Bá Dương nghĩ rằng anh không nên tiếp tục theo đuổi Tư Tá nữa, dẫu vậy, anh vẫn không từ bỏ. Anh nhận thức được rủi ro trong cái cố chấp của mình. Người đàn ông muốn gì khi tán tỉnh một người phụ nữ? Với người vợ cũ, anh trông chờ vào một khởi đầu mới, rằng họ có thể góp những điều tốt đẹp trong quá khứ của mỗi người lại để cùng xây dựng một thế giới mới chỉ có những điều tốt đẹp đó; anh đã không nhận ra rằng khi lựa chọn những gì để đưa vào cuộc đóng góp đó, nghĩa là anh đã rào chắn một phần đời của mình. Anh đã mắc sai lầm đúng lúc, tội lỗi duy nhất của anh là cuộc ly hôn ảnh hưởng tới người vợ cũ nhiều hơn; nhưng đó là điều có thể đoán trước kia mà, vì phụ nữ bao giờ chẳng có nhiều rủi ro hơn đàn ông.
Nhưng còn Tư Tá và anh thì sao? Bá Dương không thể nhìn nhận một cách rõ ràng mối quan hệ giữa họ. Sự sỗ sàng của cô, sự quan sát một cách thận trọng môi trường xung quanh, và vẻ mặt nghiêm nghị của cô đôi khi nhắc anh nhớ tới Như Ngọc, nhưng con tim Tư Tá lại quá nồng nàn, cách cô nhìn thế giới lại quá đạo đức, những ước mơ của cô lại quá nhiều. Hay là anh chỉ đang gượng ghép một vài đặc điểm của Mạc Lan vào một người mà anh mong ước là mối tình đầu của mình? Bá Dương chợt nhận ra cái ngớ ngẩn của khả năng này: nếu không cẩn thận, một ngày nào đó anh sẽ trở thành một lão già lẩn thẩn, cố gắng tìm kiếm trên gương mặt của mọi phụ nữ trẻ nét hao hao nào đó giống người vợ đã quá cố hay mối tình đầu đã trôi qua của mình.
Ngày xưa, đã từng có lúc Bá Dương nghĩ rằng anh yêu Như Ngọc, nhưng giờ đây anh hiểu rằng cái mà mình mong muốn là được cô nhìn nhận, không chỉ trong thời điểm ấy mà trong cả những thời điểm trước và sau đó. Cứ gọi đó là cái cao ngạo của tuổi trẻ, nhưng được nhìn nhận - và được nhìn nhận như một người có cả quá khứ lẫn tương lai - đó chẳng phải là khao khát chân thành nhất của chúng ta đối với tình yêu hay sao? Đó cũng là khao khát tham lam nhất nữa: khi mong mỏi một sự liên tục như vậy, người ta tự đặt mình - với sự kiêu ngạo và ảo tưởng - lên trên sự bào mòn của thời gian.
Tuy nhiên, mong ước được Tư Tá nhìn nhận lại khiến Bá Dương bối rối hơn nữa: anh bị giằng xé giữa khao khát được cô nhìn nhận trong thế giới của anh, trong đó anh có thể tán tỉnh đùa cợt với tình nhân của một đối tác kinh doanh (cũng như anh cho phép họ tán tỉnh Coco, tất cả đều nằm trong những điều khoản đã được chấp thuận chung), và khao khát để Tư Tá không biết gì về phần đời đó của anh cả. Dĩ nhiên, anh không thể một mình che chở cô trước cái thế giới vốn đã suy đồi này, mà anh không hề có ác cảm với nó, trừ khi nó đe dọa đến phong thái thoát tục kỳ lạ ở Tư Tá. Một góc độ nào đó, điều anh mong muốn ở cô là bất khả thi: anh muốn cô đừng thay đổi, muốn cô là người duy nhất trong nơi ở khó vào của cô, mà chỉ mình anh mới có quyền canh giữ - và có lẽ là làm hoen ố - với tất cả sự trần tục của mình. Anh muốn là người tử tế đối với cô, muốn chỉ riêng cô mới được biết anh là người tử tế. Nếu có nhận thấy bất kỳ sự không nhất quán nào giữa hành vi và ý định của anh, cô sẽ hiểu, vì theo kế hoạch của anh, cô ở đó là để nhìn nhận anh không phải như con người anh hiện tại, mà là con người anh lẽ ra đã trở thành.
Những ý nghĩ này, vốn không có khán giả chứng kiến - bạn bè anh đều là những người dễ thích nghi - họ tự sống phần đời của mình. Giá mà anh có thể nói chúng ra lời để trút gánh nặng: bất kỳ thái độ tiếp nhận nào - thông cảm hay chế giễu - đều tốt hơn là im lặng. Bá Dương không phải người quen với sự im lặng.
Việc Tư Tá thoải mái với sự im lặng đó khiến anh bối rối. Họ là gì của nhau, điều đó dường như với cô không quan trọng hay chưa được chắc chắn, mà dẫu nó chắc chắn đi chăng nữa, thì anh cũng không biết điều khoản là gì.
Vì không muốn đưa Tư Tá vào thế giới nơi bạn bè anh và Coco đang choán chỗ, Bá Dương đã phải tạo ra một vị trí cho Tư Tá trong cuộc sống của anh. Hóa ra việc này không quá khó khăn: cô cũng thích những khu phố cổ, một vài nơi còn may mắn chưa bị du khách hay những kế hoạch phát triển sờ tới trong suốt ba mươi năm qua. Những địa điểm như thế này ngày càng ít đi, Tư Tá giải thích cho Bá Dương, như thể đây chưa từng là thành phố của anh vậy.
Một tuần một lần - thường là vào thứ Bảy, nhưng đôi khi là chiều thứ Sáu nếu anh không có thời gian rảnh vào hôm sau - anh lại đưa cô tới một địa điểm trong thành phố lân cận hay một ngôi làng ngoại thành vẫn còn duy trì được vẻ cổ kính. Hàng thật là từ Tư Tá dùng để nói về những nơi này; nếu xuất phát từ một người khác, từ đó sẽ khiến Bá Dương mỉa mai, nhưng với Tư Tá anh cảm thấy bao dung hơn: cô còn quá trẻ để tự miễn nhiễm mình khỏi vốn từ vựng của thời đại cô sinh sống.
Tư Tá có một chiếc máy ảnh phim 120 cũ hiệu Seagull, một loại máy cổ bắt người dùng phải nhìn xuống một tấm đĩa thủy tinh để trông qua ống kính, xoay vặn vài lần để điều chỉnh tiêu cự, và sau mỗi lần chụp được một kiểu ảnh lại quay phần tay cầm để đẩy thước phim lên. Bá Dương vẫn nhớ những món đồ cổ này từ ngày nhỏ, nhưng hồi ấy chúng lại là đại diện cho một địa vị khác, địa vị của những người có khả năng tận hưởng một chút xa xỉ. Bá Dương có thể thấy trong mắt người khác, những buổi đi chơi này thật kỳ cục: một gã trung niên với mái đầu hói phía trước trán đỗ chiếc xe BMW trong một con đường tồi tàn, một phụ nữ trẻ say sưa chụp vết nứt trên những bức tường và đám bụi chất chồng trên một chiếc xe đẩy bằng tre bỏ đi. Anh băn khoăn tự hỏi không biết có khi nào Tư Tá nghĩ rằng cả hai người bọn họ đều là những kẻ giả trang hay không: anh vào vai một người chu cấp, một kẻ bảo trợ ưa nuông chiều của một phụ nữ trẻ, và cô, hầu như không có gì trong tay, vào vai một linh hồn hoài cổ đi tìm kiếm một thời gian đã bị mất từ lâu.
Trong những cuộc đi dạo thế này, họ không bàn đến chủ đề nào cụ thể, một phần vì Tư Tá thường xuyên phải dừng lại và nhìn vào bộ ngắm của máy ảnh. Cô thích cho anh xem những thứ cô nhìn thấy: một chiếc khóa xe đạp han gỉ chăng đầy mạng nhện; một câu khẩu hiệu cũ nằm lộn xộn trên một bức tường gạch, kêu gọi một bước nhảy Cộng sản; một buồng bán thuốc đá và nước soda được tạo nên từ một xe bán tải cũ.
Những thứ làm cô thích thú không hề khiến Bá Dương hào hứng. Chúng đều là một phần trong quá khứ của anh, vốn cũng chưa đủ xa xôi để có thể khoác lên mình bất kỳ vẻ đẹp nào đó trong mắt anh. Nhưng anh thích nhìn cô, khi thì trèo lên một chiếc xe đẩy tay bị lật ngược hay chống khuỷu tay nằm rạp xuống để đọc một lời thề độc nào đó của trẻ con, được khắc lên góc một cánh cửa có lẽ là từ năm mươi năm trước. Nếu có nhận thấy anh đang ngắm mình, thì cô cũng không thay đổi hành vi bản thân chỉ vì ngượng ngùng. Đôi lúc trong anh đột nhiên xuất hiện khao khát muốn được ở trong bộ ngắm của cô, nhưng anh biết không nên đặt mình vào bất kỳ vị trí nào có thể đe dọa đến địa vị của anh. Nếu là một cha nuôi , thì hẳn anh là tuýp trong sạch nhất trong đám đó - anh chưa hề động dù chỉ một ngón tay vào người con gái này. Anh đã thôi tự nhận là người đang tán tỉnh cô, và dường như cô cũng không hề lo lắng về sự thay đổi ấy. Họ đang cùng nhau chơi một trò chơi? Cả hai đều kiên nhẫn, hoặc tệ hơn, tính toán, nhưng Bá Dương thích nghĩ rằng sự nhập nhằng sẽ tự giải quyết chính nó. Anh không vội, thực ra anh còn thích thú với những buổi đi chơi hằng tuần như thế này, không phải vướng bận bất kỳ gánh nặng trách nhiệm nào. Đối với anh, ít ra dự án phụ này - anh còn có thể gọi nó là gì đây? - giúp anh chịu đựng Coco dễ dàng hơn, vì cái bộc trực đến sỗ sàng của Coco có thể cũng mang lại chút gì đó mới lạ.
Có một điều Bá Dương giật mình nhận ra rằng, trong lúc ngắm Tư Tá chụp ảnh, đầu óc anh thường vẩn vơ nghĩ về Dì, về cái chết của Tiểu Ái, và về sự im lặng của Như Ngọc và Mạc Lan. Anh đã ghé thăm hai lần để xem Dì thế nào, nhưng anh không gặng hỏi thêm khi Dì can đảm chứng tỏ sự độc lập của mình trong căn hộ hoang vắng. Anh đã đưa thêm ba tháng lương cho người phụ nữ vẫn thường tới chăm Tiểu Ái cách nhật để Dì có thời gian đi mua đồ ăn hay đi dạo. Đó là người phụ nữ trung niên, bị sa thải khỏi một nhà máy quốc doanh; bà rất cảm kích trước sự hào phóng này của anh, điều đó phần nào khiến bà gần gũi với Dì hơn. Bá Dương biết lúc này đã quá muộn để Dì kết bạn mới hay liên lạc với bạn bè cũ.
Vẫn chưa có tin tức gì của Như Ngọc hay Mạc Lan. Anh băn khoăn không biết nếu thuê người lần tìm tung tích họ thì chi phí sẽ ra sao - chắc chắn là có thể kiếm được ai đó với giá rẻ rẻ trong khu phố Tàu ở New York hay Los Angeles.
“Anh đang nghĩ gì vậy?” Tư Tá hỏi, khiến Bá Dương chợt nhận ra rằng hôm nay anh rất kiệm lời. Họ đang ở gần một ngôi làng lâu đời, nơi có một dải đường sắt bỏ hoang nằm chơ vơ giữa đám cỏ khô, cao vút. Mặt trời tháng Mười hai đã bắt đầu lặn xuống sau những rặng dương, vài chiếc lá còn sót lại trên cành run rẩy trong gió. Trước đó, Tư Tá đã hướng máy ảnh lên chiếc diều rách một nửa, bị kẹt giữa các cành cây; anh thậm chí còn nói đùa rằng chiếc diều đã mai mối những cành cây ấy với nhau, nhưng điều đó cũng không giúp xua tan tâm trạng u ám của anh.
“Làm sao để trở thành một người đàn ông tử tế,” Bá Dương trả lời.
“Anh có phải người tử tế không?”
“Tôi đang cố gắng,” anh nói.
Tư Tá đóng nắp giả da của chiếc máy ảnh, rồi anh đưa cho cô đôi găng tay đã cầm giúp khi cô điều chỉnh các nút bấm của chiếc máy. “Ý anh là những gì anh làm cho tôi là một phần trong cố gắng trở thành người tử tế của anh?” cô hỏi.
“Những gì là những gì?”
“Chở tôi đi đây đó, cầm găng tay giúp tôi, canh chừng không cho ai bắt cóc tôi...”
“Có thể cô không tin, nhưng tôi làm cho người khác nhiều hơn tôi làm cho cô nhiều.”
“Vậy chẳng phải anh đã là người tử tế rồi hay sao?”
Đôi khi Tư Tá đặt những câu hỏi như thể cô đang tán tỉnh anh. Anh ước đó là sự thật.
“Không biết chuyện này nhàm chán với anh ra sao,” Tư Tá nói khi không thấy anh lên tiếng.
“Tôi lạnh hơn là chán,” Bá Dương nói. “Cô có muốn ghé vào quán ăn nào đó không? Đi khoảng mười phút xuống con đường kia có một quán tương đối sạch sẽ đấy.”
“Làm sao anh biết?”
“Tôi biết khu vực này khá rõ,” Bá Dương nói, nhưng anh không giải thích thêm rằng trước đó anh đã giúp một đối tác kinh doanh tìm cách chốt một giao dịch biến khu đất phía ngoài ngôi làng thành một khu nghỉ dưỡng với một vườn nho, vì làm rượu đang trở thành xu hướng mới. Vào phút cuối, hợp đồng không được thông qua, nhưng như thế lại hóa hay. Bá Dương không muốn thành phố để mất một mảng đất hoang cho sự phồn thịnh.
“Anh có biết về tất cả những nơi anh đưa tôi đến không?”
“Ít nhiều đều biết,” Bá Dương nói. “Nhìn chung, tôi muốn biết mình đang làm gì.”
“Vậy anh đang làm gì ở đây?”
“Tận hưởng một buổi đi chơi với cô.”
“Nhưng sao anh lại đồng ý đi, khi mà trời thì lạnh và mọi chuyện lại tẻ nhạt như thế này? Anh có thể dễ dàng tìm ra một cách khác thú vị hơn cho những buổi chiều của mình kia mà?”
“Nếu ý cô là để giết thời gian thì đúng, tôi có nhiều cách khác, nhưng tôi sẽ không gọi đây là thời gian bị lãng phí đâu,” Bá Dương nói, và mở cửa xe cho Tư Tá.
Khi anh khởi động xe, cô tháo găng ra và huơ tay trước máy sưởi. “Đừng làm thế,” anh nói. “Cô sẽ bị cước tay đấy.”
Cô lạ lùng nhìn anh rồi lẳng lặng đeo găng tay vào.
“Sao vậy? Tôi nói gì sai hay sao?”
“Ngày nay có ai còn bị cước tay nữa đâu?”
Bá Dương băn khoăn không biết thông tin đó có đúng không. Anh còn nhớ mùa đông những năm tiểu học, đám con trai đứa nào tay cũng tấy đỏ, sưng húp lên, đám con gái đôi khi cũng vậy, nhưng Mạc Lan thì không bao giờ bị như thế. Cô là người đã nhắc Bá Dương rằng, khi bước vào nhà, không được đi tới lò sưởi ngay mà phải xoa xoa tay trước. Luôn luôn là người đưa ra giải pháp cho mọi vấn đề, Bá Dương nghĩ luôn luôn ở đó, luôn luôn đếm đến đủ một trăm rồi mới cho anh lại gần lò sưởi. Một con người tử tế như thế sẽ mang lại sự an ủi như thế nào? Ít hơn cô hình dung rất nhiều, thật đáng tiếc.
“Trông anh có vẻ bực mình,” Tư Tá nói.
“Tại sao trẻ con bây giờ không bị cước tay?” Anh hỏi.
“Sao chúng phải bị chứ? Không có cước tay thì thế giới này cũng đã đủ tồi tệ rồi.”
Bá Dương nhìn Tư Tá, còn cô chỉ nhìn xuống những ngón của đôi găng tay. Không hiểu vì sao hôm nay tâm trạng cô lại như vậy. “Thế giới sẽ tốt đẹp hơn nếu chúng ta chỉ lo mỗi chứng cước tay,” anh nói.
“Điều đó chắc khiến anh thấy vui lắm nhỉ?”
“Sao?”
“Khi mà điều lo lắng duy nhất của anh về tôi hôm nay là làm sao để tôi không bị cước tay.”
“Sao cô biết đó là điều lo lắng duy nhất của tôi?”
“Sao tôi lại muốn biết?” Tư Tá nói.
“Theo lẽ tự nhiên, người ta sẽ muốn biết suy nghĩ của người khác,” Bá Dương nói. “Tức là trong trường hợp họ ở bên cạnh nhau ấy.”
“Tự nhiên?” Tư Tá chỉ tay vào một con quạ lớn đang dang cánh và nhảy sang bên kia đường, để nhường đường cho họ hơn là bay đi. “Đó là một ví dụ hoàn hảo chứng tỏ rằng ở thành phố này chẳng có gì là tự nhiên cả,” cô nói.
“Sao cô lại nói thế?”
“Chẳng phải khi thấy xe đến gần thì chim phải bay đi sao?” Tư Tá hỏi lại. Cô nói cô đã đọc ở đâu đó nói rằng trạng thái cảm xúc duy nhất của chim chóc là sự sợ hãi.
“Có lẽ lũ quạ này đã quen với ô tô rồi.”
“Chẳng phải như thế có nghĩa là bây giờ chúng không còn cảm thấy sợ nữa sao? Rằng chúng đã bị cướp đi cảm xúc duy nhất của mình sao?”
Bá Dương rẽ vào một con đường nhỏ. Anh linh cảm đã có chuyện gì đó xảy ra. Anh nghĩ lại về buổi chiều nay - lúc chụp ảnh con diều trông cô vẫn điềm tĩnh; lúc anh đến đón cô cũng không có vẻ gì là thiếu nhiệt tình cả. Điều anh nói về chứng cước tay hẳn phải được coi là chu đáo và vô hại chứ. “Tôi không hiểu, cô chỉ đang nói về lũ chim hay còn nói về điều gì khác nữa,” anh nói.
“Lúc nào chẳng có điều gì khác nữa, không phải thế sao?”
Anh nghĩ gì về cô - điều mà anh thậm chí còn không muốn nghĩ đến trong đầu, và cô nghĩ gì về anh - điều mà anh không cách nào biết được - những câu hỏi này luôn theo sát bên họ trong những buổi đi chơi cùng nhau, nhưng họ chưa bao giờ dừng lại và đối mặt với những kẻ bám đuôi thầm lặng này. “Và điều gì ở đây là gì?” Bá Dương hỏi.
Tư Tá chăm chú nhìn về phía trước - chiếc xe đang đi tới cuối con đường thì bị chặn bởi những dây xích thép. Ở mé kia của chuỗi dây xích là một khoảng đất trống. Bá Dương bấm còi, và thấy thấp thoáng có ai đó trong một căn nhà lụp xụp trông ra rồi mở cửa bước ra. Đó là một ông lão, thản nhiên bước qua khu đất trống và báo với họ rằng nơi này không mở cửa. “Không mở cửa?” Bá Dương hỏi. “Gần năm giờ rồi mà.”
“Không mở,” ông lão nhắc lại, với tay lật ngược tấm biển treo trên chuỗi xích để họ đọc. Tấm biển ghi “Đã bán”.
Bá Dương nghiêng người và xin phép Tư Tá, cô ngồi thẳng lại để lấy chỗ cho anh lục tìm trong khoang để găng tay. Cuối cùng anh cũng tìm được đúng gói thuốc lá, vẫn còn một nửa - anh mang theo người ba gói thuốc lá của ba thương hiệu khác nhau, và anh sẽ dùng loại phù hợp tùy vào người mà anh tiếp chuyện. “Bán cho ai hả bác?” Anh vừa hỏi vừa đưa gói thuốc.
Ông lão hít gói thuốc - loại rẻ tiền nhất Bá Dương có trong xe - và gật gù tâm đắc. “City Ocean,” ông trả lời.
City Ocean à, Bá Dương tự nhủ. “Không phải là Metropolitan Ocean đấy chứ?” anh hỏi.
Ông lão nói phải, thực ra đó là Metropolitan Ocean. Bá Dương hỏi thêm vài câu nữa, nhưng ông đều từ chối. “Đi mà hỏi con trai tôi ấy,” ông nói rồi quay đi. Bá Dương tự hỏi không biết có phải ông già đang chơi trò giả ngốc không, mà anh cũng không thể làm gì được nữa, nên anh lùi xe ra khỏi con đường đó.
Họ dừng lại ở một quán ăn khác cách con đường đó vài cây số. Khi người phục vụ mang thực đơn đến, Tư Tá nói cô chỉ muốn một ấm trà nóng. “Cô có bị lạnh không?” Bá Dương hỏi. Lẽ ra anh sẽ tìm cách làm cô vui nếu như không biết chuyện khu đất xung quanh quán rượu cũ đã bị bán cho Metropolitan Ocean. Vì phân tâm nhiều hơn là buồn rầu, anh gọi một ấm trà cho Tư Tá và mấy cái bánh bao để mang đi.
“Sao anh không ăn gì?” Tư Tá nói. “Anh mới nói là anh đói mà.”
“Vì cô cảm thấy không được khỏe, nên tôi muốn quay về thành phố càng sớm càng tốt,” Bá Dương nói.
“Hoặc là anh phải quay về vì lý do công việc, và chuyện tôi cảm thấy không khỏe trở thành một cái cớ hoàn hảo.”
“Tôi không làm việc vào thứ Bảy.”
Người phục vụ, áng chừng độ tuổi trung niên, mang trà ra, Tư Tá tiện gọi thêm món hầm trong thực đơn. “Sẽ phải chờ một lúc đấy ạ,” bà nói, quay mặt hướng về Bá Dương như đã nhận ra vai trò của anh. Bá Dương nói họ còn nhiều thời gian.
“Tôi thấy hôm nay có người không vui,” Bá Dương nói khi người phục vụ đi khuất.
“Đó là một phần trong nỗ lực làm người tử tế của anh phải không, quan tâm đến từng tâm trạng của tôi?”
“Cô là người phụ nữ tính khí ít thất thường nhất mà tôi từng gặp đấy.”
“Vậy ra anh đã có đủ những người phụ nữ có tâm trạng không vui?” Tư Tá hỏi. “Tính đến giờ anh biết được bao nhiêu người rồi?”
“Sao cô lại hỏi?”
“Tôi không được quyền tò mò sao?”
Trong đôi mắt cô anh thấy cả sự thách thức lẫn sự phục tùng; anh chưa thấy ánh mắt nào như vậy. Liệu có phải là cô, vốn là người non kinh nghiệm hơn, cuối cùng đã bị đốn gục, điều mà anh sợ rằng sẽ xảy ra với mình? Bá Dương chợt cảm thấy hả hê - trước lúc đó, anh không hề tìm thấy dấu hiệu nào để chứng tỏ rằng mình tồn tại trong thế giới của cô ngoài vai trò một tài xế và một người bạn đồng hành, và anh vừa cảm thấy lý thú lại vừa khó hiểu trước sự kiên nhẫn của cô. “Dĩ nhiên là cô có quyền tò mò rồi,” anh vừa nói vừa rót trà cho cô. “Nhưng có chỗ này tôi không hiểu: hình như việc tôi nói về chứng cước tay khiến cô phật ý.”
“Tôi có bị cước tay hay không thì có can hệ gì đến anh?”
“Đừng thế, trẻ con quá.”
“Tôi không hiểu tại sao hết tuần này đến tuần khác, chúng ta gặp nhau, đi cùng nhau, ngồi xuống và hàn huyên về những chuyện không đâu, rồi sau đó lại biến mất khỏi thế giới của nhau trong suốt tuần sau đó như không có chuyện gì xảy ra. Anh không thích những bức ảnh của tôi. Anh có nhiều cách hay ho hơn để tiêu khiển. Sao anh lại chiều theo ý thích của tôi làm gì?”
“Tôi còn chưa hề có dịp được xem ảnh chụp khi in ra mà. Làm sao cô biết tôi không thích chúng chứ?”
“Nếu quan tâm thì anh đã hỏi.”
“Hỏi bây giờ có muộn quá không?”
Tư Tá nhìn Bá Dương, sự bối rối hiện rõ trong đôi mắt cô. “Nghe này,” anh nói, liếc mắt nhìn đôi bàn tay cô đang đặt trên bàn, toan đặt tay anh lên đó, nhưng rồi lại quyết định thôi. “Cô phải biết rằng tôi thích cô. Rất nhiều. Nên thời gian chúng ta ở bên nhau như thế nào cũng khiến tôi hạnh phúc.” Liệu có nhầm không khi nói đến từ “hạnh phúc” nhỉ, khi anh còn không thực sự tin là có hạnh phúc? “Tôi chưa bao giờ có cảm giác rằng cô ghét những chuyến đi chơi như thế này, nhưng nếu đúng là vậy, thì nhất định tôi sẽ để cô yên.”
“Tôi không nói là mình ghét chúng,” Tư Tá nói.
“Vậy thì điều gì khiến cô bực mình?”
“Tôi không biết chúng ta là gì của nhau. Có lẽ với anh đây không phải là vấn đề, nhưng nó thật phi tự nhiên.”
“Bạn bè với nhau có gì là phi tự nhiên chứ?”
“Chúng ta không phải là bạn bè.”
“Thế thì chúng ta hoặc là tình nhân,” anh nói, và thấy Tư Tá đỏ bừng mặt - “hoặc là những người xa lạ. Có phải đấy là hai lựa chọn duy nhất không? Không có không gian nào ở giữa để chúng ta có thể cảm mến nhau một cách chân thành sao?”
Nét mặt Tư Tá lộ rõ vẻ đau đớn khi bị dồn vào góc tường bởi một người có đầu óc rõ ràng hơn cô, nhưng sự rõ ràng của anh có thể làm gì ngoài việc khẳng định khoảng cách giữa họ? Sự thực là bất kể họ ở đâu vào thời điểm này - không, trước thời điểm này, trước khi cô đặt ra những câu hỏi mà hẳn mỗi người đều đã và đang tự vấn chính mình - những gì đã có giữa họ trước đây đều tốt đẹp hơn. Tại sao, Bá Dương nghĩ với sự buồn bã mệt mỏi, người ta lại không thể yên ổn ở vị trí họ không thể đặt tên, sao họ lại cứ muốn biết, lúc nào cũng muốn biết, thêm về sự thật? Mà mọi chuyện, một khi đã được lý giải, dù sự lý giải đó là sai hay đúng, đều đi đến kết thúc.
“Tôi có thể kể cho anh nghe một câu chuyện không?” Tư Tá hỏi.
Đừng, con tim anh như muốn hét lên. Đừng kể chuyện của cô cho tôi nghe; tôi không phải là người cô có thể giao phó bí mật của mình đâu. Khi chia sẻ bí mật của cô cho tôi, cô sẽ hoặc là mong tôi gìn giữ nó như một báu vật, hoặc đổi lại, cô mong tôi cũng chia sẻ bí mật của mình. Cô không thấy là tôi sẽ khiến cô thất vọng trong cả hai trường hợp đó hay sao? “Dĩ nhiên là được rồi,” Bá Dương nói. Anh đã biết trước rằng không sớm thì muộn, một trong hai người sẽ đứng ra lái mọi chuyện đi theo hướng này hoặc hướng khác. Ít ra anh cũng nên lấy làm mừng rằng anh không phải là người để mất bình tĩnh trước. “Cô cứ nói đi.”
“Nhưng anh không muốn nghe kia.”
“Dĩ nhiên là tôi muốn chứ,” Bá Dương nói, lảng nhìn ra chỗ khác để tránh ánh mắt chăm chú của Tư Tá. Đây sẽ là cái kết cho một thứ chưa được bắt đầu hẳn hoi; liệu điều đó có giúp mọi việc trở nên dễ dàng hơn cho anh, và cho cô không?
“Tôi biết anh đang nói dối, nhưng hôm nay nói dối tôi cũng được,” Tư Tá nói. “Đã đến lúc phải chấm dứt cái trò ngớ ngẩn là gặp anh hằng tuần rồi giả vờ vui vẻ và bình thường rồi.”
“Tôi chưa hề giả vờ.”
Tư Tá phớt lờ lời Bá Dương, khi cô lên tiếng tiếp theo, trong giọng nói của cô có chút thiếu kiềm chế. Đừng để mất sự bình thản đối với quá khứ, Bá Dương muốn khuyên nhủ cô như vậy; điều mà cô nghĩ là thảm họa một ngày nào đó sẽ khiến cô phá lên cười đấy.
Đúng như anh đoán, câu chuyện xoay quanh một chàng trai và một cô gái - chính là Tư Tá - và kiểu gì rồi cũng có kết cục là một chuyện tình dang dở đầy quằn quại đớn đau. Anh chuẩn bị tinh thần đợi đến khi đến lượt anh phải đáp lại bằng cái gì đó - sự an ủi vỗ về, những lời khuyên thông thái, sự tha thứ.
Tư Tá kể, hai người từng là bạn chơi với nhau, quen thân nhau từ bé. Chàng trai, hơn cô gái ba tháng, vào vai người anh lớn, luôn chăm lo và bảo vệ cho cô gái. Khi bố mẹ họ không có đủ tiền mua thức ăn, chàng trai sẽ bắn chim sẻ bằng súng cao su tự làm, bắt ve sầu bằng gậy tre dính keo, rồi cóc, nhím, châu chấu, tất cả đều được đem vùi trong tro nóng. Chàng trai chểnh mảng chuyện học hành và bỏ học từ sớm; tuy nhiên, anh vẫn được mọi người đánh giá là thông minh, thậm chí trong mắt bố mẹ, sự thông minh ấy còn có thể gây hại cho anh. Khi bố mẹ cô gái không có đủ tiền mua sách cho cô, anh đã dùng sự thông minh của mình để ăn cắp đồ đem bán lấy tiền: đào trộm dây đồng, lấy trộm nhân sâm dại và các loài nấm hiếm sấy khô từ nhà máy đóng gói, những đồ lặt vặt mọi người để ngoài sân nhà. Cô không hề hỏi anh mang những thứ này đưa cho ai, vì từ khi lên mười anh đã giao du với những người có lai lịch không rõ ràng rồi. Cô không tán thành những hành vi xấu xa này, nhưng cũng chưa hề từ chối những gì anh đưa cho. Khi cô rời quê nhà lên Bắc Kinh học đại học, anh cũng đi theo, bỏ lại sau lưng những người bạn mà với họ, lẽ ra anh đã có thể có một cuộc sống thoải mái hơn ở tỉnh lẻ. Tới Bắc Kinh, anh trở thành kẻ tạm trú bất hợp pháp, làm đủ thứ việc và sống một cuộc đời không có gì liên quan đến cuộc sống học đường của cô. Họ gặp nhau mỗi tháng một lần ở một địa điểm xa khuôn viên trường để đi dạo, lúc nào cũng thế, trước khi chia tay, anh lại dúi vào tay cô một phong bì tiền, bảo cô cầm lấy đi mua những bộ quần áo hàng hiệu mà các cô gái khác trong thành phố đang mặc.
“Anh đang nghĩ gì vậy?” Tư Tá ngừng lại hỏi.
“Tôi đang nghĩ rằng trong trái tim ai cũng có một nghĩa trang dành cho mối tình đầu.”
“Dĩ nhiên là với anh, tình yêu của chàng trai chẳng có gì đặc biệt cả.”
“Tôi không nói thế. Cậu ta yêu cô, nhưng câu hỏi ở đây là: cô có yêu - hay đã từng yêu - cậu ta không?”
Tư Tá nhìn anh lạ lùng. “Anh không thể yêu một người đã chết.”
Bá Dương chợt thấy đau nhói, tự hỏi làm sao mình có thể cạnh tranh với một chàng trai trẻ đã chết để giành lấy trái tim của một người phụ nữ đây?
Phần tiếp theo của câu chuyện na ná giống những thông tin được vẫn được đăng tải hằng ngày trong mục tin đô thị của các tờ báo buổi chiều, một thanh niên không có quyền lưu trú hợp pháp ở Bắc Kinh chỉ mang đến cho thành phố sự hỗn loạn và nguy hiểm. Một đêm nọ, chàng trai đột nhập vào một căn hộ do ba phụ nữ thuê ở chung với nhau. Anh cứ nghĩ cả ba người đều đã về quê ăn Tết, nhưng không ngờ một người quay lại sớm. Do hoảng sợ, anh đã đâm người phụ nữ đó đến chết, một phóng viên đang có lịch phỏng vấn một ngôi sao mới nổi trong chính trường trong nước.
Chắc chắn việc chàng trai bị xử tử sẽ mãi mãi là điểm cao trào của một tấn bi kịch mà Tư Tá cho rằng lẽ ra cô đã có thể ngăn cản. Nhưng chàng trai ấy - không được học hành, không có mối quan hệ hay phương tiện gì - không có cơ hội nào ở thành phố này cả. Ngoại trừ chút ít sự cảm thông chiếu lệ cho một cuộc đời bị mất đi, Bá Dương hầu như không có sự thương tiếc nào đối với chàng trai trẻ đó. Mọi cái chết sớm đều có thể được gọi là một bi kịch, nhưng người ta sẵn sàng tiếp nhận vào đầu óc mình bao nhiêu bi kịch? Có những sự mất mát còn tồi tệ hơn: Tiểu Ái chẳng hạn, bị giam cầm trong cơ thể của chính mình suốt hai mươi mốt năm. Cuộc sống mà lẽ ra cô đã có thể tạo dựng - một sự nghiệp xuất sắc, một gia đình thành đạt, những ảnh hưởng đối với nhiều cuộc đời, một khoảng thời gian trên trái đất này đã trôi qua không uổng phí. Liệu anh có thể giải thích cho Tư Tá hiểu rằng đôi khi cái chết là một ân huệ không - rằng để kẻ đã chết tiếp tục sống là một điều còn khủng khiếp hơn thế nữa? Trong một thế giới lý tưởng, cái chết nên là kết thúc của câu chuyện, nhưng trong thế giới này, nơi họ phải chấp nhận sống với sự hỗn loạn, cái chết không bao giờ đặt dấu chấm hết gọn gàng cho bất kỳ cái gì cả. “Bạn cô đã phạm sai lầm,” Bá Dương nói. “Đó là một sai lầm đắt giá. Nhưng nếu tôi là cô, tôi sẽ không tự dằn vặt mình vì một tội lỗi không cần thiết như vậy.”
“Nhưng anh đâu phải là tôi.”
“Cô không thể làm thay đổi nhiều thứ trong cuộc đời cậu ta.”
“Ít ra tôi đã có thể giúp anh ấy tin rằng anh ấy có một cơ hội.”
“Cơ hội gì? Tình yêu của cô, hay một cuộc sống tốt đẹp hơn ở thành phố này?”
“Một trong hai,” Tư Tá ngập ngừng. “Hoặc cả hai.”
“Nhưng cô không yêu cậu ta, cô biết điều đó. Cô không thể kiếm cho cậu ta một công việc tử tế hơn, cô cũng biết điều đó. Nuối tiếc về những điều cô không làm sai thì có nghĩa lý gì? Bất luận ra sao, cái tai họa đó vẫn có thể giáng xuống đầu cậu ta và cô vẫn sẽ ngồi đây day dứt vì đã nói dối cậu ta rằng cô yêu cậu ta.”
Tư Tá có vẻ hơi sốc. “Nhưng trong suy nghĩ của anh ấy, chắc anh ấy đã nghĩ tôi có trách nhiệm phần nào cho tai họa đó.”
“Cậu ta có nói thế với cô không?”
“Anh ấy hay hỏi sao tôi không giống các cô gái khác mà đi tìm một cha nuôi trong thành phố này.”
Bá Dương rùng mình. Anh buồn khi thấy cô có thể dễ dàng nói ra từ cha nuôi như vậy.
“Anh ấy coi tất cả những người đàn ông giàu có hơn, lớn tuổi hơn là kẻ thù. Anh ấy coi những chàng trai trẻ đã được bố mẹ mua nhà cho ở Bắc Kinh và những người đã được thu xếp sẵn công việc tử tế là kẻ thù. Nhưng phải thú thực rằng anh ấy không sai. Anh ấy có gì chứ, ngoài niềm mong mỏi tìm được lý do thuyết phục hơn cho tình yêu của mình?”
Bá Dương cảm thấy một cơn đau nhói, buốt lạnh ở sống lưng. Ở đâu đó, hồn ma của chàng trai ấy hẳn đang nhìn chằm chằm vào anh, đầy căm phẫn, vì anh sở hữu những thứ mà cậu ta sẽ không bao giờ có được.
“Anh ấy luôn nói biết tôi định làm gì,” Tư Tá nói. “Anh ấy nói tôi sẽ bán mình để đổi lấy một cuộc sống thoải mái.”
“Nhưng cô không làm thế.”
“Liệu điều đó có nghĩa rằng tôi chưa từng, hay sẽ không bao giờ nghĩ đến chuyện đó không? Tôi làm gì ở đây với anh nếu không nghĩ đến khả năng đó chứ? Nếu là người đàng hoàng hơn, lẽ ra tôi đã từ chối anh ngay rồi, vì mọi thứ can hệ đến anh đều chứng tỏ rằng anh ấy đúng.”
“Sao chúng ta không nhìn nhận vấn đề theo cách này nhỉ? Cô không từ chối vì tôi không chỉ đơn giản đến rồi nói rằng tôi sẽ làm cha nuôi của cô.”
“Nhưng anh gọi việc mà chúng ta đang làm là gì?”
“Chúng ta đang cố hiểu hơn về nhau mà thôi.”
“Đấy đúng là việc mà chúng ta đang làm à? Chúng ta có hiểu nhau hơn so với bốn tuần trước không?” Tư Tá nói. “Hay chúng ta chỉ tìm cách tránh tìm hiểu về nhau, bởi vì việc đó là quá rủi ro cho anh?”
Một lần nữa, Bá Dương thấy hoảng sợ trước sự thiếu kiểm soát trong giọng nói của cô. “Chứ không phải là rủi ro cho cô sao?” anh hỏi.
“Tôi có gì để mà mất chứ?” Tư Tá nói.
Thái độ thách thức trẻ con của cô khiến anh hoang mang. Anh chưa từng hỏi mình xem liệu cô có xứng đáng với công sức anh đã bỏ ra không, vì hỏi đồng nghĩa với việc thừa nhận rằng chuyện này không chỉ là một trò chơi. Anh đã chắc mẩm rằng mình có thể ra đi bất kỳ lúc nào, nhưng anh không nhận ra rằng cô đã lấy tài sản ký quỹ của mình lúc nào không hay - tài sản ký quỹ cho cái gì? - Danh dự của anh, bình yên của anh, hay thậm chí là niềm hy vọng được cùng cô xây dựng một cái gì đó gọi là cuộc sống. Làm sao anh có thể giải thích cho cô hiểu rằng cô có quá nhiều thứ để mất, không chỉ là ở phía cô mà còn nhân danh anh nữa? “Tôi có thể làm gì để cải thiện tình hình đây?” Anh khó nhọc nói.
“Vấn đề không phải là anh có thể làm gì, anh không thấy sao?” Tư Tá nói. “Vấn đề là anh là loại người gì, nhưng tôi không biết anh là ai, hay là cái gì. Đôi khi tôi nghĩ có lẽ tôi đã sai lầm khi không chọn lấy một lập trường nào cả - nếu tôi chọn lối sống thực dụng, nếu tôi bắt chước những người bạn cùng lớp khác ngay từ năm đầu đại học, biết đâu anh ấy sẽ mất hy vọng ở thành phố này và ra đi. Vậy sao tôi không làm thế? Có phải tôi cho rằng mình xứng đáng có được thứ tình yêu vĩ đại, trong khi những cô gái khác như tôi đều đã đầu hàng thực tại? Nhưng nếu đã không muốn bán mình, lẽ ra tôi phải mạnh mẽ hơn chứ. Lẽ ra tôi phải tin tưởng rằng mình sẽ có thể gây dựng một tương lai với anh ấy ở nơi này, bất chấp khó khăn ra sao; lẽ ra tôi phải nhận những món quà của anh ấy và đền đáp lại bằng...”
Tư Tá đột nhiên dừng lại. Người phục vụ bưng một nồi đang bốc hơi tiến lại và dừng cách bàn họ vài bước chân, sợ rằng không đúng lúc. Tư Tá đỏ mặt quay đi, và Bá Dương ra hiệu cho người phục vụ mang nồi hầm lại. Bà múc xúp vào hai bát rồi chúc họ ngon miệng. Khi người phụ nữ trung niên này quay đi, Bá Dương thoáng bắt gặp một nụ cười mỉa trên gương mặt bà.
“Ăn đi cho nóng nào,” Bá Dương nói.
Tư Tá vẫn ngồi yên, không động vào thức ăn. “Trước lúc anh đến đón tôi hôm nay, tôi đã nghĩ có lẽ chúng ta nên dừng chuyện ngớ ngẩn này lại.”
“Sao cô lại gọi nó là chuyện ngớ ngẩn trong khi với tôi, hai người tìm hiểu nhau là chuyện hết sức hợp lý mà?”
“Sẽ không đi đến đâu đâu.”
“Làm sao biết được nếu chúng ta chưa thử.”
Tư Tá buồn bã nhìn anh. “Anh có biết điều duy nhất có thể giải thoát cho tôi là gì không? Là yêu anh, là khiến anh yêu tôi không, không phải anh, mà là bất kỳ người đàn ông nào ở vào hoàn cảnh tốt hơn người bạn của tôi. Chỉ tình yêu mới có thể giải thoát cho tôi thôi, anh không thấy sao? Nếu tôi có thể chứng minh cho người bạn của mình rằng một người đàn ông giàu có hơn và lớn tuổi hơn anh ấy có thể yêu như anh ấy- anh có hiểu không?”
Liệu anh, hay bất kỳ ai, có thể yêu như chàng trai đã khuất kia?
“Trông anh do dự quá. Mà do dự cũng phải. Anh cảm thấy thách thức này quá lớn, hoặc chỉ riêng việc yêu cầu anh thử cũng đã là không công bằng rồi, vì anh sẽ luôn luôn ngờ vực rằng tôi sẽ so sánh anh với anh ấy, hoặc là tôi sẽ lợi dụng anh. Có lúc tôi cho rằng sẽ tốt hơn nếu tôi tìm một chàng trai khác như anh ấy, không có gì trong tay, chúng tôi sẽ chung lưng đấu cật với nhau. Không, anh đừng cười, anh tin thế là đúng rồi, rằng dù chuyện đó nghe cao cả đến đâu, chúng tôi cũng sẽ chẳng trụ được bao lâu. Đúng, tôi biết thế, nhưng đó không phải lý do khiến tôi không hẹn hò một chàng trai khác giống như anh ấy,” Tư Tá nói, nhìn thẳng vào mắt anh, những giọt nước mắt nãy giờ cô cố kìm lại lúc này đang lã chã rơi. “Nhưng có một chuyện này: nếu tôi có thể xây dựng cuộc sống với một ai đó như anh ấy, tại sao lại không phải là anh ấy ngay từ đầu?”
Tư Tá đột ngột đứng lên và nói cô sẽ quay lại ngay. Bá Dương chợt lo rằng cô sẽ bỏ anh lại - anh có thể hình dung ra cảnh đó, cô lén ra khỏi nhà hàng, đi tới trạm xe buýt gần nhất, hỏi một người qua đường về lịch trình của xe, rồi chơi trò trốn tìm khi anh chạy ra tìm cô. Nhưng cho phép mình hoảng sợ nghĩa là giương cờ trắng đầu hàng một tình huống mà anh nên giữ thế kiểm soát. Để xua tan những ý nghĩ đó, anh lấy điện thoại ra xem trong mấy giờ qua có ai liên lạc với mình không.
Một email từ Như Ngọc đang chờ, trong tài khoản thường dùng của anh, sau này anh mới nhận ra rằng có lẽ cô không mấy khó khăn khi tìm kiếm địa chỉ đó. Anh đã đăng ký vào một số website mạng xã hội bằng email đó, và anh cũng có một trang blog liên kết với nó.
Nội dung email ngắn gọn: Như Ngọc thông báo địa chỉ khách sạn và số điện thoại, kèm lời nhắn rằng cô muốn gặp anh. Cô không nói gì về việc mình sẽ ở lại trong bao lâu, hay khi nào gặp nhau thì tiện cho cô.
Bá Dương thấy lòng bàn tay nhớp mồ hôi. Hợp lý nhất là gọi ngay cho Như Ngọc bây giờ chứ không trì hoãn, dù rằng Tư Tá có thể quay lại bất kỳ lúc nào. Anh nhìn quanh rồi ra hiệu cho người phục vụ mang hóa đơn lại. “Cho vào hộp mang đi phải không?” Bà hỏi, mắt nhìn vào chỗ đồ ăn chưa động đũa.
“Không, cứ mang hóa đơn lại đây cho tôi.”
Người phụ nữ nhìn anh ra vẻ đã biết tỏng rồi. Khi tiến về phía quầy, bà nhìn Tư Tá, lúc này vừa từ phòng vệ sinh nữ bước ra với đôi mắt hơi sưng, bằng vẻ tò mò soi mói đến sỗ sàng. Bá Dương nghĩ bụng, khách khứa ra vào nhà hàng của bà ta nhiều như vậy, hẳn bà ta phải tìm cách nào đó để ghi điểm trong mắt họ rồi, dù cách đó có hợp đạo lý hay không, nhưng chẳng phải tất cả chúng ta đều làm thế hay sao? “Hy vọng cô không phật ý vì tôi đã gọi tính tiền,” anh nói khi Tư Tá ngồi xuống bàn.
Cô lắc đầu và nói đã sẵn sàng để đi.
Trên đường về, anh lái nhanh hơn thường lệ, nôn nóng bấm còi giục những chiếc xe đi chậm và thầm chửi thề những chiếc xe tải. Anh biết Tư Tá đang chăm chú quan sát mình, băn khoăn không biết hành vi này của mình có bị hiểu nhầm không - mà nếu anh bị cô hiểu nhầm thì điều đó bây giờ còn ý nghĩa gì không? Khi họ tiến vào thành phố, giao thông chậm lại bằng tốc độ rùa bò, anh chỉ còn cách thi thoảng lại ép hẳn người vào vô lăng mà tham gia vào dàn đồng ca các loại còi. Lần thứ tư anh làm thế, Tư Tá lạnh lùng nhìn anh hỏi, “Anh có nghĩ rằng làm thế thì thay đổi được gì không?”
“Tôi không làm thế để thay đổi cái gì cả.”
“Than phiền?”
“Phản kháng.”
“Có gì khác nhau giữa hai việc đấy?”
“Phản kháng mang lại cho người ta cảm giác rằng mình là người tốt đẹp hơn,” anh nói. “Chứ thực ra không có gì khác nhau cả, nếu cô hỏi tôi.”
“Anh có hay phản kháng không?”
“Không,” anh nói. “Thường thì tôi không thấy ý nghĩa gì trong việc đó cả.”
“Vậy hôm nay thì có ý nghĩa gì?”
Anh quay sang nhìn cô. “Ý cô là gì?”
“Tôi đoán là có điều gì đó trong những lời tôi nói đã khiến anh rơi vào tâm lý phản kháng như thế này. Đó là điều gì vậy? Có phải tôi đã đi quá đà và chia sẻ quá nhiều thông tin với anh không? Tôi có khiến anh thất vọng vì đã quyết định dừng tham gia trò chơi của anh không?”
Anh thở dài. “Trước giờ tôi đâu có chơi trò gì với cô.”
“Làm sao tôi biết được?”
Làm sao người ta có thể biết gì về người khác? Đầu óc chúng ta, một phiến đá với kích cỡ ban đầu không lớn như mong muốn của chúng ta, ngày càng thu nhỏ lại với cái mà chúng ta gọi là kinh nghiệm: mọi thứ chúng ta kết thúc đều phải có thể dễ dàng xóa bỏ, niềm đam mê này nhường chỗ cho niềm đam mê khác, mối liên hệ này được thay thế bằng một mối liên hệ khác, cũng bấp bênh không kém. Hết lần này đến lần khác chúng ta tự lừa dối bản thân về việc sẽ lại bắt đầu với một phiến đá sạch tinh, nhưng dù lau chùi chăm chỉ như thế nào thì vẫn còn sót lại những dấu vết - những nỗi sợ hãi, những hồ nghi, sự cần thiết của việc phải không ngừng nghi ngờ động cơ của kẻ khác.
Lát sau, khi ngồi ở sảnh chờ của khách sạn, Bá Dương phải cố gắng tập trung suy nghĩ vào Tư Tá; hình ảnh anh đứng cạnh cô trong tương lai trước mắt - ngày hôm sau, tuần sau - mang lại cho anh tâm thế vững vàng hơn khi ngồi chờ Như Ngọc. Tư Tá lẳng lặng không nói gì khi anh thả cô xuống; anh hứa sẽ gọi lại cho cô sớm. Anh sẽ phải nói gì đó với cô trong lần gặp tiếp theo - mà nói cái gì được nhỉ? Cô đã đưa cho anh một tối hậu thư; khi để ngỏ cánh cửa vào quá khứ của cô, nghĩa là cô đã yêu cầu ở anh một sự chân thành mà anh không tin là mình có.
Anh nhìn lên đồng hồ - 7 giờ 10 phút, chưa quá giờ đủ lâu để nghĩ rằng Như Ngọc sẽ đến muộn, nhưng nếu cô thay đổi ý định và không bao giờ xuất hiện thì sao? Anh rút khăn mùi soa ra lau trán, băn khoăn không biết có nên đến quầy lễ tân thông báo mình đã đến không, nhưng như thế sẽ lộ ra rằng anh đang sốt ruột, và tệ hơn, mất niềm tin vào khả năng của cuộc gặp gỡ giữa họ. Anh xếp chân rồi lại duỗi chân, tự nhủ mình rằng đây không phải cuộc hẹn đầu tiên, cũng không phải cuộc gặp phi pháp.
Cửa thang máy mở, Như Ngọc và một vài người khách khác bước ra. Anh nhận ra cô ngay lập tức. Thân hình con gái không còn nữa nhưng vẫn giữ được nét mảnh mai; gương mặt bình thản phảng phất một nét gần như sự mãn nguyện. Bất chấp logic, anh ước rằng cô đi cùng với một trong những vị khách kia và sẽ biến mất trong tích tắc nữa, nhưng những vị khách nhanh chóng mỗi người tản ra một hướng, còn lại Như Ngọc, mắt cô bắt gặp ánh mắt anh nhưng cô không tiến lại gần hơn. Anh đứng lên tiến lại gần. Không biết dùng cử chỉ nào hay tìm lời lẽ nào cho phù hợp để chào hỏi, anh cảm thấy mình lại bị mắc kẹt lần nữa, lúng túng vì chưa đủ sẵn sàng. “Chúng ta gặp nhau rồi,” cuối cùng anh nói.
Như Ngọc nhìn anh, rất chăm chú. “Chắc cậu biết chỗ nào yên tĩnh gần đây, ta có thể ngồi ở đâu để nói chuyện không?”
Tất nhiên rồi, anh trả lời, và nói thêm rằng anh đã gọi đặt trước một phòng riêng ở một nhà hàng gần đây. “Họ nấu đồ ăn Tứ Xuyên. Tôi không chắc là cậu có ăn được đồ cay không, nhưng họ cũng có cả những món không cay rất ngon. Ở ngay bên kia đường thôi, cũng khá sạch sẽ. Nhưng nếu cậu không thích thì chúng ta có thể tìm chỗ khác.”
Cô nói thế cũng được, và anh dẫn đường. Không ai nói gì cho đến khi họ được dẫn vào phòng đặt riêng có cửa kính treo biển “Reuters”; cánh cửa thực chất là gương một chiều, thực khách ngồi ăn trong phòng có thể ngắm nhà hàng mà không bị ai quan sát. Như Ngọc cho anh biết điều đó và hỏi đây có phải nơi dành cho phóng viên ngoại quốc tụ họp không, Bá Dương nói có lẽ vì thế mà căn phòng mới được đặt tên như vậy. Trong nhà hàng còn có các phòng khác có những tên như CNN, BBC, Agence. Không có Tân Hoa Xã à? Cô hỏi, và anh nói không, không ai muốn ngồi ăn trong một căn phòng được đặt theo tên của một hãng thông tấn mà họ không thể tin tưởng được. Như Ngọc nói cô không tin các hãng thông tấn ngoại quốc lại đáng tin cậy hơn. “Tất cả họ đều cùng một giuộc thôi,” cô nói.
“Tất nhiên là không phải thế rồi,” anh nói.
“Họ giống nhau, như con người ta giống nhau vậy thôi,” cô nói. “Nếu không tìm được người nào tử tế hơn ở trong nước, liệu cậu có ra nước ngoài để tìm không?”
“Với cậu thì có lẽ đúng là như vậy, nhưng không có nhiều người được tiếp xúc với thế giới như cậu đâu. Cậu phải để người ta có hy vọng vào điều gì tốt đẹp hơn chứ.”
Người phục vụ bưng trà lại và bắt đầu đọc vanh vách các món đặc biệt ngày thứ Bảy của nhà hàng. Bá Dương ngắt lời, bảo cô để thực đơn lại cho họ rồi chờ ngoài cửa. Cô phục vụ nhanh nhẹn lui ra.
Qua cửa kính, Như Ngọc quan sát người phục vụ đang đứng thẳng người bên cạnh cửa. “Tôi không được tiếp xúc với thế giới như cậu nghĩ đâu,” cô quay sang tập trung vào Bá Dương. “Nhưng thế cũng tốt thôi, vì tôi thấy làm vậy cũng không có ý nghĩa gì cả. Còn cậu, dạo này cậu thế nào? Gác lại mọi kế hoạch của một tối thứ Bảy để đến đây khi nhận được thông báo trong thời gian ngắn như vậy - chắc cậu phải thế nào mới có thể làm được điều đó chứ.”
Lời cô nói hàm chứa những ẩn ý mà anh không thể nhận rõ, hoặc cũng có thể là anh đã quên mất rằng dường như cô lúc nào cũng đòi hỏi nhiều hơn một câu trả lời. “Không gì quan trọng hơn là được gặp cậu,” anh nói.
“Tại sao?”
“Cậu có thường xuyên đến đây đâu. Hay chí ít là tôi không thường xuyên được liên lạc với cậu.”
“Vậy giờ cậu đã liên lạc với tôi và trực tiếp gặp tôi rồi. Giờ thì sao? Cậu có thể về nhà với vợ con, ung dung vì đã gạch được một việc trong danh sách những việc muốn làm rồi. Không phải thế sao?”
“Tôi không có cả vợ lẫn con.”
“Tại sao vậy? Đàn ông tuổi cậu mà vợ con chưa có chẳng phải là không nên sao? Hay là cậu thích cái tự do của một gã độc thân giàu có?”
“Tôi lập gia đình một lần rồi. Nhưng không đến đâu cả.”
“Cậu không muốn thử lần nữa sao?”
“Bị rắn cắn một lần rồi thì người ta đến cái dây thừng cũng còn phải sợ trong mười năm kia mà,” anh nói, chợt thấy có lỗi với vợ cũ. Tuy đúng cô là người phản bội, nhưng việc anh đóng vai nạn nhân lúc này có gì sai chứ? “Còn cậu? Cậu về nước một mình à?”
“Có lẽ cũng công bằng khi cậu muốn hỏi về đời tư của tôi,” Như Ngọc nói. “Tôi kết hôn hai lần. Cả hai đều hỏng cả, dĩ nhiên, cậu có thể dễ dàng hình dung chuyện này.”
“Tôi không hình dung được.”
“Rằng tôi lại thất bại không chỉ ở một mà những hai cuộc hôn nhân?”
“Rằng cậu lại có lúc lấy chồng.”
“Nhưng cậu biết tôi bỏ đại học để lấy chồng mà.”
“Cậu bỏ đại học để sang Mỹ, theo cách nhìn của tôi thì là thế,” Bá Dương nói. “Tôi không tính cuộc hôn nhân đó là thật. Còn cuộc hôn nhân thứ hai - nó có khá hơn... một cuộc hôn nhân kiểu khác chăng?”
Cô lắc đầu. “Cũng vô nghĩa như cuộc đầu.”
“Thế thì lấy chồng để làm gì?”
“Sao lại không chứ? Cậu cũng cưới vợ đấy thôi.”
“Cuộc hôn nhân của tôi là cuộc hôn nhân thực sự,” anh nói. Ít nhất là trong một thời gian; ít nhất là anh muốn nghĩ như vậy.
Như Ngọc cười. Đó là một nét mới; Bá Dương chợt nhận ra rằng anh chưa từng nhìn thấy cô cười. “Dĩ nhiên, tôi không thể bảo vệ những cuộc hôn nhân của mình. Tôi không muốn dùng hôn nhân để giải quyết những vấn đề của mình, nhưng có những vấn đề thực tế. Mà tôi lại không biết xử lý ra sao.”
“Vậy nên kết hôn là lựa chọn duy nhất?” Bá Dương nói, chợt nhận ra câu hỏi này thật khó nghe. Tư Tá sẽ gọi là bán mình.
“Dĩ nhiên không phải là duy nhất rồi.”
“Nhưng là dễ nhất?”
“Đừng tranh luận chuyện này nữa,” Như Ngọc nói. “Tôi không về đây để bàn luận với cậu về chuyện hôn nhân của tôi, và tôi chắc mình cũng không có gì để nói về cuộc hôn nhân của cậu.”
“Cậu về đây làm gì?”
“Để gặp cậu, đương nhiên rồi.”
“Thế thôi sao?”
“Còn ai nữa chứ? Ở đất nước này đâu có nhiều người cho tôi gặp.”
“Các bà dì của cô, họ vẫn... còn ở đây chứ?”
“Họ đang ở với Chúa của họ rồi.”
“Chuyện đó xảy ra khi nào?”
“Có lẽ là chín, mười năm trước.” Như Ngọc đáp. “Không phải nhìn tôi như thế. Tôi biết cậu nghĩ tôi là kẻ vô ơn. Thú thật, tôi chỉ nghe tin sau đó. Không, tôi không về dự tang ai cả.”
“Đặc trưng của cậu là không trở về vì đám tang nào cả.”
Như Ngọc hé miệng như muốn nói điều gì, nhưng rồi cô mỉm cười cho qua. Bá Dương xin lỗi vì giọng điệu thiếu thiện cảm của mình.
“Cậu không phải xin lỗi. Tôi nhẫn tâm đúng như mọi người nói đấy,” cô nói. “Nhưng dù sao, các bà dì cũng sẽ không thích tôi quay về. Cậu thấy đấy, họ đã từ mặt khi tôi rời Trung Quốc đi lấy chồng.”
“Tại sao?”
“Tôi không làm được như họ kỳ vọng, sau đó họ cũng phát hiện ra rằng em trai họ vẫn còn sống ở Đài Loan, con cháu đề huề. Vậy nên mọi việc cũng tốt đẹp cả.”
“Cho ai?”
“Cho họ, và cho cả tôi nữa,” cô nói. “Họ không nuôi dạy để tôi trở thành vợ của ai đó, họ cũng không nuôi dạy để tôi thách thức ý Chúa bằng cách nói đến chuyện tự tử. Nhưng họ không hy vọng tìm lại được em trai, nên tôi đoán rốt cuộc họ là những người hạnh phúc. Có lẽ Chúa của họ quả thực đã nhìn thấy họ hy sinh rất nhiều để nuôi dạy tôi nên ban cho họ một phần thưởng khác tốt đẹp hơn tôi. Ai mà biết được chứ? Có thể họ đã tự bảo với nhau rằng Chúa đã có những kế hoạch khác dành cho tôi, và tốt nhất là họ nên rũ bỏ tôi.”
Bá Dương loay hoay ngồi trên ghế. Trước đây anh từng rất muốn hỏi Như Ngọc về các bà dì của cô, nhưng khi đó anh còn trẻ, không đủ can đảm để hỏi hoặc không tìm được lời nào phù hợp, và giờ thì hai người phụ nữ đó chỉ là những cái tên thoảng qua trong cuộc đời cô. Nếu anh hỏi về hai người chồng cũ, liệu cô có nhún vai nói chẳng có gì để kể không? Có phải mọi người trong cuộc đời cô rốt cuộc cũng đều như vậy không - bản thân anh đã ở vào vị trí đó chưa? Không, anh gay gắt phủ nhận giả thiết này: nếu anh đã trở thành một loại hóa thạch, hẳn cô đã không trở về gặp anh làm gì.
“Những chuyện này có khiến cậu thấy không thoải mái không?” Như Ngọc hỏi. “Ta gọi gì đó nhé, để cô gái tội nghiệp kia không phải đứng đó suốt tối?”
Anh bỏ qua lời gợi ý của cô. “Cậu có... yêu họ không?”
“Các bà dì của tôi hả?”
“Ừ,” anh nói. “Họ có yêu cậu không?”
“Tôi e là điều đó vượt quá khả năng của họ. Tôi cho rằng họ yêu tôi cũng như người ta yêu một con lợn nuôi để làm vật tế thần. Tại sao à? Cậu có nghĩ tôi cay nghiệt quá với họ không? Có lẽ tôi nên rút lại lời nhận xét đó. Không, có lẽ họ yêu tôi theo cách mà tôi không hiểu được. Còn đối với tôi, họ là gia đình duy nhất mà tôi có, nhưng tôi không được nuôi dạy để biết yêu họ, hay bất kỳ người nào khác.”
“Ở vào vị trí đó chắc cũng khó nhỉ.”
“Tôi thì cho rằng không có vị trí nào tốt hơn, đối với bất kỳ ai.”
“Cậu thực sự tin là thế à?” Bá Dương hỏi, nhìn thẳng vào mắt Như Ngọc.
Cô không tránh cái nhìn của anh. “Ít ra là tôi muốn tin như vậy.”
“Cậu có bao giờ thắc mắc rằng điều đó là phi tự nhiên không?” Phi tự nhiên - từ dùng của Tư Tá, nhưng anh có thể dùng cái gì để tự vệ ngoài sự ương bướng của cô gái trẻ đó đây?
“Không có gì là tự nhiên trong cuộc đời tôi cả,” Như Ngọc nói.
“Gồm cả việc cậu trở về?” anh hỏi.
“Thực ra - cậu không cần phải tin điều này - trở về dường như là điều tự nhiên nhất từng xảy ra với tôi.”
“Có phải cậu trở về vì chị Tiểu Ái mất?”
Rất lạ lùng, mắt Như Ngọc thoáng trở nên mơ hồ xa xăm. “Không,” cô nói. “Nếu là vì chị ấy thì tôi đã về sớm hơn để kịp dự tang lễ.”
“Tro cốt của chị ấy vẫn chưa được chôn cất.”
“Sao lại chưa?”
“Tôi không biết. Có lẽ Dì chưa đành lòng chôn cất chị ấy.”
“Dì thế nào rồi?”
“Tôi có thể đưa cậu tới thăm Dì tối nay,” anh nói. “Hoặc ngày mai. Hoặc bất kỳ lúc nào.”
“Tôi nghĩ ta nên gọi món thôi,” Như Ngọc nói rồi vươn người gõ vào cửa sổ. Người phục vụ xuất hiện ngay. Không hỏi ý kiến Bá Dương, Như Ngọc tự gọi đủ đồ ăn cho cả hai người.
“Tại sao lại thay đổi chủ đề vậy?” Bá Dương hỏi, chăm chú nhìn người phục vụ đóng cánh cửa phòng sau lưng. “Cậu không muốn biết Dì đã chật vật sống ra sao suốt những năm tháng qua sao?”
“Tôi chưa từng gặp người nào trên thế giới này không sống chật vật cả,” Như Ngọc nói.
“Đó là một câu nói khá nhẫn tâm đấy,” Bá Dương nói.
“Nhưng nó đúng. Cậu định bóng gió rằng tôi chịu trách nhiệm cho sự chật vật của Dì và tôi nên ăn năn vì điều đó à. Nhưng vấn đề là, nếu không có sự chật vật này thì sẽ lại là sự chật vật khác mà thôi. Nếu Tiểu Ái không bị bệnh, chị ấy rồi vẫn sẽ khiến Dì phải đau lòng.”
“Tiểu Ái không bị bệnh. Chị ấy bị đầu độc.”
Như Ngọc lặng yên, nét mặt lạnh lùng - quen thuộc với Bá Dương hơn.
“Sao vậy? Cậu không thích tôi nhắc lại chi tiết đó sao?”
“Cậu,” Như Ngọc nói, nhìn vào Bá Dương và lần đầu tiên cô tỏ ra bối rối, “muốn tôi nói gì?”
“Cậu có đầu độc Tiểu Ái không?”
“Có phải đó là tất cả những gì cậu muốn biết?”
“Tôi cho rằng, ở góc độ nào đó, tất cả mọi người đều muốn biết,” Bá Dương nói. “Tôi chưa bao giờ hết băn khoăn về điều đó.”
“Tất cả mọi người là những ai?”
“Tôi, bố mẹ tôi, Dì và Chú, những người hàng xóm.”
“Cả Mạc Lan nữa chứ?”
Trước đó Bá Dương vốn vẫn băn khoăn không biết chuyện này sẽ diễn ra khi nào và như thế nào - anh không đủ dũng khí để đưa tên Mạc Lan vào trong câu chuyện giữa họ. “Tôi cho rằng cô ấy chắc cũng muốn biết,” anh nói.
“Dạo này cô ấy sao rồi? Cô ấy ở đâu?”
“Tôi không biết.”
“Cậu không giữ liên lạc với cô ấy à?”
“Có, giữ liên lạc như cách tôi giữ liên lạc với cậu thôi, nhưng tôi chưa bao giờ nhận được hồi âm của cô ấy.”
“Cậu không tò mò muốn biết cô ấy ra sao ư? Bố mẹ cô ấy còn ở đây chứ?”
“Còn, nhưng tôi không hỏi họ. Nhiều năm rồi tôi chưa nói chuyện với họ.”
“Tại sao vậy?”
“Cô ấy có quyền tránh xa mà.”
Như Ngọc cười. “Thật đáng buồn cho cô ấy.”
“Tại sao?”
“Nếu trước đây cô ấy quan trọng với cậu hơn so với bây giờ, hẳn cậu đã lùng sục tìm kiếm cô ấy,” Như Ngọc nói. “Thế giới này có phải là nơi người ta có thể ẩn nấp mãi được đâu.”
“Có lẽ tôi có lý do để không tìm kiếm cô ấy.”
“Vì thế mà tôi mới thấy đáng buồn cho cô ấy.”
“Tại sao kia?”
“Cô ấy quấn quýt với cậu vậy mà, chẳng phải thế sao?”
“Ai chẳng có những tình cảm vương vấn đầu đời. Nhưng đó không phải là lý do để tôi tiếp tục ở trong thế giới của cô ấy,” Bá Dương nói.
“Tôi nhớ chị Tiểu Ái có lần nói Mạc Lan chỉ là một đứa trẻ,” Như Ngọc nói, nét mặt trở nên mơ hồ. “Đứa trẻ tội nghiệp.”
“Ý cậu là sao?”
“Khi chúng ta biết cô ấy, Mạc Lan thực sự chỉ là một đứa trẻ, chẳng phải thế sao?” Như Ngọc nói. “Tôi vẫn luôn thấy tiếc vì tất cả những việc đã xảy ra với cô ấy.”
“Chỉ với cô ấy thôi sao?” Bá Dương hỏi, trong lòng chợt thấy phẫn nộ. “Còn tôi không phải là một đứa trẻ sao? Chết tiệt, chị Tiểu Ái khi đó cũng mới chỉ hai mươi hai tuổi. Xét ở khía cạnh nào đó, chẳng phải chị ấy cũng là một đứa trẻ hay sao?”
Như Ngọc nhìn Bá Dương như thích thú trước cơn giận dữ của anh. “Ồ, đừng làm ra vẻ cuộc đời cậu đã bị hủy hoại thế. Theo hình dung của tôi, cậu vượt qua chuyện đó an ổn mà - phải thế không?”
Anh muốn nói rằng sự thật không phải thế. Anh muốn kể ra những năm tháng đã tận tụy chăm sóc Tiểu Ái, nhìn cô tàn tạ đi mỗi ngày, giấu không cho vợ cũ và bạn bè biết về cô, chia cuộc đời của anh thành hai phần riêng biệt mà không phần nào đủ thật để sống cả. Nhưng bất kể điều gì anh nói cũng chỉ càng khiến Như Ngọc thêm phần thích thú mà thôi. “Vậy đúng là cậu đã đầu độc Tiểu Ái, phải vậy không?” Anh hỏi. Anh chỉ còn câu hỏi đó làm vũ khí.
“Tôi không có ý định giết chị ấy,” Như Ngọc nói. “Thế này mới đúng, tôi không có ý định không giết chị ấy và để chị ấy trở thành gánh nặng cho cậu và những người khác. Nhưng có câu nào trong hai câu trên là đúng không? Không, tôi khẳng định là không. Tôi thậm chí còn không biết mình có muốn chị ấy uống liều thuốc độc đó hay không. Chị ấy đã uống nó trước khi tôi kịp quyết định.”
“Ý cậu là sao?”
“Nếu trong phòng có một cốc nước cam mà chị ấy phải uống chung với người khác, chị ấy sẽ cho rằng mình là người sở hữu nó. Sao chị ấy lại không hỏi tôi trước xem tôi có muốn uống không chứ? Chị ấy nghĩ mình có quyền đối với mọi thứ.”
“Vậy là cậu đã dùng cốc bột cam Tang,” anh nói. “Tôi cứ băn khoăn chuyện đó mà.”
Cánh cửa mở ra, và người phục vụ đẩy xe thức ăn vào. Bá Dương nhìn chỗ đồ ăn; anh chợt nhận ra rằng đây sẽ là bữa ăn thứ hai trong ngày mà anh phải trả tiền dù không ai động đũa vào. Như Ngọc chỉ vào các món ăn, nhưng anh lắc đầu.
“Tôi không bỏ thuốc độc vào đâu,” cô cười nói.
Bá Dương chỉ muốn đánh cô, khiến cô phải ăn năn, nhưng hơn thế nữa: khiến cô phải khóc, khiến cô phải cảm nhận được nỗi đau, khiến cô bị tổn thương và không bao giờ hồi phục.
“Cứ tự nhiên đi,” Như Ngọc nói, bình thản quan sát anh. “Nếu điều đó khiến cậu cảm thấy khá hơn.”
“Gì kia?”
“Trông cậu như đang muốn tát tôi vậy.”
Bá Dương thấy đau nhói. Vẫn là Như Ngọc bất khả hủy hoại, bất kể cuộc chạm trán giữa họ diễn ra ở đâu trong cuộc đời. Phải chăng tình yêu thời thanh xuân anh dành cho cô chính là niềm khao khát làm cô suy yếu đi để cô cần đến anh? Niềm khao khát muốn được đánh cô bây giờ - liệu có phải đó là cách duy nhất của anh để yêu cô? “Tôi không đánh phụ nữ,” anh nói.
“Hoặc cũng có thể là cậu muốn giết tôi,” Như Ngọc nói. “Điều đó cũng dễ hiểu thôi.”
“Tại sao tôi lại muốn giết cậu chứ?”
“Đó là một cách để hủy diệt tôi,” Như Ngọc nói. “Không có nhiều cách đâu. Nếu tôi là sát thủ thực sự - cậu thấy đấy, tôi không tự bảo vệ mình theo bất cứ cách nào, nhưng tôi có thể nói với lòng thành thật tuyệt đối rằng đó phần nào là một vụ tai nạn với chị Tiểu Ái xuất phát từ sự do dự của tôi - nhưng nếu tôi là sát thủ thực sự, tôi sẽ tìm kiếm ai đó giống như mình. Mà chị Tiểu Ái thì không phải loại người đó. Đúng, tôi khinh miệt chị ấy, và tôi thương hại chị ấy, nhưng cậu phải hiểu rằng cả hai điều đó đều chưa đủ gom thành một lý do để người ta ra tay sát hại ai.”
“Ý cậu là cậu định tự tử? Chẳng phải cậu đã từng lấy đó là lý do biện hộ cho mình sao?”
“Cậu có thể gọi đó là lời nói dối cũng được. Tôi chưa bao giờ có ý định tự tử cả. Người ta hoặc là có thiên hướng đấy, hoặc là không,” Như Ngọc nói. “Tôi không có. Tất cả những gì tôi muốn nói ở đây là, tôi sẽ ít khoan nhượng hơn nhiều nếu tìm được ai đó giống như tôi.”
“Cậu đã tìm được ai giống như cậu chưa?”
“Mọi người nhìn chung đều tử tế hơn tôi,” Như Ngọc nói.
“Nhưng cậu có bao giờ cảm thấy tội lỗi không?”
“Về cái gì kia?”
“Về chị Tiểu Ái,” Bá Dương nói. Và về Mạc Lan, và anh, và tất cả những người bị bỏ lại đằng sau.
“Tôi chỉ muốn quan tâm đến chuyện riêng của mình. Nếu có thứ thuốc độc nào tôi trộn vào và để lên bàn, đấy cũng là chuyện riêng của tôi,” Như Ngọc nói. “Vấn đề của Tiểu Ái, cũng như vấn đề của rất nhiều người, là không biết làm sao để đừng bận tâm vào chuyện của người khác.”
“Đúng, chị ấy có thể hống hách. Chị ấy có thể thiếu thân thiện. Nhưng liệu như thế đã đủ để chị ấy phải chịu đựng như vậy chưa?”
Như Ngọc ngừng lại một lúc. “Thú thực, đó là cái không may của chị ấy.”
“Cậu có trái tim không vậy? Cậu không có chút hối hận nào hay sao?”
“Hãy kể ra cho tôi một người có thể được lợi từ việc tôi có trái tim đi.”
Bá Dương nhìn thẳng vào Như Ngọc. Gương mặt cô bộc trực, không hề có nét oán giận nào, có thể là gương mặt của con người ngây thơ nhất.
“Cậu có thấy thoải mái hơn nếu tôi nói dối rằng mình hối hận không?” Như Ngọc nhẹ nhàng hỏi.
“Tôi không biết.”
“Tôi cũng nghĩ vậy đấy,” Như Ngọc nói. “Không, chẳng thể thay đổi được gì cả. Cậu bảo tôi đến thăm Dì. Nhưng cậu cho rằng việc gặp tôi sẽ giúp gì được cho Dì à? Không, tôi không nghĩ vậy. Người ta xứng đáng được sống trong thanh thản, mà tôi thì không phải loại người có thể để cho ai được thanh thản cả.”
“Vậy sao còn quay về gặp tôi làm gì? Tôi không xứng đáng được sống trong thanh thản sao?”
“Cậu muốn tôi đừng quay về phải không?” Như Ngọc dịu giọng nói. “Cậu đã tìm được sự thanh thản chưa? Tôi vừa khuấy tung sự thanh thản đó khi về đây tìm cậu à?”
Bá Dương lắc đầu. Anh biết, sự thanh thản không phải là điều anh mong muốn vào lúc này.