giai thoại, đánh đổi niềm tin của tuổi thanh xuân vào hạnh phúc - mà ở tuổi đó thì hạnh phúc gần như luôn có nghĩa là sống tốt, sống đúng, và được yêu thương - vì niềm tin rằng cảm giác ít đi thì khổ đau cũng ít đi.

Cánh cổng vào sân mở ra, nhìn cảnh hàng xóm xúm lại cũng đủ biết Dì vừa về. Mạc Lan nhìn vào chiếc đồng hồ đeo tay - 2 giờ, chưa đến lúc đổi ca trực với Chú. Một tia hy vọng chợt lóe lên trong Mạc Lan - chắc chắn bây giờ bác sĩ đã tìm ra cách chữa trị cho Tiểu Ái, nhưng tia hy vọng đó lại tắt lịm khi cô nghe tiếng Dì nói.

“Không, con bé vẫn thế,” Dì nói trong tiếng hỏi han của hàng xóm. “Nhưng một ông bác sĩ hỏi tôi là gần đây con bé có tiếp xúc với hóa chất nào không. Tôi nói nó học khoa thương mại và quan hệ quốc tế, nhưng ông ấy nói các triệu chứng của nó ngày càng khiến ông ấy nhớ đến một ca đầu độc trong những năm 1970.”

“Đầu độc?” Vài người hàng xóm kinh ngạc hỏi lại. “Nhưng sao lại thế được?”

“Tôi nào có biết,” Dì nói. “Chúng tôi không rõ dạo này con bé làm gì, hay gặp gỡ loại người nào đâu. Tôi về nhà sớm là để tìm số điện thoại của bạn học cũ của nó để gọi hỏi xem sao.”

Mạc Lan quay sang nhìn Như Ngọc lúc này đang nhìn Ông thở như bị thôi miên. Mạc Lan do dự rồi nắm lấy khuỷu tay Như Ngọc. “Đi nào,” Mạc Lan nói. “Tôi cần nói chuyện với cậu.”

Như Ngọc không phản đối, cô đưa Mạc Lan vào phòng mình. Cô ngồi xuống cạnh giường và nhìn lên, đôi mắt rất tỉnh táo. Mạc Lan kéo ghế ngồi xuống, cô cảm giác như chính mình vừa thực hiện một tội ác và phải lôi Như Ngọc vào bàn cách giấu tội. “Hóa chất cậu lấy từ phòng thí nghiệm đâu rồi?” Mạc Lan hỏi.

“Mất rồi.”

“Mất đi đâu?”

“Tôi không biết,” Như Ngọc nói. “Tôi để cái ống nghiệm trong ngăn kéo, mà nó mất rồi.”

“Từ bao giờ?”

“Tôi không rõ. Vài ngày rồi,” Như Ngọc nói, bắt đầu tỏ vẻ giận dữ. “Tôi không giống cậu, Mạc Lan, và đây không phải nhà tôi. Không có gì thực sự thuộc về tôi cả. Nếu có ai đó lấy thứ gì của tôi, tôi có thể làm gì ngoài việc nhún vai mà nói, muốn làm gì thì làm chứ?”

Mạc Lan sững sờ, không biết phải nói sao.

“Cậu nghĩ tôi đầu độc chị Tiểu Ái à?” Như Ngọc hỏi, nhìn xoáy vào Mạc Lan với nụ cười khẩy cay độc. “Giờ cậu đi thẩm vấn tôi đấy à?”

“Không! Nhưng cậu có nghe Dì vừa nói gì không? Bác sĩ cho rằng đây có thể là một vụ đầu độc bằng hóa chất.”

“Trước thì họ nói đấy là bệnh viêm màng não. Biết đâu ngày mai họ lại nghĩ ra cái gì khác để nói.”

“Nhưng sao cậu không nói gì khi chị Tiểu Ái bị ốm?”

“Nói cái gì? Tuần trước ai chả bị cúm. Khi đó mọi người bảo đó là bệnh nhiễm khuẩn kia mà.”

“Cậu có nghĩ Tiểu Ái là người lấy hóa chất không?”

“Tôi không biết.”

“Chị ấy có hỏi xin cậu không?”

“Cậu nghĩ khi định lấy cái gì của cậu thì người ta lại đi xin phép à?”

Mạc Lan chỉ muốn túm lấy người Như Ngọc mà lắc. Họ phải cứu một cuộc đời trước khi quá muộn. “Cậu đã lấy gì từ phòng thí nghiệm, cậu có nhớ không?”

Như Ngọc lắc đầu. “Tôi chưa bao giờ nói tôi lấy cái gì cả.”

“Cậu có biết đây là chuyện rất hệ trọng không? Cậu có thể cùng tôi đi nói với Dì và Chú chuyện gì đã xảy ra được không? Chúng ta cần phải gọi Bá Dương và mẹ cậu ấy.”

“Cậu có nghĩ,” Như Ngọc nhướng mắt lên nói, “rằng chị Tiểu Ái muốn như thế nếu chị ấy có ý định tự tử không?”

“Nhưng chúng ta không thể khoanh tay ngồi ở đây.”

“Sao? Khoanh tay ngồi thì có gì sai? Thế giới này sẽ tốt đẹp hơn rất nhiều nếu người ta bớt làm đi,” Như Ngọc nói. “Tại sao tất cả các người lại nghĩ mình có quyền thay đổi cuộc sống của kẻ khác chỉ bởi vì các người muốn như vậy?”

Cơn giận của Như Ngọc khiến Mạc Lan bối rối. Cứ tiếp tục tranh cãi nữa cũng vô ích. Mạc Lan đứng dậy, và cô chợt nhận ra chân mình đang run lên bần bật.

“Cậu định đi đâu?” Như Ngọc hỏi.

“Tôi sẽ đi nói với người lớn,” Mạc Lan nói. “Cậu có đi cùng không?”

Có điều gì đó thật khó hiểu trong mắt Như Ngọc, một sự pha trộn giữa sự thương hại, sự chế nhạo, và sự tò mò. Trong nhiều năm nữa, Mạc Lan vẫn sẽ quay trở lại khoảnh khắc này để ngẫm nghĩ về ánh mắt của Như Ngọc, để tìm kiếm ở đó một nỗi hoảng loạn, tội lỗi, ăn năn, hay sợ hãi - bất kỳ điều gì để có thể hiểu được Như Ngọc - nhưng lần nào cũng vậy, Mạc Lan không tìm thấy gì cả, chỉ là một sự điềm tĩnh lạnh lùng, như thể Như Ngọc đã nhìn thấy trước những gì sẽ xảy ra. Nhưng sao có thể thế được? Ban khả năng tiên đoán cho một đứa trẻ mười lăm tuổi nghĩa là trao cho nó một sức mạnh huyền bí vượt quá năng lực của nó. Tuy nhiên, mỗi lần nghĩ lại khoảnh khắc đó, ánh mắt ấy lại một lần nữa cho thấy nó là một nỗ lực hờ hững của Như Ngọc nhằm ngăn Mạc Lan đừng rẽ vào con đường sai lầm; nhưng vào lúc đó, Mạc Lan đã không nhìn ra, không suy nghĩ, nên không để ý tới lời cảnh báo của Như Ngọc. Đừng nói, ánh mắt ấy nói, giọng cảnh báo hơn là van lơn; hãy ở yên vị trí, ánh mắt ấy nói; hãy tập dượt lời thoại trước khi lên sân khấu; những người không biết nói để tự bảo vệ mình sẽ là những người duy nhất bị phát hiện có tội.

Suốt nhiều năm, Mạc Lan vẫn không thôi mường tượng tình huống sẽ xảy ra thay thế cho cái không nói kia. Đôi khi cô thấy nhẹ lòng hơn khi nghĩ mọi chuyện lẽ ra đã diễn ra thế nào: nếu không có mũi tiêm giải độc muộn màng kia - Xanh Phổ 10 , một cái tên nghe giống tên màu trên giá vẽ của một họa sĩ hơn là tên thuốc trong tủ thuốc của bác sĩ - Tiểu Ái sẽ chết trẻ, một nhân vật nữ chính với cái chết chỉ có thể lý giải bằng định mệnh, một định mệnh vừa không công bằng (để một bi kịch vô nghĩa đổ ập xuống đầu một phụ nữ trẻ vốn đã bị đối xử bất công) lại vừa bao dung (người ta có thể tự an ủi rằng mọi việc biết đâu đã tồi tệ hơn, kéo dài và khiến tất cả cùng phải chịu đựng quá nhiều). Một bí mật có lẽ đã được giữ kín giữa Như Ngọc và Mạc Lan trong một khoảng thời gian, rồi đến một ngày nào đó, như mọi sự kiện khác của tuổi thanh xuân, nó sẽ được gác lại, coi như đã chôn vùi, và không bao giờ còn được phơi bày ra ánh sáng nữa. Có lẽ chuyện tình giữa Bá Dương và Như Ngọc cuối cùng cũng sẽ đơm hoa lành kết trái ngọt, hoặc sẽ đi theo quỹ đạo tự nhiên của mọi mối tình đầu, rực sáng rồi mờ nhạt dần và không để lại tổn thương nào vĩnh viễn. Mà dù theo phương án nào, thì bản thân Mạc Lan và Bá Dương vẫn sẽ là bạn bè, đến một ngày, khi sự việc không còn quá nghiêm trọng nữa, cô sẽ kể cho anh nghe cái bí mật này. Khi đó, họ sẽ lắc đầu, bối rối hay cam chịu, nhưng cái bi kịch ấy đã trôi qua lâu rồi nên họ không cảm thấy hoang mang nữa. Họ sẽ nói với nhau, rằng cuộc đời đã tử tế với họ, dù rằng vẫn có những bí ẩn không được lý giải và không thể lý giải.

“Cứ đi đi,” Như Ngọc nói. “Quyết định nói là của cậu, không phải của tôi.”

Những giây, những phút, những giờ và những ngày sau đó trở thành một đường hầm dài dằng dặc, mà trong đó Mạc Lan là người lữ hành cô độc, bị kéo đi không phải do ý chí của mình mà do dòng thời gian khắc nghiệt, không khoan nhượng; nếu đường hầm đó hết lúc nào thì cô cũng không nhận ra. Một hôm nào đó, khi đã đến Mỹ, cô xem một chương trình quảng cáo cho nhóm hỗ trợ trẻ em tự kỷ trong vùng, trong đó có cảnh một bé gái mặc váy màu tím hoa cà hát và biểu diễn câu chuyện về cuộc chiến vô vọng giữa một con nhện nhỏ xíu chống lại cơn mưa. Hôm ấy trong phòng khách ở Westlawn, ngoài Mạc Lan còn có các bạn cùng phòng khác đang tụ tập ngồi chờ trận đấu mở màn mùa bóng đá giữa đội nhà và đội khách. Không ai để ý thấy Mạc Lan khóc, nhưng từ đó trở đi, cô không bao giờ ngồi xem ti vi khi có họ nữa. Cô không phải là người duy nhất bị mắc kẹt trong chiếc bẫy của cuộc đời. Cô sợ gặp một người khác giống như mình, nhưng hơn thế nữa, cô sợ không bao giờ gặp một người khác giống như mình, một người sẽ nhìn thẳng vào mắt cô, dù chỉ trong thoáng chốc, để cô biết rằng mình không đơn độc trong sự cô đơn của mình.

Kết quả thử máu xác nhận những thông tin mà Mạc Lan cung cấp và tìm ra được hóa chất đã bị lấy đi khỏi phòng thí nghiệm, chất Xanh Phổ đã cứu được tính mạng Tiểu Ái nhưng không cứu được bộ não đã bị hủy hoại của cô. Hẳn là Như Ngọc đã kiên quyết giữ vững lập trường của mình trong câu chuyện này, một câu chuyện mà Mạc Lan chỉ có thể tự mình ráp nối lại dần qua nhiều năm - cô không đủ dũng cảm để đi hỏi người khác, mà nếu có thì cũng không ai chịu cho cô biết điều gì: Như Ngọc sẽ nói, đúng, cô đã lấy trộm hóa chất đó vì tuyệt vọng; không, không có lý do nào cụ thể cho sự tuyệt vọng của cô cả, mà chỉ là một tâm trạng thoáng qua thôi; không, cô sẽ không nói rằng mình là người bất hạnh, nhưng cũng sẽ không khẳng định rằng mình là người hạnh phúc; cô không cho rằng mình cần phải lo lắng khi ống hóa chất bị mất, vì nghĩ rằng ai đó khi dọn dẹp phòng đã vứt nó đi. Cô đã phải trả lời đi trả lời lại các câu hỏi của những người lớn trong khu tập thể, ban giám hiệu nhà trường, ủy ban an ninh của trường đại học, cảnh sát: không, cô không biết ai đã lấy đi chất độc đó; không, cô không hề có kế hoạch giết Tiểu Ái; không, Tiểu Ái không hề nói với cô về chuyện tự tử; cô có nói về chuyện đó với Tiểu Ái không à? Không, cô chỉ nói qua với Mạc Lan thôi; có lẽ Mạc Lan đã kể cho Tiểu Ái; có lẽ Mạc Lan đã lục lọi đồ của Như Ngọc để tìm ống hóa chất đó, hoặc chính Tiểu Ái đã làm; Mạc Lan có nói về chuyện tự tử không à? Không, dĩ nhiên là không rồi; liệu Mạc Lan có ý muốn giết Tiểu Ái không à? Không, cô không nghĩ vậy, nhưng cô chỉ dám khẳng định từ những gì cô biết, mà ở thành phố này cô không thân với ai cả; không, cô không có lý do gì muốn làm hại ai; không, cô không làm gì để gây hại cho ai.

Mạc Lan không biết mọi người đã tin tưởng những lời nói của Như Ngọc đến đâu; nhưng chắc là họ có đủ lòng tin cần thiết, bởi cuối cùng cuộc điều tra cũng dừng lại, để ngỏ quá nhiều khoảng trống để mọi người tha hồ đoán già đoán non: phải chăng trong gia đình đó có hai người cùng có ý định tự tử? Hay phải chăng ý nghĩ tự tử lan nhanh như một loài virus - dù khởi đầu ra sao nhưng rốt cuộc nó đã nhiễm vào cả hai cô gái này, và thật tình cờ làm sao, một người lại thoát được? Có lý do cho sự tuyệt vọng của Tiểu Ái, và cả bằng chứng nữa: việc cô bị đuổi khỏi trường đại học, tương lai bấp bênh của cô, tâm trạng ủ dột của cô, chuyện cô say rượu mà nhiều người đã chứng kiến; mọi người sẽ nhất trí với nhau rằng đó quả là một sự thay đổi lớn của một cô gái năng nổ và nhiều hoài bão như cô. Trường hợp của Như Ngọc lại khó hiểu hơn, dù cô là một đứa trẻ mồ côi được gửi đến chung sống với những người xa lạ, và cô đang ở vào độ tuổi mà các hormone có thể dễ dàng gây ra những tâm trạng khó kiểm soát; đôi khi hàng xóm nghĩ, ai mà biết được chứ, không thể biết gốc gác của cô, nhỡ đâu trong gia đình bố mẹ cô có gen tâm thần thì sao? Việc họ ruồng bỏ một đứa trẻ sơ sinh có thể không chỉ là vì vô trách nhiệm; bất kỳ đứa trẻ mồ côi nào cũng có thể là nguồn gốc của những bí mật đen tối và một lịch sử không lấy gì làm cao quý.

Hai bà dì của Như Ngọc cũng được thông báo qua điện thoại và điện báo. Họ nói tuổi già đi lại khó khăn nên không đến, nhưng họ gửi một bức điện khẳng định họ đã nuôi dạy Như Ngọc trở thành một đứa trẻ biết sợ Chúa, và họ tin rằng cô không nói dối. Bức điện đến khi đang diễn ra một cuộc khủng hoảng khác: Ông bị hôn mê và được đưa vội vào phòng cấp cứu, rồi không bao giờ trở về khu tập thể nữa.

Mẹ Mạc Lan là người ký nhận bức điện. Nhiều tháng sau, khi Mạc Lan tìm cớ ở nhà vào ngày trong tuần - cô bảo mẹ rằng mình mệt, nên mẹ đồng ý cho cô nghỉ học mà không gạn hỏi gì thêm - cô đã tìm kiếm khắp nhà để xem liệu bố mẹ cô có giữ lại thứ gì liên quan đến vụ việc đó không, nhưng chỉ tìm thấy bức điện. Có lẽ mẹ cô đã tế nhị truyền đạt cái thông điệp không lấy gì làm tử tế đó cho Dì và Chú, mà dù mẹ cô không nói thì cũng có quan trọng gì đâu? Vì lúc đó mọi chuyện đã qua rồi: Bá Dương được chuyển sang trường cấp ba liên kết với trường đại học của bố mẹ anh, và chỉ được phép về khu tập thể thăm bà vào cuối tuần; Như Ngọc, với sự giúp đỡ của thầy Thư, vào học nội trú trong trường, khoảng thời gian bốn tháng ngắn ngủi của cô ở khu tập thể này không bao giờ được những người hàng xóm nhắc đến nữa; Ông đã mất, gia đình Tiểu Ái cũng rời sang quận khác sống; họ không bao giờ quay lại nữa, nhưng chưa ai quên họ: mỗi năm hàng xóm lại rủ nhau góp tiền gửi cho bố mẹ Tiểu Ái chăm sóc cô.

Ngôi nhà không người ở để trống trong hơn một năm; ai cũng bảo do phong thủy không tốt nên gia đình đó mới phải chịu hai tai họa ập đến trong một thời gian ngắn. Cuối cùng, một cặp vợ chồng trẻ chuyển đến. Họ đã lấy nhau được ba năm, nhưng mỗi người sống ở một khu tập thể khác nhau do cơ quan phân, chung với những người khác. Họ mừng rỡ vì được phân riêng một căn hộ đến nỗi hàng xóm không dám làm họ mất vui. Nhưng dần dần, câu chuyện này cũng đến tai họ, bởi trong thành phố này, không bí mật nào mãi mãi là bí mật, không lịch sử nào có thể an giấc ngàn thu cả.

Sau khi vụ án khép lại, bố mẹ Mạc Lan không bao giờ nói với cô về nó nữa. Có lẽ họ đã thấy cô khóc trước mặt những người lạ như thế nào, bởi vì không giống Như Ngọc, Mạc Lan không thể trả lời các câu hỏi. Mọi người muốn biết tại sao cô lại không lên tiếng cảnh báo về vụ trộm đó; trước đây cô đã từng chứng kiến các hành vi phạm pháp nào mà không nói cho ai không? Tại sao cô không nói gì với người lớn khi bạn cô nói với cô về chuyện tự tử? Cô có lo lắng cho sự an toàn của bạn mình không? Cô có coi mình là một người bạn có trách nhiệm không?

Mạc Lan không biết Như Ngọc muốn tự tử hay giết người liệu có phải đó chỉ là hai mặt của một đồng xu? Càng cố hiểu Như Ngọc, tâm trí cô càng mơ hồ. Dù sao, cô cũng không lên tiếng phản đối khi rốt cuộc, lỗi lầm lại đổ lên cô nhiều hơn hai người kia, bởi người ta không miễn tội cho sự im lặng của cô dễ dàng như khi họ miễn tội cho khả năng mất trí của Tiểu Ái và Như Ngọc. Mọi người vì bao dung mà không nói thẳng điều này với Mạc Lan - mọi người ở đây nghĩa là tất cả ngoại trừ Bá Dương, anh vẫn luôn có thói quen nhanh chóng rút ra kết luận và không kiêng dè gì mà nói thẳng. “Cậu chưa bao giờ thực lòng quý mến Như Ngọc, có đúng không?” Bá Dương đã hỏi Mạc Lan câu đó trong cuộc nói chuyện thực sự cuối cùng giữa hai người. Lúc đó, anh đã chuyển đi và viết thư hẹn gặp cô vào một buổi chiều thứ Ba. Cô trốn học và gặp anh gần Hậu Hải.

Không phải thế, cô yếu ớt tự vệ.

“Vậy thì tại sao cậu không nói gì? Tôi hiểu vì sao cậu quyết định không báo với người lớn, nhưng sao cậu không nói với tôi?”

Cô không thể nói gì để làm dịu cơn giận của Bá Dương, lúc đó và mãi mãi về sau. Anh đã mất quá nhiều - mối tình đầu, hai người bạn, và ngôi nhà tuổi thơ của mình.

“Cậu nghĩ tôi sẽ yêu cậu nếu Như Ngọc bị loại khỏi đây à? Cậu nghĩ nếu cô ấy tự tử, chúng ta sẽ quay về như ngày xưa à?” Bá Dương hỏi.

Mạc Lan bật khóc, nhưng Bá Dương dường như không vì thế mà khoan nhượng hơn. Anh giận dữ đạp xe lao đi. Hãy xem mày vừa làm gì, một giọng nói ở đâu vẳng lại, nhưng Mạc Lan không biết rằng đó là giọng của chính cô trong tương lai đang thì thầm: Hãy xem mày vừa hủy hoại tất cả rồi.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của yiyun li