Thật cũng hơi kỳ - tôi vốn không thích nói quá nhiều bản thân và việc riêng của mình với những người thân trong gia đình và với bạn bè gần gũi - ấy thế mà lần này đã là lần thứ hai trong đời, tôi lại bốc lên trình bày tự truyện trước công chúng độc giả.
Lần đầu cách đây khoảng ba bốn năm gì đấy, tôi đã ưu đãi bạn đọc một cách vô cớ - chả có chút lý do nào mà độc giả khoan dung hay tác giả “không mời mà nói” này có thể viện ra được để biện hộ - món quà ưu đãi lần ấy là một mẫu chuyện mô tả cuộc sống của tôi trong không khí tĩnh mịch sâu lắng tại một ngôi nhà mục sư cổ. Còn lần này thì vì tôi đã vinh hạnh – quá mức xứng đáng với mình – được một vài bạn đọc lắng nghe chuyện tôi trong dịp trước, nên tôi lại mạn phép níu áo độc giả để xin kể câu chuyện về ba năm tôi sống ở một phòng thuế quan. Quả là cái gương của anh chàng “P.P.” trứ danh. “tu sĩ của sứ đạo này” chưa bao giờ được noi theo một cách trung thực hơn thế. Tuy nhiên, tôi thấy thực sự dường như là : khi tác giả tung những trang tâm hồn của mình bay đi theo cánh gió, thì không phải chàng ta muốn nói với số đông là những kẻ sẽ quẳng cuốn sách của chàng sang một bên hoặc không bao giờ cầm lấy nó, mà là muốn trò chuyện cùng số ít, là những kẻ sẽ hiểu chàng hơn phần lớn những bạn học hoặc bạn đời của chàng. Một số tác giả lại còn đi xa hơn thế nữa, họ tự cho phép mình rủ rỉ những điều tâm sự sâu kín đến mức chỉ đáng thổ lộ duy nhất với một trái tim và một khối óc nào đó hoàn toàn thông cảm với mình ; như thế là cuốn sách in xong, được phóng thả khắp cõi đời rộng lớn, chắc chắn sẽ tìm ra một mảnh bị chia cắt của bản thân nhà văn lạc loài giữa không gian ngoại cảnh và đưa anh ta ghép lại với nó để nối trọn mạch vòng đời của anh. Tuy nhiên, nói ra tất cả mọi điều chắc là không phải phép, ngay cả khi chúng ta không ám chỉ riêng ai. Nhưng vì lẽ tư duy dễ bị đông cứng lại và sự phát biểu bị tê cóng không thốt nên lời, trừ phi giữa người nói với người nghe có mối quan hệ chân tình thực sự, cho nên có thể là ta đáng được tha thứ nếu ta hình dung có một người bạn nào đó, tuy không phải là thân nhất, nhưng là người bạn tốt bụng và tri kỷ, đang lắng nghe ta nói ; và vậy là băng giá của sự dè dặt bẩm sinh sẽ tan ra dưới hơi ấm của lòng hiểu biết nồng hậu ấy, khiến chúng ta lại có thể huyên thiên về những sự kiện chung quanh ta và ngay cả về bản thân ta nữa, tuy nhiên vẫn giữ cái “Tôi” sâu tận đáy lòng nằm yên đằng sau tấm màn che kín. Theo tôi, hình như là ở chừng mực đó, trong phạm vi giới hạn đó, một tác giả được phép trình bày tự truyện mà không phạm đến quyền của người đọc hay quyền của bản thân mình.
Các bạn cũng sẽ thấy rằng bức phác họa Phòng Thuế quan này mang một tính hợp thức nào đó đã luôn luôn được thừa nhận trong văn học, vì nó sẽ giải thích lý do làm sao mà tôi đã thu thập vào tay mình một phần lớn tư liệu trong những chương tiếp sau đây, và vì nó cung cấp những bằng chứng về tính xác thực của câu chuyện kể trên những trang ấy. Tóm lại, chỉ có lòng mong muốn tự đặt mình vào đúng vị trí là người biên tập, hoặc hơn thế một chút xíu thôi, của câu chuyện dông dài nhất trong tập truyện của tôi 1 – chỉ có điều đó, chứ không có gì khác nữa, là lý do thực sự khiến tôi đem cá nhân mình ra kể lể với công chúng. Trong khi thực hiện mục đích chủ yếu ấy, tôi thấy hình như là mình có thể được phép gia thêm vào bức họa một vài nét chấm phá để miêu tả sơ qua một cảnh sống chưa từng được nói đến, cùng với một số nhân vật hoạt động giữa khung cảnh ấy, trong số đó tình cờ cũng đã có mặt tác giả cuốn sách này.
Tại thành phố Salem quê hương tôi ở đoạn đầu một cái bến trước kia vốn là một cầu tàu nhộn nhịp sầm uất vào thời Lão vương Derby cách đây khoảng một nữa thế kỷ - nhưng nay thì chỉ còn mấy dãy nhà kho bằng gỗ đã đổ nát, và ít có hoặc không có biểu hiện gì của cuộc sống giao lưu buôn bán, trừ một chiếc thuyền ba buồm hay hai buồn gì đấy, ghé vào nửa vời bên bờ cảng dài đượm vẻ ưu sầu, dỡ lên những món hàng da sống, hoặc một con thuyền nhỏ kiểu Nova Scotia đỗ vào sát hơn, tung lên bờ những đống cũi – vâng, tôi xin kể lại rằng ở đầu cái bến tàu đã tàn tạ ấy, người ta tìm thấy một dinh thự bằng gạch rộng lớn. Bờ cảng thường bị nước thủy triều tràn ngập. Dấu vết của nhiều năm dài vô vị lững lờ trôi qua còn ghi lại ở một rìa cỏ hoang dại chạy dọc bến, dưới chân móng đằng sau dãy nhà ven cảng. Các cửa sổ mặt trước dinh thự to lớn kia nhìn xuống khung cảnh ấy, một khung cảnh chẳng lấy gì làm sinh động cho lắm,
và từ đó nhìn ra bao quát toàn bến cảng. Ngự trị ở điểm cao nhất trên mái dinh thự, trong thời gian đúng ba tiếng rưỡi đồng hồ mỗi buổi sáng, lá cờ nước cộng hòa khi bay khi rủ, tùy lúc trời có gió hay không ; nhưng mười ba cái vạch trên cờ không nằm theo chiều ngang mà lại nằm theo chiều dọc, chứng tỏ đây không phải là một trụ sở nhà binh, mà là một cơ quan dân sự của chính quyền Chú Sam. Công trình trang trí mặt trước ngôi nhà là một hành lang với sáu trụ gỗ trên có ban công, bên dưới là những bậc thềm đá hoa cương thênh thang xuống đến tận đường phố. Trên lối ra vào, lơ lửng một hình mẫu to tướng của chú đại bàng tượng trưng cho nước Mỹ, cánh dang rộng, một cái khiên trước ức, và nếu tôi nhớ không sai, mỗi chân của chú quắp một bó vừa lưởi tầm sét vừa mũi tên có ngạnh trộn lẫn. Với đặc điểm tính khí thất thường của loài chim hung bạo này, chú có vẻ như muốn dùng sự dữ tợn của chiếc mỏ khoằm và đôi mắt, và thái độ nói chung là hùng hổ của mình để đe dọa những ai định gây tổn hại đến cộng đồng lương thiện ; đặc biệt là để cảnh cáo tất cả những công dân biết giữ mình hãy chớ có xâm phạm đến những tài sản mà chú bảo vệ dưới đôi cánh rộng của chú. Tuy nhiên, dù rằng chú đại bàng liên bang có cái vẻ gây gổ như vậy, nhưng chính vào lúc này lại có nhiều kẻ đang tìm sự che chở dưới đôi cánh của chú ; tôi cầm bằng là họ hình dung bộ ngực của chú hoàn toàn mềm dịu và ấm áp y hệt chiếc gối lông vịt biển. Thế nhưng ngay cả vào thời điểm chú dễ tính nhất, chú đại bàng này cũng chả dịu dàng gì lắm, và sớm muộn gì – thường sớm hơn là muộn – chú ta cũng rất có thể sẽ hất tung những con chim non rút đầu nép mình vào ngực chú, sau khi dùng vuốt cào ra, dùng mỏ mổ, hoặc dùng những mũi tên có ngạnh quặc cho bị thương đau.
Trên mặt nền bốn chung quanh tòa dinh thự mô tả trên đây – xin phép giới thiệu ngay : đó là Phòng Thuế quan của cảng – cỏ mọc khá xanh tốt giữa các kẽ của những tấm đá lát, chứng tỏ là suốt thời kỳ vừa qua không có nhiều bước chân người lui tới. Tuy nhiên, trong một vài tháng cuối năm, củng thường có những buổi sáng nào đó bỗng nhiên công việc giao dịch rộ lên với một nhịp độ sôi nổi hơn hẳn. Những dịp như vậy có thể gợi cho người công dân lão thành nhớ lại cái thời xa xưa ấy, trước cuộc chiến tranh cuối cùng với nước Anh, khi mà tự thân Salem còn đàng hoàng là một hải cảng thực sự ; không phải như hiện nay bị các lái buôn và chủ tàu của chính mình rẻ rúng, bỏ mặc cho các bến tàu của Salem rơi vào cảnh tàn tạ suy đồi trong khi công việc kinh doanh của họ chuyển sang tăng thêm một phần chả đáng là bao và không cần thiết cho làn sóng buôn bán vốn đã dân trào cực thịnh tại Niu York hoặc Boston. Vào những buổi sáng như vậy, khi có ba bốn chiếc tàu tình cờ cập bến Salem cùng một lúc – thông thường từ châu Phi hoặc Nam Mỹ tới – hay sắp rời cảng đi về những miền đó, thì liên tục có tiếng những bước chân nhanh nhẹn lên xuống các bậc thềm đá hoa cương. Tại đây, ngài có thể chào đón người thuyền trưởng vừa mới chân ướt chân ráo lên cảng, ngay cả trước khi ông ta được bà vợ yêu đón mừng, khuôn mặt ông đỏ ửng vì nắng gió đại dương, nách cặp chiếc hộp sắt tây đã xỉn đựng giấy tờ hàng hải. Cũng tại đây, ngài được gặp người chủ chiếc tàu ấy, sắc mặt hớn hở hoặc tối sầm, thái độ hào hoa hay cáu kỉnh, tùy theo kết quả chuyến đi biển đã kết thúc của ông có biến được ý đồ ông thành hiện thực dưới dạng hàng hóa sẵn sàng đổi thành vàng, hay là chôn vùi ông dưới đống của nợ ế ẩm chẳng ma nào buồn rước đi hộ. Và cũng tại nơi đây, chúng ta thấy có mặt chàng thư ký tàu buồm trai trẻ tinh ranh – chồi non sẽ trở thành nhà buôn tương lai râu lốm đốm hoa râm và vầng trán nhăn nheo đầy tư lự - chàng trai đã sớm bén mùi buôn bán như chú sói con bén mùi máu tươi, đã dám liều đội chuyến hàng trên tàu của chủ, trong khi đáng ra chàng chỉ nên chơi với những mô hình tàu thủy trong bể nước ở nhà. Một loại nhân vật khác cũng có mặt giữa khung cảnh này, là chàng thủy thủ sắp ra nước ngoài, đến đây xin một tờ chứng nhận : hoặc người thủy thủ ốm từ biển trở về, xanh xao suy nhược, đến xin giấy đi bệnh viện… Chúng ta cũng không nên quên kể đến những thuyền trưởng của những con tàu nhỏ cổ lỗ trở củi từ tỉnh lẻ nước Anh tới đây : một hạng gấu biển có vẻ thô lổ, không có cái phong thái linh lợi của người Niu Inglơn 2 , nhưng đã đóng góp một phần không phải là không đáng kể cho nền thương nghiệp đang sa sút ở nơi đây.
Tất cả những cá nhân ấy đồng thời quy tụ lại, thỉnh thoảng vẫn có lúc như vậy, cùng với một số nhân vật linh tinh khác thành một đám người nhiều màu nhiều vẻ, và thế là họ biến Phòng Thuế quan giữa lúc như thế này trở thành một khung cảnh sôi động.
Thế nhưng, nói chung, khi ngài trèo lên hết các bậc thềm, cái cảnh mà ngài thường hay nhìn thấy hơn là – ngay ở lối ra vào nếu là mùa hè, hoặc trong từng buồng làm việc nếu là mùa đông hay vào lúc thời tiết khắc nghiệt – một dãy những nhân vật đáng kính, ngồi lọt trong những chiếc ghế bành kiểu cổ, lưng ghế ngả trên hai chân sau tựa vào tường. Thường thường các vị ngủ, nhưng thi thoảng có thể nghe các vị nói chuyện cùng nhau, bằng thứ tiến dở nói dở ngáy, và với cái giọng thiếu sinh lực rất đặc thù của những loại người sống trong trại tế bần hoặc bất cứ ai khác sống lệ thuộc vào của bố thí, vào lao động bị độc chiếm hay vào bất cứ thứ gì ngoài sự nỗ lực độc lập của bản thân mình. Các vị già lão ấy – được đặt vào vị trí giống như Matthew ngồi thu thuế, nhưng không có nhiều khả năng là từ cương vị đó, giống như Matthew, lại được mời đi phục vụ công việc của các tông đồ - các vị già lão ấy chính là những viên chức của Phòng Thuế quan.
Xin giới thiệu thêm, bên mé trái ngôi nhà, nếu ngài bước vào cửa trước, ngài sẽ nhìn thấy một gian buồng, hoặc cũng có thể gọi là một phòng giấy, vuông vức mỗi bề khoảng mười lăm bộ, cao khoảng khoát, có hai cửa sổ tò vò nhỉn ra bao quát cả cảnh tượng bến tàu tàn tạ đã được mô tả trên kia, và một cửa sổ thứ ba trông qua bên kia một con đường hẹp và dọc một phần phố Derby. Qua ba cửa sổ này ta nhìn thấy rõ những cửa hàng tạp hóa, những cửa hiệu của thợ làm khuôn mũ cửa hiệu bán quần áo may sẵn rẻ tiền, những gian hàng bán các thứ trang bị cho tàu thủy. Bên các cửa ra vào những căn nhà ấy, người ta thường thấy túm tụm cười nói và tán gẫu những tay thủy thủ và dân anh chị lêu lỗng thường lai vãng ở bến cảng. Gian buồng nói trên đầy mạng nhện, mặt tường vôi cũ cáu bẩn, nền nhà trát bằng cát xám. Cái kiểu trát nền này, nơi khác người ta đã bỏ đi từ lâu. Bằng vào cái vẻ nói chung là nhếch nhác của chốn này, có thể dễ dàng đi đến kết luận rằng đây là một nơi ẩn náu kín đáo. Giới phụ nữ, với những công cụ đầy phép thần thông của họ là cái chổi và cái tải lau sàn, hẳn là rất hiếm khi được đặt chân tới nơi này. Về mặt tiện nghi, có một bếp lò với một ống khói to tướng; một bàn làm việc cũ bằng gỗ thông, một chiếc ghế đẩu ba chân đặt bên cạnh ; vài ba chiếc ghế dựa mặt gỗ, rệu rã và xiêu vẹo ; và – còn khoản tủ sách nữa chứ, xin chớ quên – có một vài cái giá, trên đó đặt khoảng ba bốn chục tập Luật Quốc hội, với một cuốn sách đồ sộ tóm tắt luật Thuế quan. Một cái ống sắt tây chọc qua trần thông lên phía trên, tạo thành một môi giới truyền thanh âm thông giữa buồng này với những nơi khác trong ngôi nhà.
Chính tại căn buồng này đây, khoảng sáu tháng về trước, có một con người lững thững đếm từng bước chân đi đi lại lại từ góc này sang góc khác, hoặc uể oải ngồi trên chiếc ghế đẩu cao cẳng, khuỷu tay chống trên bàn, luồng mắt đưa lên đưa xuống lướt theo những cột chữ trên tờ báo buổi sáng. Thưa quý độc giả tôn kính, ngài có thể nhận ra gã chính là kẻ trước đây đã đón tiếp ngài vào thăm căn phòng làm việc nho nhỏ vui mắt của gã, nơi có những tia nắng chập chờn lách qua những cành liễu mé đằng tây ngôi nhà mục sư cổ lọt vào nhảy múa trên sàn. Thế nhưng bây giờ đây, nếu ngài tới Phòng Thuế quan tìm gã, thì ngài sẽ nhọc công vô ít không còn hỏi đâu ra được viên thanh tra thuộc phái Locofoco của Đảng Dân chủ hồi ấy. Chiếc chổi của cuộc cải cách đã quét gã ra khỏi cơ quan, và một vị kế nghiệp xứng đáng hơn đã đến lĩnh lấy chức vị của gã và đút túi khoản tiền lương của gã.
Cái thành phố Salem cổ xưa ấy – nó chính là quê hương tôi, mặc dù tôi chỉ ở đó rất ít, kể cả hồi bé và lúc đã trưởng thành – hiện nay đang, hoặc vốn từ trước đã, có một sức thu hút tình cảm của tôi rất mạnh, mà tôi chưa bao giờ nhận thức thấy rõ trong những giai đoạn thật sự sống ở đây. Thực ra, xét vẻ bề ngoài của nó – với địa thế bằng phẳng đơn điệu, với những ngôi nhà đa số làm bằng gỗ, ít có hoặc thậm chí không có ngôi nhà nào có thể dám tự hào là công trình kiến trúc mỹ thuật, với kiểu phố xá xây dựng tùy nghi, không theo quy cách gì, nhưng lại không sinh động, cũng chả có chút gì ngộ, mà chỉ là tẻ nhạt, với con đường phố chính dài lê thê chán ngắt uể oải trườn qua toàn bộ phạm vi bán đảo, một đầu là Gallows Hill và New Guinea, đầu kia là một góc nhà tế bần – những nét đặc trưng của thành phố quê hương tôi là thế, vậy mà lại thích nó thì có khác gì thích một cái bàn cờ lộn xộn? ấy thế nhưng, dù rằng khi sống ở nơi khác bao giờ tôi cũng thấy vui sướng hơn, trông lòng tôi vẫn có một niềm xúc cảm thật là khó diễn đạt, mà tôi đành phải gọi là “tình thương”, bởi không có một từ nào thích đáng hơn thế. Tình cảm ấy có thể là do dòng họ tôi đã từ lâu đời cắm rễ sâu vào mảnh đất này. Tính đến nay đã gần hai thế kỷ và một phần tư kể từ lúc người Anh đầu tiên mang tên dòng họ tôi di cư sang đây xuất hiện ở khu định cư hoang dã tiếp giáp núi rừng về sau dần dà đã trở thành đô thị này. Và tại nơi đây, con cháu bậc tiền bối ấy đã lần lượt sinh ra và mất đi, trộn lẫn những nắm vật chất trần tục của họ với đất, mãi cho đến khi không còn nhất thiết phải có một phần nhỏ nào của vật chất ấy dính dáng ruột rà với cái thể xác người trần của bản thân tôi đây đang lui tới đi lại giữa phố phường trong quãng đời ngắn ngủi. Bởi vậy, một phần của tình cảm gắn bó mà tôi vừa nói là sự đồng cảm mang tính vật chất đơn thuần giữa bụi đất với bụi đất. Ít người đồng hương với tôi có thể biết được sự đồng cảm ấy là như thế nào ; mà vì sự di thực thường xuyên có lẽ là tốt nhất đối với nòi giống, cho nên họ cũng chả cần xem điều đó là điều cần phải biết.
Thế nhưng tình cảm còn có tính tinh thần của nó. Hình ảnh của cụ tổ đầu tiên ấy – theo lời truyền miệng qua bao đời trong gia tộc thì hình ảnh cụ lờ mờ thể hiện những đường nét của một tính cách vĩ đại – đã xuất hiện trong trí tưởng tượng ấu thơ của tôi từ thời bé bỏng xa xăm nhất mà tôi còn nhớ lại được. Hình ảnh ấy mãi còn ám ảnh tôi, và khiến tôi cảm thấy một thứ tình gắn bó mật thiết với quá khứ, cái quá khứ mà tôi không cho là có liên quan gì đến giai đoạn hiện tại của thành phố này. Hình như chủ yếu là vì cụ tổ ấy, một con người trang trọng, hàm râu rậm, khoác áo choàng đen, đội mũ chóp nhọn – con người đã đến đây sớm như vậy tự thuở ban sơ với cuốn kinh thánh và thanh gươm trong tay, đã đặt bước chân đi với tư thế oai nghiêm nhường ấy trên đường phố mới tinh khôi chưa mấy ai qua lại, và đã gây nên một ấn tượng lớn lao đến thế với tính cách một con người của cả hai tình huống chiến tranh và hòa bình – hình như chủ yếu là vì cụ mà tôi được đòi hỏi quyền cư trú ở thành phố này, hơn là vì bản thân tôi đây, một kẻ hiếm ai nghe tên và hầu như chả ai biết mặt. Cụ là một chiến sĩ, một nhà lập pháp, một quan tòa ; cụ là một vị cầm quyền của Giáo hội ; cụ có tất cả những nét cả tốt lẫn xấu của người Thanh giáo. Cụ là một đao phủ tàn bạo, những tín đồ Quây-cơ đã chứng kiến điều đó và đã nhắc đến cụ trong những cuốn sử của họ. Họ đã kể lại một vụ trừng phạt khắc nghiệt không chút thương xót của cụ đối với một người đàn bà trong phái họ. Những ký ức như vậy e rằng sẽ lưu truyền lâu dài hơn bất kỳ những điều ghi chép nào về việc làm tốt của cụ mặc dù hành động tốt của cụ không phải là ít. Ông con trai của cụ cũng vậy, đã thừa kế tinh thần khủng bố quyết liệt ấy và đã trở thành một nhân vật nổi bật trong việc hành hình đọa đày những người bị kết tội phù thủy, đến nỗi có thể nói không ngoa rằng máu của họ đã nhuốm vào người ông cụ này thành vết. Những vết máu đã thấm sâu đến nỗi trên nắm xương tàn của ông trong lòng nghĩa địa phố Charte hẳn còn loan lổ màu đỏ bầm của máu, nếu như bộ hài cốt ấy chưa hoàn toàn tiêu tan thành bụi đất. Tôi không biết các vị tổ tiên ấy của tôi có nghĩ lại mà hối hận và cầu xin Thượng đế tha thứ cho những hành động tàn ác của họ hay không, hay là dưới một dạng tồn tại khác họ đang rên siết vì những hậu quả nặng nề của tội ác. Dù sao đi nữa, thì tôi, kẻ đang cầm bút lúc này, với tư cách là người đại biểu cho các cụ, tôi cũng xun vì các cụ mà nhận lấy mọi hậu quả về mình, và xin cầu nguyện rằng nếu như có lời trù rủa nào đó úm vào họ - như tôi đã được nghe kể lại, và như cái tình trạng suy vi ảm đạm của dòng họ tôi trong nhiều năm dài trước đây đã tỏ ra là có thể có thật – thì cầu sao những lời trù rủa ấy từ nay về sau được giải bỏ đi.
Tuy nhiên, không hồ nghi gì cả, cả hai cụ ông Thanh giáo nghiêm khắc có vầng trán cau có ấy đều chắc chắn sẽ nghĩ rằng tội ác của mình đã bị trừng phạt khá là đích đáng, từ thân cây gia hệ cổ thụ đã được phủ biết bao nhiêu lớp rêu đáng kính lại nảy ra ở ngọn cây trên chót một cành non như tôi, một kẻ ăn không ngồi rồi vô tích sự. Không có một hoài bão nào mà tôi hằng ấp ủ sẽ hòng được các cụ chấp nhận là đáng khen ngợi. Bất cứ một thắng lợi nào của tôi – nếu như cuộc đời tôi, ngoài công việc gia đình, quả đã từng có lúc rạng lên niềm vui thắng lợi – cũng đều sẽ bị các cụ xem là vô giá trị, nếu không phải là điều hết sức đáng hổ thẹn, chứ đừng hòng được các cụ đánh giá là gì khác. “Hắn làm cái nghề gì vậy?” – Một trong hai cái bóng già nua tổ tiên của tôi lẩm bẩm với cái bóng kia – “Viết tiểu thuyết hả? Ái chà! Nó là cái thứ nghề ngỗng gì ở đời vậy? Làm sáng danh Chúa và giúp ích nhân loại trong thời đại hắn và thế hệ hắn theo cái kiểu thế ư? Hừ! thằng nhỏ mất gốc này hẳn cũng có thể làm một tên kéo nhị, thì cũng một tuồng như vậy thôi!”. Đấy, những lời khen ngợi của các cụ tổ của tôi, truyền qua vực thẳm thời gian đến với tôi, là như vậy. Nhưng dù sao, tùy các cụ muốn khinh rẻ tôi như thế nào cũng được, những nét đanh thép trong bản chất các cụ vẫn cứ phải đang quyện vào trong bản chất của tôi.
Cắm sâu vào mảnh đất thành phố cổ tự thuở sơ khai non trẻ của nó bởi hai nhân vật nghiêm khắc và đầy nghị lực ấy, dòng họ tôi đã mãi từ đó sinh sống ở đây ; cũng luôn luôn giữ được tư cách đáng trọng, không bao giờ, theo tôi biết, bị một thành viên không xứng đáng nào làm ô nhục ; nhưng hiếm có, hoặc có thể nói là không bao giờ có ai, sau hai thế hệ ban đầu ấy, đạt được một công tích gì đáng ghi nhớ, hoặc ngay cả đáng để cho thiên hạ chú ý đến cũng không. Dần dần, hình ảnh những thành viên dòng họ tôi mờ nhạt đi hầu như biến mất, giống như những ngôi nhà cổ, đây đó ở các ngả đường, bị đất mới tích tụ dần lên đến nửa vời khoảng dưới mái chìa gần như che khuất. Từ đời cha đến đời con trong hơn một trăm năm đều theo nghề đi biển. Mỗi thế hệ có một thuyền trưởng tóc đã hoa râm rời boong lái lui về vườn, trong khi một chàng trai mười bốn tuổi đến đứng vào vị trí cha truyền con nối của người thủy thủ, đương đầu với bụi nước chát mặn đầu ngọn sóng tung lên và những cơn bão biển đã từng hung tợn hăm dọa cha ông của gã. Đến một thời gian thích đáng nào đó, chàng trai cũng chuyển từ khoang thủy thủ lên buồng thuyền trưởng, trải qua cuộc đời dông bão của trang nam tử, rồi lại lui về sau những chuyến lang thang khắp thế giới, để mà già đi, rồi chết, trộn lẫn nắm bụi tàn của mình vào đất mẹ. Sự liên kết lâu dài đó của gia tộc với địa phuong, lấy địa phương đó làm nơi sinh ra mà cũng là nơi mai táng, tạo ra một thứ quan hệ họ hàng giữa con người với đất, hoàn toàn không phụ thuộc vào bất cứ một sức hấp dẫn nào của cảnh vật hoặc trạng huống tinh thần bao quanh con người đó. Đó không phải là tình yêu, mà là bản năng. Người mới đến cư trú – bản thân họ hoặc cha, ông họ từ một miền đất xa lạ tới đây – rất ít có quyền đòi hỏi được gọi là người Salem ; họ đâu có chút khái niệm nào về cái tính gan lì như giống hà bám đá, của một dòng họ lập nghiệp lâu đời đang bước vào tuổi thế kỷ thứ ba, cái tính gan lì quyết bám lấy nơi đã gắn bó cuộc đời của bao nhiêu thế hệ kế tiếp. Không thành vấn đề gì dù nơi này có buồn tẻ với anh, dù anh có chán ngấy những ngôi nhà gỗ cổ lỗ, cảnh bùn lầy và bụi bặm, địa hình và tình cảm phẳng lì nhạt nhẽo, ngọn gió từ hướng Đông giá lạnh, và không khí quan hệ xã hội lại càng giá lạnh chẳng có đâu bằng. Tất cả những điều đó, và bất cứ những khiếm khuyết nào khác nữa mà anh có thể nhìn thấy hoặc tưởng tượng ra, đều không thành vấn đề gì cả. Sức quyến rũ huyền diệu vẫn cứ còn đó, cuốn hút thật là mạnh mẽ, cứ như thể nơi chôn nhau cắt rốn này là một thiên đường giữa trần gian. Đấy, trường hợp của tôi là như vậy. Tôi cảm thấy hầu như số phận đã định đoạt Salem phải là quê hương tôi, để mà, nối theo dòng trôi vĩnh cửu của thời gian – khi một đại biểu của dòng họ nằm xuống mồ thì một đại biểu khác đổi gác, có thể cho là như vậy, tiếp nhận nhiệm vụ của người quá cố đi tuần tra dọc con đường phố chính – cái khuôn đặc điểm và cái mẫu tính cách đã từng suốt từ đầu đến cuối thân thuộc với nơi này có thể vẫn còn tiếp tục thể hiện và được nhận ra ở quảng đời ngắn ngủi của tôi trong thành phố cổ. Tuy nhiên cũng chính thứ tình cảm ấy là một dấu hiệu chứng tỏ rằng mối liên kết đó giữa con người với đất ít ra cũng cần phải được cắt đứt đi bởi nó đã trở thành một mối liên kết không lành. Sức sống con người sẽ không thể phát triển tươi tốt gì hơn một cây khoai nếu bị trồng đi trồng lại mãi qua quá nhiều thế hệ nối tiếp nhau dài đằng đẵng trên cùng một mảnh đất đã bạc màu. Các con tôi đã sinh ra ở nơi khác, và chừng nào mà vận mệnh của chúng còn nằm trong tay tôi thì chúng nhất định sẽ cắm rễ cuộc đời của chúng vào đất lạ.
Khi tôi rời khỏi ngôi nhà mục sư cổ, chính cái thứ tình cảm gắn bó kỳ lạ, thiếu sinh khí và không có niềm vui ấy đối với thành phố quê hương, là động lực chủ yếu khiến tôi đến nhận một chỗ làm trong tòa dinh thự của Chú Sam mà tôi đã nói trên kia, trong khi đáng ra tôi có thể đi nơi khác cũng được một việc làm chẳng kém gì hoặc còn tốt hơn. Thế là sợi dây định mệnh đã buộc tôi lại. Đó không phải là lần đầu tiên cũng chả phải là lần thứ hai, mà sau khi đã ra đi – tưởng rằng đi hẳn – nhưng tôi lại quay đầu trở về. Giống như một kẻ tầm thường cứ bám nhằng nhẵng lấy nơi mình không thích, hoặc như thể Salem đối với tôi nhất thiết phải là trung tâm của vũ trụ. Vậy là một buổi sáng đẹp trời nọ, tôi leo lên những bậc thềm đá hoa cương, với tờ công vụ lệnh có chữ ký tổng thống trong túi, và được giới thiệu với toàn thể các viên chức trong cơ quan, những người sẽ giúp đỡ tôi hoàn thành trọng trách một viên chủ sự Phòng Thuế quan.
Tôi thật hết sức hồ nghi – hay nói đúng ra là tôi không hồ nghi chút nào cả - rằng không biết một vị chủ sự nào đó của nước Mỹ, trong ngạch dân sự hoặc quan sự, đã bao giờ như tôi có dưới quyền mình một đội ngũ viên chức kỳ cựu già lão đến như vậy không. Câu hỏi “Vị cao tuổi nhất vùng này ở nơi nào nhỉ?” lập tức được giải đáp ngay khi tôi nhìn thấy họ. Trong hơn hai mươi năm qua, cái thế độc lập của viên Giám đốc đã giữ cho Phòng Thuế quan Salem đứng được ra ngoài cơn xoáy lốc của những thăng trầm chính trị đã khiến cho các quan chức của những cơ quan khác – nói chung khó lòng giữ yên được chiếc ghế của mình. Là một nhà quân sự - nhà quân sự lỗi lạc nhất của miền Niu Inglơn -, ông ta, tướng Miller, đã đứng vững trên chiếc bệ của những thành tích dũng cảm của mình, và trong khi bản thân ông được yên ổn dưới chính sách rộng rãi khôn ngoan của những chính quyền kế tiếp mà ông đã phục vụ, ông lại đã là cái ô bảo đảm an toàn cho những nhân viên dưới quyền trong nhiều giờ phút hiểm nguy và cơ cấu trung ương rung chuyển. Ông ta về căn bản là con người bảo thủ : một con người mà bản chất đôn hậu không mảy may chịu ảnh hưởng của tập quán ; kiên quyết gắn bó với những khuôn mặt quen thuộc ; người ta khó lòng lay chuyển được ông để ông chịu chấp nhận những sự thay đổi, ngay cả trường hợp sự thay đổi chắc chắn sẽ mang lại tiến bộ không ai chối cãi được. Ấy vì vậy, khi đến nhậm chức, tôi thấy hầu như tất cả nhân viên ở đây đều là những người nhiều tuổi. Họ phần lớn là những cựu thuyền trưởng, sau thời gian dài vật lộn với sóng gió khắp mọi vùng biển cả và cứng cáp đương đầu với bão táp cuộc đời, cuối cùng đã trôi giạt vào cái xó xỉnh yên tĩnh này. Và tại nơi đây, ít bị cái gì quấy rầy, trừ những nỗi khiếp sợ theo chu kỳ trong mỗi cuộc bầu cử tổng thống, tất cả bọn họ không trừ một ai đều đã kiếm được niềm vui cuộc sống. Dù rằng chẳng có chút khả năng gì hơn các đồng loại của mình để tránh khỏi tuổi già sức yếu, nhưng hiển nhiên là những vị này có một thứ bùa chú hay phép màu nào đó để buộc thần chết phải đứng xê ra. Trong số bọn họ có hai ba người gì đấy, như lời người ta quả quyết với tôi, bị bệnh gút và thấp khớp, hoặc phải nằm liệt giường có lẽ, không hề xuất hiện ở cơ quan Phòng Thuế quan trong một phần lớn thời gian mỗi năm. Nhưng, sau một kỳ ngủ lịm qua đông, họ sẽ bò ra giữa nắng ấm tháng năm tháng sáu, uể oải bắt tay vào cái mà họ gọi là quân sự, thế rồi, tùy nghi chọn lúc ung dung và thuận tiện cho bản thân mình, lại rời cơ quan trở về nhà lên giường nằm ngủ. Tôi phải nhận là mình có tội khi người ta lên án rằng tôi đã rút ngắn quãng đời phục vụ công tác của không phải chỉ một người trong số những công bộc đáng kính ấy của nước cộng hòa. Nhờ có sự thay mặt của tôi, họ đã được phép nghỉ, khỏi còn phải làm những công việc lao động gian khổ của họ nữa. Và sau đó chẳng bao lâu – như thể nguyên tắc duy nhất giữa họ lại với sự sống đã từng luôn luôn là lòng nhiệt huyết phục vụ đất nước – mà tôi đích thực tin là như vậy – họ đã rút lui về thế giới bên kia tốt đẹp hơn. Một niềm an ủi đầy ơn phước đối với tôi, là chính nhờ sự can thiệp của tôi mà họ đã có được một khoảng thời gian đủ để ân hận về những tật xấu và thói hư hỏng mà coi như mọi viên chức Phòng Thuế quan tất nhiên đều phạm phải. Không có một cửa nào của Phòng Thuế quan này, dù là ở mặt trước hoặc mặt sau, mở ra lối đi lên thiên đường cả.
Phần lớn các viên chức dưới quyền tôi là đảng viên Đảng Uých 3 . Một điều may mắn cho nhóm người đáng kính cùng chí hướng với nhau ấy là đảng Thanh tra mới không phải là một nhà chính trị. Mặc dù về nguyên tắc chàng ta là một đảng viên trung thành của Đảng Dân chủ, nhưng cả việc nhận chức lẫn việc giữ chức của chàng đều không có liên quan gì đến vấn đề phục vụ nhiệm vụ chính trị cả. Phải như sự việc diễn ra khác đi – nghĩa là ví như một nhà hoạt động chính trị tích cực được đặt vào chức vụ đầy thế lực này, để đảm nhận một công việc dễ dàng là đương đầu chống lại một Giám đốc đảng viên Đảng Uých là người mà sức khỏe ốm yếu không cho phép đích thân quản trị được cơ quan – thì hầu như không một kẻ nào trong đội ngũ viên chức cũ kia có thể kéo dài hơi thở cuộc đời cộng tác được một tháng kể từ khi vị thiên sứ hủy diệt ấy bước lên những bậc thềm của Phòng Thuế quan. Theo luật lệ được chấp nhận đối với những vấn đề như vậy, việc đưa tất cả những mái đầu kia đút vào dưới lưỡi dao của máy chém sẽ không có gì là vượt quá chức phận của một nhà chính trị. Thật chẳng khó gì mà không nhận thấy rõ là những ông bạn già ấy kinh hãi một đòn bất lịch sự kiểu như vậy từ tay tôi giáng xuống. Tôi thật đau lòng, nhưng đồng thời cũng buồn cười, khi nhận ra những nỗi khiếp sợ cùng phát sinh một lúc với sự xuất hiện của tôi tại cơ quan, khi thấy một khuôn mặt với đôi má nhăn nheo, dày dạn phong trần qua hàng nữa thế kỷ bão bùng sóng gió, bỗng nhiên tái xám đi lúc bắt gặp cái liếc nhìn của một kẻ hiền lành vô sự như tôi ; khi phát hiện thấy thanh âm run rẩy trong giọng người này hoặc người nọ nói với tôi, giọng nói ấy trước đây trong những ngày quá khứ xa xôi đã từng quen gầm lên qua chiếc loa trên tàu biển với sức vang động ghê gớm đủ khiến cho ngay cả Thần Gió Bấc cũng phải khiếp mà câm lặng. Họ, những bậc cao niên trung hậu ấy, biết rằng, theo mọi thứ quy tắc đã định – và riêng đối với một số trong bọn họ thì còn phải xét vấn đề thiếu năng lực làm việc – họ đáng ra đã phải nhường chỗ cho những người trẻ hơn, có tư cách chính thống hơn về chính trị, và về mọi mặt phải xứng đáng hơn họ để phục vụ Chú Sam của tất cả mọi người chúng ta. Tôi cũng biết điều đó, nhưng không bao giờ có có thể nỡ lòng hành động theo điều mình biết. Bởi vậy cho nên họ vẫn tiếp tục, trong suốt thời gian tôi giữ chức, lén đi lang thang quanh quẩn ở các bến tàu và tha thẩn lên xuống các bậc thềm của Phòng Thuế quan, rất đáng để cho bản thân tôi phải mất hết lòng tin cậy, và làm tổn thương nhiều đến lương tâm của tôi đối với công vụ. Họ cũng dùng một phần lớn thời gian để lại tiếp tục ngồi ngủ trong những xó quen thuộc của họ, trên những chiếc ghế bành ngả về phía sau dựa vào tường, tuy nhiên vẫn thức dậy một hoặc vài lần mỗi buổi sáng để quấy rầy nhau bằng những câu chuyện đùa lỗi thời nhạt phèo, những thứ chuyện này lâu dần đã trở thành khẩu lệnh vả mật hiệu giữa họ với nhau.
Người ta đã sớm phát hiện ra, là tôi đoán vậy, rằng vị Thanh tra mới nhậm chức không có gì đáng sợ lắm. Thế là, trong lòng nhẹ nhõm và vui sướng thấy mình được sử dụng có ích – ít nhất là có ích cho bản thân họ nếu không phải là cho đất nước yêu quý của chúng ta – những bậc lão thành đôn hậu ấy đã chấp hành đầy đủ mọi thứ thủ tục trong công việc. Sắc sảo minh mẫn làm sao những con mắt của họ dướI đôi mắt kính chăm chú dò xét các hầm tàu chứa hàng! Quyết liệt xiết bao những cơn sục sôi om sòm của họ về những chuyện vặt vãnh, nhưng cũng kỳ diệu biết nhường nào sự trì độn của họ đã đôi lúc để những vụ lớn sổng ra tuột khỏi tay họ! Mỗi khi một chuyện không may như vậy xảy ra – sau khi những đống hàng lậu quý giá chất đầy xe đã lén lút tuồn nhẹ lên bờ chạy thoát, có lẽ ngay giữa ban ngày ban mặt, và ngay trước lỗ mũi không đánh hơi thấy gì của họ - thì thật là không có gì sánh nổi tinh thần cảnh giác cẩn mật và sốt sắng nhanh nhảu của họ lúc ấy : vội vàng khóa chặt lại, khóa trong khoá ngoài, bịt thật chắc chắn, niêm phong gắn xi cẩn thận tất cả những lối ra vào con tàu tội phạm. Đáng lẻ phải khiển trách họ trước đó đã lơ dễnh sơ suất. thì trong trường hợp này có vẻ như lại cần phải tuyên dương hành động cẩn thận đáng khen của họ sau khi điều tai hại đã xảy ra ; cảm kích thừa nhận sự mau lẹ hăng hái của họ vào lúc mà sự việc đã xong xuôi không còn một biện pháp khắc phục nào nữa.
Trừ khi gặp phải loại người quá ư khó chịu, tôi vẫn có cái thói xuẩn ngốc là thích quan hệ ân tình thân ái với mọi người. Những mặt tốt trong tính nết của một người, nếu người ấy quả là có mặt tốt, thường là nhân tố đáng được trọng thị nhất trước mắt tôi, và hình thành nên kiểu tính cách mà tôi nhìn nhận ở người ấy. Do đa số các vị viên chức già của Phòng Thuế quan đều có những mặt tốt, và do cương vị của tôi đối với họ mang tính chất bao dung che chở, thuận lợi cho việc phát triển những tình cảm thân thiết, nên chẳng bao lâu tôi đã đâm ra ưa thích tất cả bọn họ. Những buổi sáng mùa hạ - khi mà cái nóng nung người dường như có thể làm hóa lỏng mọi kẻ khác nhưng đối với họ thì chỉ là một thứ hơi ấm ôn hòa dễ chịu thấm vào những bộ phận cơ thể uể oải đờ đẫn của họ - vào những buổi sáng như vậy, thật là thú vị khi để tai nghe họ tán dóc với nhau ở phía cửa hậu. Tại đó, tất cả bọn họ ngồi trên ghế bành thành một dãy ung dung tựa lưng vào tường như thường lệ, và những lời dí dỏm cũ rích của những thế hệ trước đã đông cứng như băng nay lại tan ra tuôn chảy từ miệng họ lẫn với tiếng cười ùng ục. Nhìn bề ngoài, cái vui nhộn của người già trông rất giống sự vui đùa của trẻ thơ, chả đòi hỏi trí tuệ hay khả năng hài hước gì mấy ; trong cả hai trường hợp, đều là những tia sáng chập chờn đùa giỡn trên bề mặt, khoác cho cả những cành non xanh tươi lẫn những thân già mục ruỗng một cái vẻ bên ngoài tươi sáng và hân hoan vui vẻ giống như nhau. Nhưng chỉ có điều là trong trường hợp kia, đó thực sự là ánh sáng mặt trời, còn trong trường hợp này thì nó giống ánh ngời lân tinh của gỗ mục.
Sẽ là một sự bất công đáng buồn, hẳng độc giả cũng thông cảm, nếu miêu tả toàn bộ những ông bạn già ưu tú ấy của tôi là đều lẩm cẩm. Trước hết phải nói rằng không phải những viên trợ lý ấy của tôi đều già như nhau ; có những người đang giữa thời kỳ cường tráng và phát triển rực rỡ, có tài năng và nghị lực rõ rệt, tư cách hoàn toàn vượt lên trên tầm của lối sống lờ phờ và lệ thuộc mà ngôi sao chiếu mệnh hẩm hiu của họ đã buộc họ vào. Thêm nữa, thỉnh thoảng người ta vẫn nhận thấy rằng những mái tóc pha sương lại là lớp tranh phủ bên ngoài rường cột của một ngôi nhà trí tuệ còn tốt. Thế nhưng, nói về phần lớn những người trong đội ngũ lão thành này, sẽ chả có gì là sai trái nếu tôi mô tả họ nói chung là một mớ linh hồn già cỗi chán ngắt, không tập hợp được tí gì đáng gìn giữ lại từ kinh nghiệm phong phú của đời họ. Dường như họ đã vứt đi tất cả những hạt vàng của sự từng trải thực tế mà trước kia đã có biết bao nhiêu thời cơ gặt hái, để nâng niu cất giữ toàn là vỏ trấu trong kho ký ức của họ. Họ nói chuyện về bữa ăn lót dạ buổi sáng, hoặc bữa cơm tối hôm qua, hôm nay, ngày mai với một sự quan tâm và niềm khoái trá hơn hẳn lúc nói chuyện về một vụ đắm tàu bốn năm mươi năm về trước và về tất cả những điều kỳ diệu trên thế giới mà họ đã được chứng kiến hồi họ còn trai trẻ.
Người nhiều tuổi nhất của Phòng Thuế quan – vị cao niên bậc nhất không những của nhóm viên chức này, mà tôi dám nói là còn của toàn bộ đội ngũ nhân viên thuế quan đáng kính trên khắp nước Mỹ - là một ông cụ giữ một chức Phó Thanh tra thường trực suốt đời. Người ta có thể thật sự gọi cụ là người con chính thống của toàn ngành thuế vụ, “được nhuộm từ lúc chưa xe thành sợi”, hay nói cho đúng hơn, thuộc “dòng dõi con nhà” ; bởi thân phụ của cụ, một đại tá thời Cách mạng và trước đây làm Giám đốc chủ sự thuế quan của cảng, đã đặt ra một chức dành cho cụ, bổ nhiệm cụ giữ chức đó, vào một thời xa xưa mà ít người còn sống đến nay có thể nhớ lại được. Vị Phó Thanh tra ấy, khi tôi bắt đầu biết cụ, là một người tuổi đã tám mươi hoặc xấp xỉ, và chắc chắn là một trong những vật mẫu kỳ diệu nhất của thứ cây lộc đề mà may ra chúng ta có thể phát hiện được nếu bỏ công tìm kiếm suốt cả cuộc đời.
Với đôi má đỏ au, dáng người chắc nịch, diện chiếc áo bành tô xanh bảnh bao có hàng cúc sáng chói, với bước đi nhanh nhẹn và rắn rỏi, với vẻ bên ngoài còn khỏe mạnh tráng kiện, nhìn chung ông cụ có vẻ, dĩ nhiên không phải là trẻ, mà như là một thứ công trình mới sáng chế của Bà-Mẹ-Tạo-Hóa dưới dạng con người, mà tuổi già và sức yếu không có quyền đụng đến. Tiếng nói và tiếng cười của cụ, không ngừng vang dội qua suốt toàn bộ tòa nhà Phòng Thuế quan, chả có tí thanh âm nào run và khàn của tiếng người già, mà bật ra từ lồng ngực cụ sang sảng như tiếng gà gáy hoặc tiếng kèn đồng. Nếu ta xem xét ông cụ đơn thuần ở tính chất là một động vật – mà cũng rất ít có tính chất gì khác ở ông cụ để ta xem xét – thì ông cụ quả là một đối tượng làm ta thỏa mãn nhất, ở sức khỏe và sự tráng kiện hoàn hảo của cơ thể, và ở khả năng của cụ, khi tuổi đã cao đến như vậy, vẫn còn có thể tận hưởng được tất cả, hoặc hầu như tất cả, mọi thứ lạc thú mà cụ đã từng theo đuổi hoặc nghĩ ra. Yên trí với cuộc sống được bảo đảm tại Phòng Thuế quan, với một khoản thu nhập đều đặn tuy có lúc cụ cũng lo bị loại khỏi cơ quan, nhưng nỗi lo ấy chỉ như màn sương thoảng qua và cũng hiếm khi xảy ra trong đầu cụ, một tâm hồn thư thái như vậy chắc chắn đã góp phần làm cho thời gian trôi qua thật là nhẹ nhàng đối với cụ. Nhưng những nguyên nhân chủ yếu là có tác động hơn cả nằm trong sự hoàn thiện hiếm có của tính chất động vật của cụ, với một phần trí tuệ rất có mức độ, pha lẫn một số nhân tố tinh thần và tâm hồn vặt vãnh ít ỏi không đáng kể ; quả là những đức tính này chỉ vừa đủ độ để giữ cho ông già khỏi đi bằng bốn chân. Ông cụ không có khả năng tư duy, không có chiều sâu cảm xúc, không có những nhạy cảm rắc rối ; tóm lại, không có gì cả ngoài một vài bản năng tầm thường, những bản năng này công với một tính khí tất nhiên là vui tươi nhờ thể chất cường tráng của cụ, đã đóng vai trò thay thế cho trái tim một cách khá thỏa đáng và làm hài lòng được mọi người nói chung. Cụ có ba đời vợ, tất cả đã mất từ lâu ; hai mươi người con, đa số cũng đã trở về với bụi đất ở mọi lứa tuổi, từ khi còn nhỏ hoặc lúc đã trưởng thành. Mọi người chắc sẽ cho rằng bấy nhiêu đau thương ấy hẳn đã đủ nhuốm đi nhuốm lại thấm đẫm một màu đen tối vào bất kỳ một tâm tính nào tươi vui nhất. Nhưng đối với vị Phó Thanh tra già của chúng ta thì lại không thế. Một cái thở dài gọn là đủ để cất đi toàn bộ gánh nặng của những kỷ niệm sầu muộn ấy. Chỉ trong chốc lát, ông cụ đã lại sẵn sàng vui đùa như bất kỳ đứa trẻ nào : hồn nhiên hơn nhiều so với cậu thư ký văn phòng ông Giám đốc, cậu này chỉ mới mười chín tuổi mà đã có vẻ là bậc đàn anh và trang nghiêm hơn cụ.
Tôi thường chăm chú theo dõi và quan sát kỹ nhân vật già lão ấy. Có lẽ cụ là kẻ đã kích thích sự tò mò của tôi mạnh mẽ hơn bất kỳ một kiểu người nào khác mà tôi đã để ý đến. Quả thật cụ là một hiện tượng kỳ lạ hiếm có ; về một phương diện nào đó, con người ấy thật là hoàn hảo ; về mọi phương diện khác thì lại thật là trống rỗng, thật là hư ảo, thật là khó nắm bắt, như là dạng phi thực thể tuyệt đối. Tôi đi đến kết luận rằng ông cụ không có hồn, không có tim, không có óc ; như tôi đã nói, không có gì cả ngoài bản năng ; thế nhưng, đồng thời, những mảnh chất liệu ít ỏi của tính cách của cụ lại được lắp ghép vào nhau một cách khéo léo đến nỗi người ta không cảm thấy khó chịu vì một sự khiếm khuyết nào đó, mà riêng tôi lại thấy vừa lòng hoàn toàn với những gì tôi nhận thấy ở cụ. Có thể là người ta khó mà tưởng tượng ra được là cụ sẽ tồn tại như thế nào đây trong thế giới bên kia, bởi vì cụ có vẻ quá ư trần tục và duy khoái cảm. Nhưng chắc chắn là sự tồn tại của cụ giữa cõi trần này, dù sẽ phải chấm dứt cùng với hơi thở cuối cùng của cụ, đã được Thượng đế ban cho một cách không phải là không tử tế ; chẳng phải có trách nhiệm tinh thần gì cao hơn những thú vật ngoài đồng ruộng ; nhưng lại được hưởng những lạc thú nhiều hơn chúng, mà lại cũng nhận được trọn vẹn điều ơn phước Thượng đế ban cho chúng là được miễn trừ khỏi phải hứng chịu nỗi buồn thảm và bóng tối của tuổi già.
Một điểm tạo cho cụ lợi thế lớn hơn rất nhiều so với các sinh vật bốn chân là khả năng cụ nhớ lại được những bữa ăn ngon lành mà cụ đã được hưởng, những bữa ăn ấy đã góp phần không nhỏ trong niềm hạnh phúc của cuộc đời cụ. Tính sành ăn của cụ là một nét rất thú vị : nghe cụ nói chuyện về thịt quay cũng như về món nộm hoặc sò huyết, người ta đều cảm thấy thật ngon lành. Do cụ không có một tư chất nào cao hơn nữa, và không phí phạm hoặc làm hao tổn một tí phú tính tinh thần nào, cụ dành hết tất cả sinh lực và tài năng của mình cho việc phục vụ sự khoái cảm và lợi ích của cái bao tử, cho nên tôi luôn luôn thấy thích thú và hài lòng khi nghe cụ kể dài dòng văn tự về những món tôm, cá, gà vịt, thịt lợn, thịt bò, và những phương pháp thích hợp nhất để nấu nướng chế biến các món đó. Những mẫu chuyện cụ thuật lại về những bữa tiệc tùng thịnh soạn, dù cho đám tiệc thực tế mà cụ dự phần đã xảy ra từ lúc nảo lúc nào xa lơ xa lắc, vẫn dường như mang lại mùi thơm ngon của thịt lợn thịt gà ngào ngạt trước mũi người nghe chuyện. Có những món cụ ăn cách đây đã dễ có đến sáu mươi hoặc bảy mươi năm, mà đến nay hương vị vẫn còn đọng lại mãi trong mồm cụ, vẫn có vẻ còn đậm đà y nguyên như là hương vị miếng thịt sườn cừu mà cụ vừa chén trong bữa điểm tâm sáng nay vậy. Tôi đã nghe cụ chép miệng ngon lành khi kể lại những bữa tiệc mà mọi vị khách tham dự, trừ cụ ra, đều đã nằm xuống từ lâu làm mồi cho giun đất. Thật là một điều kỳ diệu khi quan sát thấy những bóng ma của những bữa ăn trong dĩ vãng cứ hiện lên liên tục trước mặt ông cụ - không phải để cáu giận hoặc tính sổ với cụ, mà lại như thể là hàm ơn cụ trước đây đã biết thưởng thức chúng – và tìm cách phủ định mọi điều thích thú khác vừa hư ảo vừa cụ thể vẫn nối tiếp diễn ra vô cùng vô tận trên đời. Cụ thường nhớ lại một miếng thịt bò mềm mại, một miếng thịt mông bê, một món sườn lợn, một giã gà giò đặc biệt, hoặc một con gà tây tuyệt trần, là những thứ có lẽ đã tô điểm bàn ăn của cụ từ thời thổng thống Adams cha. Trong khi đó thì tất cả những điều mà loài người chúng ta đã kinh qua cho đến nay và tất cả những sự kiện đã đem lại niềm vui hoặc nỗi buồn cho đời hoạt động của riêng cụ đều đã bay biến, không lưu lại được trong đầu óc cụ tí ảnh hưởng gì lâu bền hơn một làn gió nhẹ thoảng qua. Sự kiện bi thảm chủ yếu trong cuộc đời ông cụ, theo nhận xét của tôi, là một lần cụ bất hạnh gặp phải một chú ngỗng nào đó đã sống và qua đời cách đây khoảng hai mươi hoặc bốn mươi năm, một chú ngỗng co1 hình dáng đầy hứa hẹn, nhưng đến khi được bày lên bàn thì thịt lại dai nhách, đến nỗi con dao ăn chẳng làm nên trò trống gì được trên cái thân xác của chú, họa chăng chỉ có chiếc rìu và chiếc cưa mới có thể xẻ chú ra được.
Nhưng thôi đã đến lúc phải ngừng bức phác họa này lại, tuy rằng tôi sẽ rất vui lòng được tiếp tục điểm thêm vào đó rất nhiều nét chi tiết khác, bởi vì trong số những người mà tôi đã từng quen biết, nhân vật này là con người thích hợp nhất để làm một viên chức của Phòng Thuế quan. Hầu hết mọi người đều bị những hậu quả tai hại về tinh thần do lối sống đặc biệt ở đây gây ra, vì những lý do mà có thể những trang giấy này không đủ chỗ cho tôi nêu ra được hết. Ngày phó thanh tra già này không thể rơi vào tai họa đó, và giá như cụ cứ tiếp tục ở cơ quan cho đến tận cùng cuộc đời, cụ sẽ vẫn khỏe mạnh y nguyên như lúc này, và mỗi khi ngồi vào bàn ăn sẽ vẫn giữ được trọn vẹn sự ngon miệng như vậy.
Còn có một nhân vật khác, mà nếu tôi không kể ra đây thì có lẽ gian trưng bày chân dung các nhân vật Phòng Thuế quan sẽ bị khiếm khuyết nghiêm trọng, nhưng do tôi chỉ có tương đối ít cơ hội quan sát người này, nên tôi chỉ có thể phác ra được những nét chủ yếu nhất. Nhân vật ấy là ông Giám đốc, vị tướng quân gan dạ đã có thành tích phục vụ xuất sắc trong quân đội, sau khi rời quân ngũ đã cầm quyền ở một địa hạt hoang dã ở miền Tây, rồi cách đây hai mươi năm đã đến nơi này, để sống qua buổi xế chiều của cuộc đời phong ba và vinh quang của mình. Người lính dũng cảm ấy đã suýt soát hoặc vừa đúng tuổi bảy mươi, đang đi tiếp chặng đường còn lại của cuộc hành quân giữa trần thế, trên mình chồng chất những tật bệnh ốm đau, mà ngay cả tiếng nhạc hùng dũng dậy lên trong hồi ức khiến tinh thần phấn chấn cũng không làm thuyên giảm đi được bao nhiêu. Đôi chân của ông, xưa kia từng xông lên hàng đầu giữa trận mạc, nay đã tê liệt. Chỉ có nhờ một người hầu dìu đi, và nặng nề chống tay vào hàng lan can bằng sắt, ông mới có thể chậm rãi và vất vả leo lên những bậc thềm Phòng Thuế quan, rồi lần từng bước cực nhọc trên sàn lê tới chiếc ghế bành quen thuộc của ông bên lò sưởi. Ông thường ngồi ở đấy, với một vẻ trầm lặng hơi đờ đẫn, đưa mắt nhìn những dáng hình ra vào qua lại, giữa những tiếng giấy tờ sột soạt, tiếng tuyên thệ, tiếng bàn luận công tác, và tiếng trò chuyện tầm phào ; tất cả những tiếng động và sự việc ấy hình như chỉ tác động lờ mờ đến giác quan của ông và khó mà thâm nhập được vào cõi trầm tư mặc tưởng bên trong ông. Trong tư thế yên tĩnh ấy, trông ông thật dịu dàng và đôn hậu. Nếu có ai đó hỏi han, nét mặt ông liền rạng lên một vẻ ân cần niềm nở và quan tâm, tỏ ra trong con người ông vẫn còn lửa sống, chẳng qua vì bị môi trường bao bọc bên ngoài ngọn đèn trí tuệ che khuất đi nên những tia sáng không lọt ra được đấy thôi. Càng sâu sát nhìn thấu vào thực chất khả năng tư duy của ông thì càng thấy rõ đầu óc ông vẫn minh mẫn. Đến khi không còn gì yêu cầu ông phải cất tiếng nói hoặc lắng tai nghe nữa – cả hai việc này đều đòi hỏi ở ông một sự nỗ lực rõ rệt – thì nét mặt ông lập tức chìm trở lại vào cái vẻ trầm lặng ban đầu tuy không phải là rầu rĩ. Nhìn nét mặt ấy, người ta không cảm thấy mủi lòng, bởi vì tuy hơi đờ đẫn, nhưng nét mặt ấy không có cái vẻ ngây dại của tuổi già lụ khụ. Bộ khung của thể chất ông, xưa kia vốn khỏe mạnh vạm vỡ, nay chưa phải đã suy sụp. Tuy nhiên, qua cái bề ngoài ốm yếu ấy, việc nhận xét và xác định tính cách của ông là một việc cũng khó khăn chả kém gì hình dung và tái hiện trong trí một pháo đài cổ như pháo đài Ticoderoga chẳng hạn, lúc nhìn vào tàn tích đổ nát xám xịt của nó. Có thể đây đó còn những mảng tường gần như nguyên vẹn : nhưng ở chỗ khác thì có thể chỉ còn những đống lô nhô không ra hình thù gì nữa, lù lù cả một khối nặng nề, cỏ cây hoang dại mọc tràn che kín qua những năm dài hòa bình và lãng quên.
Ấy thế mà, khi nhìn người chiến sĩ già bằng con mắt mến yêu – chả là, tuy giữa tôi với ông chỉ có mối giao tiếp sơ sài, nhưng tình cảm của tôi đối với ông, cũng giống như tình cảm của tất cả những sinh vật hai chân hoặc bốn chân đã gần gũi ông, có thể được gọi là lòng mến yêu, gọi như thế không có gì là quá đáng – tôi có thể thấy rõ được những nét chủ yếu của con người ông. Đặc trưng ở con người ấy là những đức tính cao thượng và quả cảm, tỏ ra rằng ông có được danh tiếng lẫy lừng không phải là do sự tình cờ, mà chính là do ông thật sự xứng đáng. Tôi nhận thức được rằng đặc điểm tinh thần ông là không bao giờ bối rối ngại ngần ; chắc hẳn là trong bất kỳ giai đoạn nào của đời ông cũng đã phải có một sức mạnh nào đó thôi thúc ông hành động ; nhưng một khi đã phấn chấn lao vào cuộc, trước mắt có biết bao trở ngại phải vượt qua và một mục tiêu xứng đáng để đạt tới, thì ông không phải là thứ người chịu ngã quỵ và thất bại. Ngọn lửa nhiệt tình mà sức nóng đã từng lan tỏa khắp trong bản chất của ông trước kia, và cho đến nay vẫn còn chưa tắt, không bao giờ là thứ lửa vụt lóe sáng và bập bùng trong một đám cháy bột phát, mà là một thứ lửa đỏ rực nung nấu của khối sắt hay lò rèn. Sức nặng, tính rắn chắc, sự vững vàng, đó là những nét toát ra từ tư thế nghỉ của ông, ngay cả vào giai đoạn mà tôi đang nói đây, khi mà sức khỏe ông đã suy sụp quá sớm như vậy. Nhưng tôi vẫn có thể hình dung rằng, ngay cả vào lúc này, nếu có một tác nhân kích thích tác động sâu vào tiềm thức của ông – do một hồi kèn xung trận khuấy động, với tiếng vang đủ lớn để đánh thức dậy tất cả những sinh lực của ông đang thiu ngủ, chứ không phải đã tắt lịm – thì ông vẫn còn có thể vứt đi mọi tật bệnh ốm đau như vứt đi chiếc áo bệnh nhân, quẳng chiếc gậy chống của tuổi già để nắm lấy thanh gươm trận, và lần nữa đứng bật dậy trở lại là người chiến sĩ. Và trong giây phút hừng hực ấy, thái độ của ông sẽ vẫn điềm tĩnh. Nhưng nói vậy thôi, chứ đó chỉ là hình ảnh gợi lên trong trí tưởng tượng, không phải là điều tiên đoán, cũng không phải là điều người ta mong muốn. Những gì mà tôi nhìn thấy ở ông – cũng rõ rệt như nhìn thấy ở thành lũy Ticonderoga cổ kính không gì hủy diệt nổi, mà tôi đã nêu ra trên đây làm hình ảnh so sánh xác đáng nhất – là những nét đặc trưng : biểu hiện sức chịu đựng ngoan cường và trụ bám không lay chuyển, tính chất này hồi ông còn trẻ rất có thể đã lên tới mức bướng bỉnh ; biểu hiện tính toàn vẹn, nó cũng như đã số những khả năng thiên phú khác của ông, là thuộc tính của một khối nặng chắc nịch không thể dát mỏng và không thể uốn nắn, hệt như một khối quặng sắt : và biểu hiện lòng nhân ái, dù cho ông đã từng hung tợn dẫn quân tuốt lê trần xung phong ở Chippewa hoặc Fort Erie, tôi vẫn hiểu rằng ông có một lòng nhân ái thực sự, hoàn toàn chả khác gì tình thương yêu nhân loại dạt dào trong lòng bất kỳ một nhà từ thiện nào đang đấu tranh cho lòng bác ái trên diễn đàn của thời đại. Theo tôi biết, ông đã từng giết người bằng chính bàn tay mình – chắc chắn là kẻ thù đã từng đổ xuống lả tả như lá cỏ dưới lưỡi hái, trước cuộc tấn công dữ dội của quân sĩ dưới quyền ông, mà tinh thần quả cảm của ông đã truyền cho sức mạnh quyết thắng – nhưng, dù ai có thể hiểu ra như thế nào đi nữa, trong lòng ông không bao giờ có sự tàn nhẫn tới mức đang tay vặt những sợi tơ mảnh trên một cánh bướm. Tôi chưa hề gặp một con người nào mà tôi có thể cầu viện đến lòng tốt bẩm sinh một cách tin tưởng hơn.
Có nhiều đặc điểm ở những con người – và cả những đặc điểm góp một phần không kém sinh động vào việc tạo ra tính tương tự trong một bức phác thảo – đều đã tan biến vào sự quên lãng, hoặc lu mờ đi, trước khi tôi gặp vị tướng quân này. Tất cả những đặc tính nào chỉ có độc một màu duyên dáng phong nhã không thôi thường là chóng phai mờ nhất, mà thiên nhiên cũng không trang điểm cho cái thể xác đã tàn rụi của con người một vẻ đẹp mới ; những bông hoa mang vẻ đẹp mới chỉ có thể nở ra và tìm nguồn dinh dưỡng thích hợp ở những kẽ nứt và khe hở của thành lũy đổ nát như thiên nhiên đã gieo hoa quế trúc vào những tường thành sụp đổ của pháo đài Ticonderoga. Thế nhưng ngay cả khi bàn về cái duyên và cái đẹp, cũng có những điểm đáng lưu ý. Trên gương mặt của con người chúng ta, thỉnh thoảng có thể thấy một tia vui ý nhị lách qua tấm màn lạnh lùng che khuất và rạng lên sảng khoái. Ở vĩ tướng quân này, người ta nhìn thấy một nét thanh lịch tự nhiên, hiếm thấy ở tính cách nam giới khi đã hết thời thơ ấu hoặc tuổi thiếu niên, thể hiện ra ở chỗ ông ham thích ngắm hoa và tận hưởng mùi hương của hoa thơm ngát. Người ta có thể cho rằng một người lính già thì chỉ biết đánh giá cao vòng nguyệt quế nhuốm máu vinh quang trên vầng trán của mình ; nhưng người lính già này lại dường như có tâm hồn của một cô gái trẻ ham thích và yêu quý họ hàng nhà hoa.
Vị tướng quân già đáng kính thường có thói quen ngồi đó, bên lò sưởi, trong khi tôi thích đứng cách ông một quãng để ngắm nhìn vẻ trầm lặng hầu như nửa mơ nửa tỉnh của ông, cố gắng tránh cho ông chừng nào hay chừng đó một việc khó khăn là phải tiếp chuyện người khác. Ông dường như xa chúng tôi thăm thẳm, mặc dù mắt chúng tôi nhìn thấy ông chỉ cách mấy thước, cách biệt hẳn, mặc dầu chúng tôi qua lại ngay bên cạnh chiếc ghế ông ngồi ; không thể với tới được, mặc dầu chúng tôi duỗi tay ra là có thể chạm được vào tay ông. Có thể là ông sống bên trong chiều sâu suy tưởng của mình một cuộc sống thực sự hơn là giữa môi trường không thích hợp của chức năng giám đốc. Sự vận động giữa thao trường, tiếng huyên náo ngoài trận địa, tiếng nhạc quân hành hùng dũng thời xưa rộn ràng bên tai ông ba mươi năm về trước – tất cả những cảnh tượng và âm thanh đó có lẽ vẫn đang sống động trong khả năng cảm nhận của trí óc ông. Trong khi đó, giữa cuộc sống thực tại, những thương gia và thuyền trưởng, những viên thư ký diêm dúa và những thủy thủ thô lỗ nối tiếp vào ra, lui tới ; những hoạt động rộn ràng của cuộc sống buôn bán và của Phòng Thuế quan liên tục rì rầm khuấy động xung quanh tướng quân ; thế nhưng ông có vẻ như không muốn xác nhận một mối quan hệ nào dù xa cách nhất với cả những người đó lẫn những công việc của họ. Ông hoàn toàn lạc lõng với môi trường, hệt như một thanh gươm cổ, nay đã han rỉ rồi, nhưng có một thời đã sáng loáng ánh thép ngoài mặt trận, mãi đến giờ vẫn còn chút ánh ngời trên lưỡi – nằm lạc lõng giữa những lọ mực, những cặp giấy tờ, những chiếc thước kẻ bằng gỗ đào trên bàn giấy Phó Giám đốc.
Có một điều đã giúp tôi rất nhiều trong việc tái hiện hình ảnh người chiến sĩ gan dạ ấy của vùng biên giới Niagara – con người có nghị lực thực sự kiên cường mà lại bình dị. Đó là hồi ức về một lời nói đáng ghi nhớ của ông : “Thưa ngài, tôi sẽ gắng!” mà ông đã phát biểu vào lúc sắp sửa tiến hành một hành động táo bạo liều mình đầy khí phách anh hùng, phản ánh linh hồn cà tinh thần quả cảm của Niu Inglơn – lĩnh hội được hết thảy mọi hiểm nguy và dám đương đầu đạp bằng tất cả. Nếu trong đất nước chúng tôi lòng dũng cảm được ân thưởng bằng vinh dự mang tước vị gia đình vọng tộc, thì lời nói ấy của ông – một lời nói trông có vẻ dễ phát biểu làm sao, ấy thế nhưng chỉ có ông mới phát biểu lên được khi đứng trước một nhiệm vụ vinh quang và nguy hiểm như vậy – sẽ là tiêu ngữ hay nhất và thích hợp nhất cho tấm gia huy cao quý của tướng quân.
Sức khỏe tinh thần và trí tuệ của một con người sẽ được bồi bổ thêm rất nhiều nếu người đó xây dựng được thói quen bầu bạn với những kẻ không giống mình, những kẻ chẳng mấy quan tâm đến công việc mình đang đeo đuổi, và có môi trường hoạt động và những khả năng riêng của họ mà nếu mình muốn đánh giá được thì mình phải thoát hẳn ra khỏi bản thân mình. Những sự tình cờ trên đường đời thường tạo cho tôi hoàn cảnh thuận lợi ấy, nhưng không bao giờ hoàn cảnh lại thuận lợi trọn vẹn và phong phú hơn trong thời gian tôi làm việc tại cơ quan này. Đặc biệt có một người đã đem lại cho tôi một khái niệm mới mẻ về vấn đề tài năng, sau một thời gian tôi chú ý quan sát tính cách của ông ta. Năng khiếu của ông nổi bật ở lĩnh vực kinh doanh buôn bán : nhanh nhạy, sắc sảo, minh mẫn, có con mắt nhìn thấu qua “mọi điều phức tạp rối rắm, và một cái tài gạn lọc sắp xếp khiến cho những khó khăn rắc rối phút chốc tan biến như bị hóa phép dưới chiếc gậy thần phù thủy. Được nuôi dạy từ thuở bé, lớn lên ngay ở ngành thuế quan này, nên đây là lĩnh vực hoạt động thích hợp nhất với ong, tất cả những điều rối rắm của nghề kinh doanh, phiền phức là thế đối với người lạ dính mũi vào đây, nhưng đối với ông thì mạch lạc đâu ra đấy thành một hệ thống hoàn toàn dễ hiểu. Trước mắt tôi, ông nổi lên thành con người lý tưởng trong đội ngũ đồng nghiệp. Quả thật, bản thân ông với Phòng Thuế quan chỉ là một ; hoặc có thể nói, trong bất kỳ tình huống nào tôi cũng là cái dây cót chính duy trì hoạt động của mọi bánh xe quay theo nhiều chiều khác nhau của bộ máy : bởi vì, trong một cơ chế như thế này, nơi mà các viên chức được bổ nhiệm đến chỉ lo cho lợi ích của cá nhân mình, và hiếm khi có ý kiến của lãnh đạo nhắc đến năng lực hoàn thành nhiệm vụ của họ, nhất định họ phải tìm kiếm ở kẻ khác cái tài khéo léo mà họ không có. Vậy là, theo một quy luật tất yếu, giống như thanh nam châm hút mạt sắt, con người thạo nghề nói trên đây chuốc lấy vào thân tất cả những khó khăn mà mọi người vấp phải. Với một sự hạ cố dễ dãi, và một tinh thần kiên nhẫn chịu đựng đầy thiện ý trước sự ngu đần của mọi người – mà đối với đầu óc quy củ của ông, sự ngu đần ấy đáng ra phải được xem gần như là tội nặng – ông thường vui lòng gánh vác, mà hễ chạm ngón tay vào là tức khắc ông khiến cho điều khó hiểu trở nên sáng tỏ như ban ngày. Các nhà buôn cũng đánh giá cao ông không kém gì chúng tôi, những người bạn mật thiết của ông. Đức liêm khiết của ông thật là tuyệt vời. Với ông, đó là một quy luật tự nhiên đúng hơn là một điều phải lựa chọn hoặc một nguyên tắc ; mà cũng không thể là cái gì khác được khi mà tính chất của một trí tuệ minh bạch và chính xác một cách phi thường làm vậy tất phải trong sạch và qui củ trong vấn đề thực hiện công việc. Một vết nhơ trong lương tâm về bất kỳ điều gì dính đến phận sự mình ắt sẽ gây phiền muộn cho con người ấy giống như một lỗi trong giấy tờ kế toán hoặc một vết mực hoen trên trang giấy trắng tinh của cuốn sổ ghi, mà nỗi phiền muộn ấy lại còn nhức nhối hon nhiều. Tóm lại, tại nơi đây – tôi đã gặp một con người hoàn toàn thích ứng với vị trí công tác của mình.
Trên đây là một số trong những người hiện nay đang có quan hệ với tôi. Tôi thấy mình không phật ý về điều gì, nhờ phúc phận Thượng đế ban cho, hài lòng rằng minh đã được ném vào một vị trí khác biệt khá xa lạ với những thói quen xưa kia của mình ; và tôi đã đặt vấn đề nghiêm chỉnh ra sức hái lượm bất kỳ điều gì bổ ích mà tôi có thể phát hiện ra được từ cuộc sống mới này. Sau thời gian đã tham gia vào những công việc lao động nặng nhọc và những ý đồ cao siêu cùng với những người anh em mơ mộng ở hội Brook Farm ; sau khi đã sống ba năm trong vòng ảnh hưởng tinh tế của một trí tuệ như của Emerson ; sau những ngày phóng túng tự do trên bờ Acsabeth, theo đuổi những mộng tưởng hư ảo với Ellery Channing bên ngọn lửa rực cháy từ đống cành khô chúng tôi gom đốt ; sau những buổi trò chuyện cùng Thoreau ở nơi ẩn dật của anh tại Walden về những cây thông và các di tích Ấn Độ ; sau khi đâm chán lối tao nhã cổ điển của văn hóa Hillard ; sau khi được thấm đẫm tình cảm thơ ca nơi tổ ấm của Longfellow – cuối cùng nay đã đến lúc tôi cần rèn luyện những khả năng khác của con người tôi, và nuôi dưỡng mình bằng những món ăn mà cho đến nay tôi chẳng mấy ham thích. Ngay cả ông cụ Phó Thanh tra cũng là một món bổ ích, xem đó như là một sự thay đổi chế độ ăn đối với một người đã thưởng thức Alcolt. Khi nhắc đến những kẻ đã từng cộng tác bầu bạn với tôi đó, tôi coi việc tôi có thể chan hòa cùng một lúc với nhiều con người có những đặc tính hoàn toàn khác nhau, mà không bao giờ than phiền về sự thay đổi, là một dấu hiệu, ở một chừng mực nào đó, của một cơ thể vốn có trạng thái thăng bằng tốt và không bị thiếu một thành phần thiết yếu nào của một tổ chức hoàn bị.
Công tác văn học, việc sử dụng nó và những mục tiêu của nó, lúc này đối với tôi chả quan trọng gì lắm. Trong thời gian này tôi không quan tâm đến sách, tôi gạt chúng sang một bên. Tính chất của giới tự nhiên – trừ tính chất con người – thứ giới tự nhiên phát triển giữa đất trời, đã bị, về một ý nghĩa nào đó, che khuất đi trước mắt tôi : vả tất cả niềm khoái cảm của tư duy sáng tạo mà trước đây tôi đã vận dụng để truyền một ý nghĩa tinh thần cho giới tự nhiên đó, lúc này đã tan biến đi đâu mất khỏi đầu óc tôi. Một khả năng, một cái khiếu thiên tư bên trong tôi, nếu không phải đã tàn lụi, thì cũng đang bị ngưng trệ và bất động. Tất cả những điều đó hẳn đã làm cho cõi lòng tôi u buồn khôn tả nếu như tôi không tỉnh táo ý thức được rằng lối thoát chính là do tôi phải hồi phục lại bất kỳ những gì quý giá trong quá khứ. Quả thật có thể đúng là quãng đời ở nơi đây không thể kéo quá dài mà tránh khỏi bị tác hại. Nếu cứ ở đây lâu, cuộc sống này có thể làm tôi vĩnh viễn trở thành một kẻ khác hẳn với con người của tôi xưa kia, chứ không biến hóa tôi thành một thứ hình thù gì đáng với sự mong muốn của tôi. Nhưng tôi bao giờ cũng xem quãng đời ở đây chỉ là một bước quá độ, chứ không phải là cái gì khác. Luôn luôn có một linh tính tiên tri nào đó, một lời thì thầm rỉ tai tôi, cho biết rằng chẳng bao lâu nữa một sự thay đổi sẽ xảy ra, vào bất kỳ lúc nào mà sự đổi mới sẽ cần thiết cho lợi ích của tôi.
Trong thời gian chưa có gì xảy ra, thỉ tôi đây vẫn cứ là viên thanh tra của Phòng Thuế quan, và trong chừng mực mà tôi có thể nhận thức thấy, một viên thanh tra cần phải như thế nào thì tôi cũng đã đạt được như vậy. Một anh chàng nào đó có suy nghĩ, có trí tưởng tượng, và nhạy cảm (dù về những đức tính này anh ta có tầm cỡ hơn một viên thanh tra gấp mười lần) bất cứ lúc nào cũng có thể làm một con người kinh doanh buôn bán, nếu anh ta vui lòng chịu phiền làm việc đó. Các viên chức trong cơ quan tôi, các nhà buôn và thuyền trưởng có bất kỳ mối quan hệ nào đó với tôi khi tôi thừa hành công vụ, đều không nhìn tôi theo cách hiểu nào khác và không nhận biết tôi ở một tính cách nào khác. Tôi cầm bằng là không có một ai trong bọn họ đã đọc một trang nào trong những sáng tác của tôi, hoặc nếu có đọc hết tất cả đi chăng nữa thì họ cũng cóc cần để ý gì đến tôi hơn : mà tình hình cũng không được cải thiện hơn lên chút nào nếu như cũng những trang vô bổ ấy lại được viết ra bởi những ngòi bút như của Burrs hoặc của Chaucer là những người đã từng làm viên thuế quan trong thời của họ, cũng như tôi hiện nay. Hỡi con người ấp ủ giấc mơ được nổi danh trong làng văn học và qua đó tạo cho mình một chỗ đứng trong hàng ngũ những người có địa vị cao trọng trên thế giới, nếu anh bước ra khỏi cái vòng chật hẹp trong đó những đòi hỏi của anh đã được chấp nhận, thì anh sẽ học được một bài học thật thấm thía – mặc dù thường là chua chát khó chịu –khi nhận thấy là bên ngoài cái vòng đó, tất cả những thành tựu của anh, và tất cả những gì mà anh nhằm đạt tới đều hoàn toàn không có ý nghĩa gì hết! Tôi không biết là tôi có đặc biệt cần bài học ấy hay không, với tính chất là bài học răn bảo hoặc là bài học quở trách, nhưng dù sao đi nữa, tôi cũng đã quán triệt nó một cách thấu đáo. Mà tôi cũng khoan khoái ngẫm thấy rằng khi tôi nhận thức thấy rõ được sự thật thì sự thật ấy đã không làm cho tôi phải đau nhói trong lòng, cũng không đòi hỏi tôi phải gạt đi bằng một tiếng thở dài. Trong khoản chuyện trò về văn học, thực tình cũng có một người, tay ủy viên hải quân của cảng, - một anh chàng tuyệt vời, anh ta đến cơ quan này cùng một lúc với tôi, và rời cơ quan sau tôi một ít – thường kéo tôi vào một cuộc thảo luận về một trong hai chủ đề mà anh ưa thích, là Napôlêông hoặc Sech6xpia. Lại còn có cậu thư ký văn phòng ông Giám đốc – một chàng trai hào hoa phong nhã, mà theo lời người ta rỉ tai thì thỉnh thoảng gã lại ghi đầy trang giấy viết thư của Chú Sam những dòng chữ mà người ta đứng cách vài thước nhìn thấy có vẻ rất giống như một bài thơ – cậu này đôi lúc cũng nói chuyện với tôi về các tác phẩm văn học, coi như đó là lĩnh vực mà có lẽ tôi cũng khá hiểu biết. Đó là toàn bộ những mối quan hệ trao đổi về văn chương chữ nghĩa giữa tôi với kẻ khác, và như vậy là nhu cầu của tôi cũng đã được đáp ứng đầy đủ lắm rồi.
Không còn mưu cầu hoặc quan tâm đến việc phấn đấu cho cái tên của tôi được truyền đi rộng rãi khắp mọi nơi trên trang đầu những cuốn sách, tôi mỉm cười khi nghĩ ra rằng tên tôi giờ đây lại được phổ biến thịnh hành theo một kiểu khác. Người ghi dấu vào hàng hóa, dùng sơn đen với một cái khuôn tô, đã in tên tôi vào các bì hạt tiêu, các giỏ đựng thuốc nhuộm thức ăn, các hộp xì gà, và các kiện hàng thuộc mọi loại phải đóng thuế, để chứng nhận rằng những hàng hóa này đã trả thuế nhập cảnh và đã chấp hành đúng thủ tục đi qua Phòng Thuế quan. Trên thứ phương tiện kỳ quặc dùng để truyền bá danh tiếng ấy, một thông tin về sự tồn tại của tôi, trong chừng mực mà một cái tên có khả năng truyền đạt được thông tin ấy, đã được mang đến những nơi mà trước kia nó chưa hề được truyền tới, và tôi hy vọng nó sẽ không bao giờ đến đấy một lần nào nữa.
Nhưng quá khứ đã không chết hẳn. Đôi lúc, cũng khá lâu mới có một lần, những suy nghĩ trước đây dường như xiết bao sống động và tích cực song đã bị dòm vào giấc ngủ im lìm, lại được gợi lên hào hứng trở lại.
Một trong những dịp đặc biệt nhất khiến thói quen trong những ngày đã trôi qua lại thức dậy bên trong tôi, là cái dịp tôi nói đến sau đây, nó đã đưa thói quen đó trở lại đi vào khuôn phép của văn học nhằm phục vụ cho bạn đọc bản phác thảo mà lúc này tôi đang viết.
Trên tầng hai ngôi nhà Phòng Thuế quan có một buồng lớn mà chưa bao giờ được che ván và trát vữa. Được xây dựng theo dự án ban đầu khá quy mô thích ứng với khối lượng kinh doanh buôn bán to lớn xưa kia của cảng, và với một ý niệm về sự phồn vinh tương lai mà về sau không bao giờ thành sự thực – tòa dinh thự đã quá thênh thang rộng rãi đối với những người làm việc ở đây, họ không biết sử dụng như thế nào cho hết. Bởi vậy, căn buồng lộng gió này ; nằm phía trên dãy phòng của viên Giám đốc, vẫn cứ ở tình trạng không hoàn thành cho đến ngày nay, và mặc dù đầy những mạng nhện lâu đời kết thành những chuỗi xám xịt dăng ngang dọc như những dây hoa trang trí, no có vẻ như vẫn đang chờ đợi bàn tay của người thợ mộc và người thợ nề. Ở một đầu buồng, trong một hốc tường, có nhiều thùng chồng lên nhau, chứa đầy những bó hồ sơ tài liệu. Một số lượng lớn giấy tờ tập tàng giống như vậy nằm ngổn ngang bề bộn trên sàn nhà. Thật là đáng buồn khi nghĩ đến biết bao nhiêu thời gian, những ngày, những tuần, những tháng, những năm lao động vất vả đã bị lãng phí vào những đống giấy tờ cũ kỹ mốc meo ấy bây giờ chỉ còn là một mớ chướng ngại phiền toái giữa trần gian, bĩ tống vào cái xó quên lãng này, chẳng bao giờ còn được một con người nào màng để mắt đến. Nhưng, nếu những thứ này đã như vậy, thì hẳn là đầy ắp những câu kệ tẻ ngắt của nghi thức công văn giấy tờ, mà là chan chứa cảm xúc tư duy của những đầu óc đầy sáng tạo và tình cảm dạt dào phong phú của những trái tim sâu sắc – cũng đều bị xếp xó đi vào lãng quên như thế cả ư? ; mà hơn nữa lại không phục vụ được một mục đích nào trong thời mà chúng được viết ra, như những giấy tờ chất đống này đã phục vụ, và – điều đáng buồn hơn tất cả là – không mua được cho người viết cuộc sống dễ chịu như cuộc sống mà các viên chức Phòng Thuế quan đã kiếm được bằng nghề cạo giấy vô tích sự này của họ. Thế nhưng có lẽ đống giấy tờ này cũng không phải là hoàn toàn vô dụng cả, nếu ta xem xét nó ở tính chất là những tư liệu lịch sử địa phương. Chắc chắn ở đây có thể tìm ra được những con số thống kê của nền thương mại xưa kia tại Salem, và những điều ghi chép lưu niệm về những ông vua ngành buôn – Lão vương Derby, già Billy Gray, già Simon Forrester – và nhiều trùm tư bản cỡ bự khác của từng thời kỳ, mà mái đầu thoa phấn vừa chui xuống mồ thì đống của cải to như núi cũng bắt đầu sụt lở. Cũng trong mớ táp nham này, chắc người ta có thể lần ra dấu vết những vị thủy tổ của phần lớn những dòng họ hiện nay đứng trong hàng ngũ tầng lớp quý tộc của Salem, xuất thân chỉ là con buôn hạ lưu không tên tuổi trong những thời sau Cách mạng nước Mỹ khá xa, dần dần leo lên đến một chỗ đứng mà con cháu họ ngang nhiên coi là một địa vị xã hội xác lập đã lâu đời.
Những văn thư sổ sách trước ngày Cách mạng hầu như không còn gì ; tài liệu hồ sơ thời kỳ ban đầu của Phòng Thuế quan có lẽ đã bị mang về thành phố Halifax, lúc tất cả các quan chức của nhà vua kéo theo quân đội Anh rút chạy khỏi Boston. Đôi khi nghĩ đến tôi lại thấy tiếc, vì những giấy tờ ấy có lẽ đã ghi lại những sự kiện từ thời Bảo hộ, hẳn phải chứa đựng nhiều tư liệu về những con người mà thiên hạ đã quên hoặc còn nhớ, và về những phong tục cổ xưa, những tư liệu ắt sẽ làm cho tôi thích thú giống như khi tôi nhặt được những đầu mũi tên của người da đỏ trên cánh đồng gần ngôi nhà mục sư cổ.
Nhưng, một hôm nhàn rỗi và trời mưa, may mắn làm sao tôi phát hiện được một vật khá thú vị. Ở góc buồng, giở hết tập này đến tập nọ, tôi đang lần mò sục sạo đào bới trong đống tập tàng, đọc tên những con tàu đã đắm ngoài biển hoặc đã mục nát tại bến cảng từ lâu, đọc tên những nhà buôn chẳng bao giờ còn nghe nói đến trên thị trường chứng khoán mà cũng không dễ dàng gì được giải đoán ra trên những tấm mộ chi phủ đầy rêu ; đôi mắt tôi đang dõi theo những thứ đó với một tinh thần buồn chán, mệt mỏi và khá là miễn cưỡng như khi người ta xem một cái xác của sinh vật đã chết cứng – và cố gắng vận dụng sức tưởng tượng của mình ; mà lâu nay ít dùng đến đã sinh ra trì độn, để dựng lại từ những nắm xương tàn này một hình ảnh rạng rỡ hơn của thành phố cổ, khi Ấn Độ còn là một miền đất, mới được phát hiện, và chỉ có Salem mới biết đường đi tới đó – đang lần mò như vậy thì tình cờ tôi đặt tay vào một cái gói nhỏ, bọc cẩn thận bằng một tấm giấy da cũ màu vàng. Tấm giấy bọc này có vẻ như là một tờ văn thư của một thời kỳ đã qua từ lâu, khi mà các viên thư ký chép bằng chữ to những văn kiện chính thức với những nét viết tay cứng đơ lên trên những thứ giấy thô bền hơn thứ được dùng hiện nay. Có một cái gì đó ở gói này kích thích bản năng tò mò trong tôi, khiến tôi vội cởi cái dây đỏ đã bạc màu buộc ngoài, với linh cảm là một của quý sắp được lôi ra ánh sáng. Vuốt thẳng những nếp gấp cứng quèo của tờ giấy da bọc ngoài, tôi thấy đó là một tờ lệnh bổ nhiệm, có chữ ký và dấu của thống đốc Nha Thuế quan của Đức vua tại hải cảng Salem, trong tỉnh Massachusetts. Tôi nhớ là đã có đọc một bản cáo phó (có lẽ là đọc trong Sử Biên niên của Felt) về sự qua đời của ngài Thanh tra Pue cách đây khoảng tám mươi năm, thuật lại việc bốc mộ ông ta ở bãi nghĩa địa nhỏ của nhà thờ Thánh Peter, trong thời gian người ta tu sửa lại ngôi nhà thờ này. Nếu tôi còn nhớ đúng, thì thi hài của vị tiền bối đáng kính của tôi không còn lại gì ngoài một bộ xương không hoàn chỉnh, vài mảnh quần áo, và một bộ tóc giả uốn thành búp trang nghiêm đường bệ, bộ tóc này vẫn còn tồn tại nguyên vẹn, không bị mục nát như cái đầu mà nó đã một thời tô điểm. Khi tôi xem xét những giấy tờ gói trong tờ lệnh bổ nhiệm bằng giấy da, tôi đã tìm thấy những di tích của phần trí tuệ của ông Pue và hoạt động bên trong đầu óc của ông ta còn nhiều hơn phần vết tích nào đó của hộp sọ đáng kính mà bộ tóc giả uốn búp kia có thể còn giữ lại được trong mồ.
Tôi xin nói vắn tắt rằng những giấy tờ ấy không phải là công văn, mà là giấy tờ riêng, hoặc ít nhất là được viết ra với tư cách cá nhân, và trông có vẻ là tự tay ông viết. Tôi chỉ có thể giải thích rằng sở dĩ nó nằm trong mớ lộn xộn bỏ đi chất đống trong Phòng Thuế quan là do cái chết của ông Pue đã xảy ra đột ngột, và những giấy tờ này, mà có lẽ ông đã để lại bàn làm việc của mình, không được những kẻ thừa tự của ông hay biết, hoặc mọi người tưởng rằng nó là giấy tờ liên quan đến công việc của ngành. Trong cuộc di chuyển hồ sơ sổ sách về Halifax, người ta thấy gói này không dính gì đến việc công nên đã bỏ lại, và từ đó nó đã nằm yên tại chỗ không ai mở ra.
Tôi cho rằng vào cái thuở ban sơ ấy, vị thanh tra tiền bối chắc ít bị quấy rầy bởi công việc liên quan tới phần trách nhiệm của ông, nên có vẻ ông đã dành một phần trong nhiều thì giờ nhàn rỗi của mình vào những công việc tìm tòi nghiên cứu như một nhà khảo cổ địa phương và một số công việc điều tra sưu tầm khác, với tính chất tương tự. Những công việc này cung cấp tài liệu cho bộ máy của một đầu óc hoạt động, nếu không e nó bị hoen rỉ mất. Tiện thể, xin thưa là một phần của những tư liệu ông ghi chép đã có tác dụng tốt giúp tôi soạn thảo một câu chuyện kể nhan đề “Đường phố chính” mà tôi sẽ đưa vào trong tập truyện này 4 . Số tư liệu còn lại có lẽ sẽ được dùng sau này vào những mục đích có giá trị tương tự, và biết đâu cũng rất có thể sẽ được soạn kỹ để góp phần vào một cuốn sử nghiêm chỉnh về Salem, nếu như lòng tôn kính của tôi đối với mảnh đất quê hương có thúc đẩy tôi phải thực hiện một nghĩa vụ hiếu hạnh như vậy. Nhưng trong khi chờ đợi, xin sẵn sàng nhường quyền tùy nghi sử dụng những tư liệu ấy cho bất cứ vị nào có ý thích và có tài năng, đỡ cho tôi một công việc lao động chắc chả đem lại lợi ích gì. Phương sách cuối cùng mà tôi dự tính là gửi những tài liệu này vào Hội Lịch sử Essex.
Nhưng trong cái gói bí ẩn của viên thanh tra xưa có một vật đã thu hút sự chú ý của tôi nhiều nhất. Đó là một mảnh vải mịn màu đỏ tươi đã sờn rách và phai bạc. Trên mảnh vải có những vết tích còn lại của những đường thêu kim tuyến, tuy nhiên đã bị cọ xơ ra và xỉn đi rất nhiều đến nỗi không còn hoặc còn lại rất ít cái màu vàng óng ánh của nó. Có thể nhận thấy dễ dàng rằng những dường nét ấy được thêu với một sự tinh xảo kỳ diệu của đường kim mũi chỉ. Theo lời các bà thạo về những thứ thần tinh như vậy quả quyết với tôi, thì lối thêu trên mảnh vải này biểu lộ một nghệ thuật hiện nay đã mai một đi, và không thể nào phát hiện lại được dù cho có dùng cách lần mò tháo xem từng mũi nhỏ. Trải qua thời gian quá lâu, lại bị sự bào mòn của môi trường và cả một giống nhậy báng bổ nào đó nhằn nhấm, mảnh vải đã trở thành một miếng giẻ rách tả tơi.
Nhưng khi tôi cẩn thận trải ra xem xét kỹ lưỡng, thì thấy mảnh vải rách ấy thể hiện hình dạng một chữ cái : chữ A viết hoa. Cố gắng đo thật chính xác thì thấy mỗi nét sổ xuống dài đúng ba inch một phần tư 5 .
Không thể nghi ngờ gì nữa, nó hẳn đã được dùng làm một vật trang sức trên quần áo : nhưng mà làm sao người ta lại phải mang cái dấu hiệu ấy, hoặc nó biểu thị tần lớp nào, chức tước gì, danh vị gì thời xưa, những điều đó đối với tôi là cả một bài toán khó hiểu mà tôi thấy ít có hy vọng giải đoán được, bởi những kiểu thời trang của thế giới về những chi tiết này rất chóng phai mờ. Nhưng nó vẫn lôi cuốn sự chú ý của tôi một cách kỳ lạ. Mắt tôi dán vào cái chữ bằng vải màu đỏ cũ kỹ, không muốn rời sang nơi khác nữa. Chắc chắn là ở đây có một ý nghĩa gì đấy thật là sâu xa rất đáng được làm sáng tỏa, ý nghĩa ấy toát ra từ cái biểu tượng bí ẩn, có thể cho là như vậy, và tinh tế truyền lan vào trong cảm giác của tôi, nhưng đầu óc của tôi không tài nào phân tích ra được.
Tôi cứ loay hoay bối rối như vậy, và tự đặt ra trong số hàng loạt giả thiết, một câu hỏi là phải chăng cái chữ này là một trong những vật trang sức mà người da trắng bày đặt ra để gây một ấn tượng nào đó đối với người da đỏ. Trong khi đang suy nghĩ miên man, tình cờ tôi đặt mảnh vải ấy lên ngực mình. Thế là bỗng nhiên – quý vị độc giả có thể mỉm cười, nhưng xin đừng có nghi là tôi bịa – bỗng nhiên tôi thấy hình như trên ngực mình, không hẳn là ngay trên da thịt, nhưng cũng hầu như là thế, có một cảm giác cháy bỏng như thể cái mảnh chữ ấy không phải là miếng vải đỏ, mà là mẫu sắt nung đỏ. Tôi thốt rùng mình, đánh rơi nó xuống sàn nhà.
Cho đến lúc này, vì bị thu hút vào miếng vải chữ A màu đỏ, tôi đã không chú ý đến một cuộn giấy nhỏ hơi cáu bẩn mà miếng vải đỏ ấy đã quấn xung quanh. Bây giờ tôi mới cầm nó lên phanh ra, và rất hài lòng phát hiện thấy ở cuộn giấy đỏ nội dung giải đáp khá đầy đủ toàn bộ vấn đề tôi đang thắc mắc, được ghi chép bằng chính nét bút của viên thanh tra xưa. Cuộn này gồm dăm tờ giấy khổ lớn, thuật lại nhiều chi tiết về cuộc đời và tội ngoại tình của một người đàn bà tên là Hester Prynne, người này có vẻ là một nhân vật đáng chú ý trước con mắt các tổ tiên của chúng ta. Người phụ nữ này đã vang bóng một thời trong giai đoạn từ buổi sơ khai của bang Massachusetts cho đến cuối thế kỷ thứ mười bảy. Theo lời một số cụ già còn sống trong thời ông Thanh tra Pue đã kể lại những tình tiết mà ông Pue tập hợp thành câu chuyện của ông, thì hồi các cụ còn trẻ, Hester Prynne đã là một bà lão rất già, tuy nhiên không hom hem lụ khụ, mà trông có vẻ quắc thước đường bệ. Từ một ngày xa xưa nào đó không ai còn nhớ nữa, bà ta đã có thói quen đi nơi này nơi nọ khắp miền, giúp đỡ mọi người như một nữ khán hộ tình nguyện, và làm bất cứ những việc thiện nào mà bà có thể làm được : bà còn tự nguyện góp ý cho người khác về tất cả mọi vấn đề, đặc biệt là những vấn đề tình cảm. Những hành động ấy dẫn đến kết quả tất yếu không tránh khỏi – đối với bất kỳ ai có xu hướng giống như vậy – là có nhiều người kính trọng bà như một vị thiên thần, nhưng đồng thời, theo tôi nghĩ, lại có những người khác xem bà như một thứ của nợ chõ mũi vào việc người ta. Đọc kỹ bản viết tay của ông Pue, tôi thấy thêm nhiều việc làm khác và những nỗi đau khổ của người đàn bà độc đáo này. Xem câu chuyện “Chữ A màu đỏ”, các bạn đọc sẽ biết được phần lớn những tình tiết ấy ; và xin mọi người hãy ghi nhớ cho một điều là những tư liệu của ngài Thanh tra Pue đã là căn cứ chứng minh tính xác thực của những sự kiện chính trong câu chuyện ấy. Những giấy tờ nguyên bản đó, cùng với bản thân mảnh vải chữ A màu đỏ - một kỷ vật thật là kỳ thú tuyệt vời – hiện nay vẫn nằm trong tay tôi, và nhất định sẽ được xuất trình cho bất kỳ ai thích thú nội dung câu chuyện này muốn tận mắt nhìn thấy những bằng chứng ấy. Nhưng xin đừng hiểu nhầm là tôi khẳng định rằng trong việc sắp xếp mài dũa nội dung câu chuyện và hình dung ra những động cơ và xúc cảm tác động đến những nhân vật trong chuyện đó, tôi đã tự đóng khung một cách bất di bất dịch bên trong giới hạn những điều ghi chép trên dăm tờ giấy khổ lớn đó của ngày Thanh tra Pue. Thưa, không phải vậy đâu. Khi tôi làm những điều đó, tôi đã tự trao cho mình một quyền hạn gần như đầy đủ, hoặc cũng có thể là hoàn toàn đầy đủ, như thể toàn bộ những vụ việc ấy đều đã do bản thân tôi sáng tác ra. Điều mà tôi cố phấn đấu để bảo toàn chỉ là tính xác thực của những đường nét chính.
Tập tư liệu tôi phát hiện ra đã phần nào lôi đầu óc tôi trở về lối mòn cũ. Lúc ấy tôi nghĩ là hình như có thể lấy đây làm chất nền cho một câu chuyện kể. Sự kiện này đã gây cho tôi một sự xúc động sâu sắc, như thể viên thanh tra tiền bối đã đến đây gặp tôi tại căn buồng hoang vắng này của Phòng Thuế quan, trong bộ y phục cổ của ngài một trăm năm về trước, với bộ tóc giả bất tử - bộ óc đã xuống mồ cùng với ngài, nhưng không hề bị tiêu hủy. Tư thế của ngài toát lên vẻ chững chạc đường hoàng ở một con người mang trọng trách của Nhà Vua giao phó, và do đó được chiếu rọi bởi một tia từ vầng hào quang chói lọi tỏa ra quanh ngai vàng. Than ôi! Bên cạnh ngài, cái vẻ hèn mọn của một viên chức đảng Dân chủ thật là một trời một vực ; kẻ hèn mọn này, với tư cách là người đầy tớ của nhân dân, tự thấy mình còn kém hơn người kém nhất, thấp hơn người thấp nhất trong những bậc thầy của mình. Bàn tay ma của cái hình bóng mờ ảo những rất mực uy nghi đó đã giao cho tôi cái biểu tượng bằng vải màu đỏ tươi và cuộn giấy viết tay chứa đựng nội dung dẫn giải. “Với cái giọng huyền bí từ cõi bên kia vọng về, người đã khích lệ tôi, vì nghĩa vụ hiếu thảo và lòng thành kính thiên liêng của tôi đối với người – bởi một điều rất hợp lý là người có thể tự cho mình là ông tổ của tôi trong ngành – người đã khích lệ tôi công bố tập di cảo đầy bụi mốc và bị nhậy cắn nhấm của mình. “Hãy thực hiện việc này!”, bóng ma ngài Thanh tra Pue nói, với một động tác trang trọng hất mạnh đầu ra hiệu nom thật oai nghiêm dưới bộ tóc giả bất hủ, “Hãy thực hiện việc này, rồi toàn bộ lợi ích tất sẽ thuộc về anh! Chẳng bao lâu nữa anh sẽ cần đến nó ; bởi vì thời buổi anh đang sống ngày nay làm gì được như thời của ta, là lúc mà chức vụ của một con người là một quyền lợi được giữ cho đến hết đời, thậm chí thường là cha truyền con nối! Nhưng ta giao nhiệm vụ cho anh, trong vấn đề viết về bà cụ Hester Prynne này, anh phải dành cho hương hồn vị tiền bối của anh phần công trạng xứng đáng với quyền được hưởng”. Và tôi trả lời với bóng ma của ngài Thanh tra Pue : “Thưa vâng! Nhất định tôi sẽ thực hiện!”.
Và vì thế đầu óc tôi đã tập trung suy nghĩ rất nhiều về câu chuyện của Hester Prynne. Câu chuyện ấy đã trở thành chủ đề của nhiều giờ phút miên man trầm tư mặc tưởng của tôi, trong khi đôi chân tôi đi đi lại lại trong phòng, hoặc lững thững bước xuôi ngược hàng trăm lần dọc lối đi dài từ cửa trước đến cửa ngách Phòng Thuế quan. Thật là khó chịu, bực mình xiết bao cho cụ Phó thanh tra và các vị nhân viên cân đo của cơ quan ; giấc ngủ thiu thiu của các cụ bị liên tục quấy rầy bởi những tiếng bước chân nặng nề của tôi cứ lẵng nhẵng tàn nhẫn đi tới rồi lại đi lui mãi mãi không thôi. Nhớ lại những thói quen của bản thân họ trước kia, họ thường bảo nhau là vị Thanh tra đang dạo bước trên boong tàu. Có lẽ họ tưởng tượng rằng mục đích duy nhất của tôi là để tạo ra sự ngon miệng cho bữa ăn sắp tới – mà quả là làm gì có mục đích nào khác đối với một con người có đầu óc lành mạnh, khiến người ấy tự giác cất công cử động đi lại như vậy? Và cũng xin thú thực rằng biết bao nhiêu sự vận động thân thể không biết mệt mỏi đó đúng là chỉ dẫn đến một kết quả duy nhất đáng giá là làm tôi ăn ngon miệng, càng được kích thích ngon miệng thêm nhờ ngọn gió hướng đông khoan khoái thường thổi dọc lối đi này. Cái không khí của Phòng Thuế quan thật lả kém thích hợp đối với sự sáng tạo tế nhị của trí tưởng tượng và cảm xúc của con người, đến nỗi ví như tôi còn tiếp tục ở lại đó qua mười nhiệm kỳ tổng thống nữa thì cũng chưa chắc câu chuyện “Chữ A màu đỏ” đã ra mắt bạn đọc được. Nằm tại cơ quan này, trí tưởng tượng của tôi còn là một tấm gương mờ. Nó không phản chiếu cái gì cả, hoặc chỉ phản chiếu ở mức độ lờ mờ thật là khốn khổ những hình ảnh mà tôi cố gắng hết sức mình để xây dựng nên trong trí. Bất kỳ một ngọn lửa nào mà tôi có thể nhen nhóm lên trong lò trí tuệ của tôi đều không truyền được hơi ấm sinh khí cho những nhân vật trong câu chuyện và không làm cho những nhân vật ấy trở thành dễ rèn uốn. Chúng không chịu bừng lên nhiệt tình của sự đam mê nồng cháy, cũng không chịu thấm sự dịu dàng của tình cảm, mà cứ cúng đơ như xác chết và chòng chọc nhìn thẳng vào mặt tôi với một nét nhăn nhở ghê khiếp đầy vẻ bất chấp khinh bỉ. Cái vẻ ấy dường như muốn nói : “Anh cần đến ta làm gì? Cái quyền lực nhỏ bé mà có thể một thời anh đã có đối với những thành viên của thế giới hư ảo nay đã hết rồi! Anh đã đổi nó lấy một nhúm tiền vàng rẻ mạt của nhà nước! Vậy thì anh cứ đi, đi theo con đường ấy, đi mà kiếm lấy đồng lương của anh!”. Nói tóm lại, những nhân vật hầu như thiếu sinh khí do trí tưởng tượng của tôi đẻ ra đã quở mắng tôi là ngu đần, và lời quở mắng ấy cung không phải là không hợp lý.
Nhưng không phải là đầu óc tôi chỉ rơi vào tình trạng tê liệt thảm hại đó trong ba tiếng rưỡi đồng hồ mà Chú Sam đòi hỏi cuộc đời của tôi phải chia phần hàng ngày cho chú. Mà tình trạng đó còn đeo đẳng lấy tôi cả khi tôi đi dạo trên bờ biển hoặc lang thang giữa vùng nông thôn trong những trường hợp – họa hoằn và bất đắc dĩ – tôi vùng dậy đi tìm cái chất quyến rũ của thiên nhiên bồi bổ thêm sinh lực mà trước kia tôi đã từng được hưởng, nó khiến cho tôi sảng khoái và tư duy linh lợi, mỗi lần bước qua ngưỡng cửa ngôi nhà Mục sư cổ đi ra giữa đất trời. Cũng trạng thái mê mụ đó đã theo tôi về đến tận nhà và đè nặng lên tôi khi tôi ngồi trong căn phòng mà, rõ thật ngớ ngẩn, tôi lại gọi là “phòng làm việc” của tôi. Tình trạng tê liệt khả năng tư duy đó cũng không hề buông tha tôi khi đêm đã khuya, tôi ngồi trong phòng tiếp khách vắng tanh, không đèn không đóm, chỉ có ánh lửa bập bùng trong lò sưởi và ánh trăng suông, cố hết sức để hình dung ra trong trí những tình tiết trạng huống hư cấu mà ngày hôm sau may sao có thể tuôn ra đầu ngòi bút lên trên trang giấy rạng rỡ thành bức tranh miêu có màu sắc sinh động.
Nếu như trong những giờ phút như vậy mà năng lực tư duy sáng tạo còn cự tuyệt không chịu hoạt động nữa thì rất có thể phải xem như là tuyệt vọng. Trong một căn buồng thân thuộc, ánh trăng vằn vặc trải trên tấm thảm và soi rõ mọi hình ảnh – từng chi tiết của mọi vật đều thật minh bạch, tuy nhiên lại rất khác sự minh bạch giữa buổi sáng hoặc ban trưa – quả là môi trường thích hợp nhất cho một nhà viết tiểu thuyết thâm nhập vào những vị khách hư cấu trong mộng tưởng của mình. Trước mắt kia là khung cảnh nho nhỏ của cuộc sống gia đình trong gian phòng quen thuộc ; mấy chiếc ghế tựa, mỗi chiếc mang một tính cách riêng ; chiếc bàn đặt chính giữa phòng, trên có cái giỏ khâu, vài cuốn sách, một cây đèn không thắp ; chiếc trường kỷ ; tủ sách ; bức tranh trên tường – tất cả những vật ấy, nhìn thấy trọn vẹn đến từng chi tiết, đã được vầng ánh sáng huyền diệu truyền cho một tinh thần thật sống động, khiến cho bản chất thực tế của chúng dường như mất đi và chúng trở thành những vật có tri giác. Không có cái gì là quá nhỏ và quá vặt vãnh đến nỗi không nhận được phép mầu của sự biến đổi ấy, và nhờ đó mà được phú cho một phẩm cách. Một chiếc giày trẻ thơ, cô búp bê ngồi trong chiếc xe nhỏ bằng liễu gai ; chú ngựa gỗ… - tóm lại, bất kỳ những gì ban ngày chỉ là vật dùng hoặc đồ chơi thì lúc này lại được truyền cho một tính chất kỳ lạ và cách biệt nào đó, mặc dù vẫn sờ sờ trước mắt cũng minh bạch rõ ràng gần như giữa ánh sáng ban ngày. Vậy là, gian phòng quen thuộc của chúng ta đã trở thành một lãnh thổ trung gian, nằm ở đâu đó giữa thế giới thực và thế giới thần tiên, nơi đây Sự Có thật và Sự Tưởng tượng có thể gặp nhau, mỗi bên đều nhiễm thấm tính chất của bên kia. Các hồn ma có thể cứ vào đây mà không làm chúng ta hoảng sợ, sẽ là một điều quá ư phù hợp với khung cảnh này để không thể làm chúng ta ngạc nhiên, nếu như chúng ta nhìn quanh mình phát hiện thấy dáng hình của một người thân yêu đã mất, nay đang yên lặng ngồi kia giữa một vệt ánh bạc của bóng trăng kỳ diệu ấy, với một vẻ bình thản khiến chúng ta dâm ra nghi hoặc tự hỏi không biết cái hình dáng ấy có phải là từ cõi xa xăm trở về hay là lâu nay vẫn ngồi yên vị bên bếp lửa gia đình chưa hề rời khỏi đó lấy một lần.
Ánh sáng mờ mờ của lửa than trong lò sưởi đã là một nhân tố tạo ra tác động mà tôi muốn mô tả. Nó tỏa cái màu sáng nhũn nhặn của nó ra khắp phòng, trải lên vách và trần nhà một ánh hung hung đỏ nhạt, phản chiếu những tia ngời yếu ớt trên mặt bóng của đồ đạc. Nó pha trộn vào cái chất tinh thần lạnh lẽo của ánh trăng một hơi thở nồng ấm, và truyền một tâm hồn và những khả năng tri giác của tính nhạy cảm của con người, có thể cho là như vậy, cho những hình dạng được gợi ra trong trí tưởng tượng. Nó biến đổi chúng từ những hình tượng băng tuyết trở thành những con người sống, có nam có nữ. Liếc nhìn vào chiếc gương soi, chúng ta nhìn thấy – suốt trong chiều sâu phản ánh quái dị như bị ám bóng ma – cái ánh hồng âm ỉ của lửa than đang tàn dần, màu sáng bạc của ánh trăng trên mặt đất, và mọi hình ảnh lặp lại của tất cả những ánh chập chờn và bóng tối trong bức tranh cảnh vật, với một sự khác biệt xa hơn vật có thật và gần hơn vật tưởng tượng. Chính trong giờ khắc ấy và trước mặt là khung cảnh ấy, nếu một con người ngồi trơ trọi một mình mà không thể mơ thấy những điều kỳ lạ và làm cho chúng trở thành giống như sự thực, thì thôi người đó chớ có bao giờ thử viết tiểu thuyết làm gì mà nhọc công vô ích.
Nhưng, trong toàn bộ quá trình tôi sống ở Phòng Thuế quan, bóng trăng hay ánh sáng mặt trời, hay ánh hồng trong lò sưởi, mọi thứ đó không khác gì nhau đối với tôi ; không một thứ gì trong số đó tạo được cho tôi một tí tác dụng, ích lợi nào hơn ngọn lửa lung linh chập chờn của một cây nến. Toàn bộ những rung động nhạy cảm, và một năng khiếu gắn liền với tôi – dẫu chẳng phải giỏi giang gì lắm, nhưng cũng là cái vốn quý nhất mà tôi có được – đã bay biến đi đâu mất không còn gì trong tôi nữa.
Tuy nhiên, tôi tin rằng ví như tôi thử thực hiện một kiểu viết lách khác, thì chắc là không đến nỗi nhận thấy khả năng của mình cùng gỉ và vô hiệu đến như vậy. Ví dụ như tôi có thể tự bằng lòng với việc viết lại những câu chuyện do một viên cựu thuyền trưởng lão thành kể. Ông này là một trong những kiểm sát viên của cơ quan, là một người mà nếu tôi không nói ra đây thì thật là vô ơn, bởi vì không có một ngày nào trôi qua mà ông ta không hiến cho tôi một dịp cười vỡ bụng và khiến tôi lắc đầu thán phục trước năng khiếu kể chuyện tuyệt diệu của ông ta. Giá như tôi có thể bảo tồn được toàn bộ sức hấp dẫn sinh động của phong cách kể chuyện của ông, và sắc thái hóm hỉnh mà thiên nhiên đã khéo dạy cho ông cách tô điểm vào những mẫu miêu tả của ông, thì tôi thành thật tin rằng kết quả hẳn phải là một cái gì đó thật là mới mẻ trong văn học. Hoặc giả tôi có thể sẵn lòng tìm một việc nghiêm túc hơn. Trong tình huống mà thực tế vật chất của cuộc sống hàng ngày đè lên tôi một lực áp đặt bắt tôi phải chịu, thật là điên rồ nếu tôi toan tính lao mình trở lui về một thời dĩ vãng, hoặc khăn khăn muốn dùng dùng những chất hư ảo để tạo ra một cái gì đó trông giống như một thế giới thực, trong khi mà bất cứ lúc nào, cái sắc đẹp tinh tế mỏng manh của cái bong bóng xà phòng của tôi cũng có thể vỡ tan tành trước sự va chạm phũ phàng của thực tế. Vậy thì khôn hơn hết là nên truyền bá tư tưởng và những điều sáng tạo của đầu óc thấu qua cái chất tối tăm mờ đục của đời này, làm như vậy để biến nó thành chất trong sáng ; là nên tinh thần hóa cái gánh đè lên vai đang bắt đầu trở nên quá nặng, là nên kiên quyết tìm ra bằng được giá trị chân chính và bất diệt nằm ẩn kín trong những sự kiện nhỏ nhặt và tẻ nhạt và những con người bình thường mà tôi biết hiện nay. Lỗi tại tôi cả. Trang sách cuộc đời trải ra trước mắt tôi có vẻ như ảm đạm và sáo rỗng, chỉ bởi vì tôi không biết thăm dò ý nghĩa sâu xa của nó. Một cuốn sách hay đang ở kia trước mắt, hay hơn bất kỳ cuốn nào mà tôi sẽ viết ra ; từng trang từng trang nối tiếp nhau xuất hiện, hệt như chúng được viết ra bởi thực tế của giờ khắc đang vụt qua và tan biến ngay, cũng nhanh như khi được viết, chỉ bởi vì đầu óc tôi thiếu cái nhìn thấu vào chiều sâu, bàn tay tôi thiếu cái tài khéo léo, để nắm bắt truyền đạt lại. Có thể rằng, một ngày nào đó trong tương lai, tôi sẽ nhớ lại được một vài mẩu vương vãi và dăm ba chương dứt đoạn, và viết ra, và vui sướng thấy những dòng chữ biến thành vàng trên trang giấy.
Những nhận thức này đã đến với tôi quá muộn. Lúc ấy tôi chỉ ý thức được rằng cái gì đó đã một thời co thể là niềm vui thú thì nay chỉ là một công việc nặng nhọc vô vọng. Không có lý do gì để than vãn nhiều về tình trạng đó. Tôi đã thôi không còn là một nhà văn viết những truyện ngắn và tiểu phẩm tương đối xoàng, để trở thành một viên Thanh tra thuế quan tương đối khá. Chỉ vậy thôi. Tuy nhiên, chả có gì thú vị khi ta bị ám ảnh một mối nghi ngờ rằng năng lực trí tuệ của mình đang teo đi hoặc đang bốc hơi cạn dần mà mình không hay biết, giống như ê te bay khỏi chiếc lọ nhỏ, mỗi lần liếc nhìn lại thấy trong lọ thêm vơi và phần còn lại là thứ nặng nệ khó bay hơi hơn. Nhìn vào thực tế thì không thể còn hồ nghi gì nữa. Xem xét bản thân tôi cùng nhiều kẻ khác, ngẫm về hậu quả do cuộc đời công chức gây ra cho tính cách của con người, tôi có xu hướng đi đến những kết luận chẳng hay ho gì lắm đối với lối tiêu pha ngày tháng như thế này. Có lẽ là trong tương lai, dưới một thể loại khác, tôi sẽ viết thêm để bàn rộng về hậu quả đó. Ở đây, chỉ cần nói gọn rằng một viên chức ngồi mài đũng quần mãi ở Phòng Thuế quan hầu như không thể trở thành một nhân vật đáng khen hoặc đáng trọng gì lắm, vì nhiều lý do : một là do thời gian lâu dài phải chịu đựng để giữ vững vị trí công tác của mình : hai là do chính bản chất công việc của mình – tuy tôi tin rằng đó là một công việc làm ăn lương thiện, những là thứ công việc chẳng có tác dụng giúp anh ta góp phần vào nỗ lực chung của loài người ; và nhiều lý do khác…
Có một hậu quả, - mà tôi cho là ít nhiều đáng lưu ý đối với bất cứ cá nhân nào giữ chức tại công sở - là trong khi anh dựa vào cánh tay đầy quyền lực của nước Cộng hòa thì sức mạnh của bản thân anh lại bay biến dần khỏi con người của anh. Khả năng tự lực của anh tiêu tan đi một chừng mực nào đó tỉ lệ với tính chất yếu đuối hoặc mạnh mẽ trong bản chất vốn có của anh. Nếu anh có một vốn sinh lực thiên phú vững vàng khác thường, hoặc nếu ma lực làm suy yếu của hoàn cảnh tĩnh tại không tác động quá lâu dài đến anh, thì khả năng bị mai một đi nhất thời của anh có thể hồi phục lại. Người viên chức nào bị sa thải – may mắn gặp cơn xô đẩy phũ phàng sớm tống khỏi cơ quan ra vật lộn giữa một cõi đời đầy vật lộn – có thể trở lại là chính mình, tìm lại được tất cả những gì đã từng là của mình thuở trước. Nhưng điều này lại hiếm khi xảy ra. Thông thường là anh ngồi nguyên vị trí trong một thời gian lâu dài vừa đủ để tàn hại chính bản thân anh, rồi anh bị hất ra ngoài, mọi thớ thịt đường gân đã rệu rã, đôi chân lảo đảo chỉ còn biết đi được đến đâu thì đi, dọc con đường đời khó khăn chồng chất. Ý thức được rõ ràng về sự ốm yếu suy sụp của mình – thấy rằng chất thép đã có lần mình tôi nên và tính đàn hồi nay đâu còn nữa – anh sẽ mãi mãi sau này đăm chiêu nhìn quanh mình mong tìm kiếm một sự hỗ trợ từ bên ngoài. Anh đắm chìm trong một niềm hy vọng dai dẳng – một thứ ảo giác thường xuyên ám ảnh anh trong khi anh còn sống, dẫn anh vấp phải mọi sự làm khoái chí ngã lòng, bất chấp những điều không thể nào thành hiện thực, và, theo tôi nghĩ, nó còn giày vò anh cả trong một khoảnh khắc nào đó sau khi anh chết, như những cơn co giật quằn quại về bệnh tả - niềm hy vọng ấy là trong một thời gian không lâu nữa đây, nhờ những hoàn cảnh ngẫu nhiên may mắn, cuối cùng anh sẽ được nhận trở lại làm việc trong cơ quan nhà nước. Niềm tin ấy, hơn bất kỳ thứ gì khác, sẽ âm thầm hút cạn, lúc nào anh không hề hay biết, hết mọi nghị lực và khả năng thành đạt ra khỏi bất kỳ một ý đồ nào mà có thể anh sẽ ước mơ thực hiện. Anh sẽ nghĩ : ừ cớ sao mình lại phải nhọc nhằn đổ mồ hôi sôi nước mắt, lại phải chuốc lấy bao nhiêu điều phiền toái để rút chân lên ra khỏi chốn bùn lầy, khi mà, chỉ ít lâu nữa thôi – cánh tay hùng mạnh của Chú Sam sẽ dang ra cho mình nương tựa? Sao mình phải chạy vạy kiếm sống ở đây, hay phải đi đào vàng ở California, khi mà, chỉ trong vòng mấy tháng nữa, mình sẽ chóng vánh trở nên sung sướng với một chồng nho nhỏ tiền vàng óng ánh mà ông Chú tốt bụng ấy rút từ trong túi ra đặt lên trên bàn trước mặt mình? Ôi thật oái oăm đáng buồn thay, chỉ một chút ham thích nông nổi làm vậy đối với cuộc đời công chức cũng đủ làm cho một con người tội nghiệp mắc phải cái bệnh kỳ dị ấy. Vàng của Chú Sam – dẫu không mang ý nghĩa thiếu sự tôn kính đối với vị lão thành đáng trọng – nhưng, về phương diện tôi nói ở đây, lại mang tính chất bùa mê giống như tiền của ma quỷ. Kẻ nào mó đến nó phải hết sức coi chừng, kẻo có thể sẽ phải trả giá đắt, nếu không phải là trả bằng linh hồn của mình, thì cũng bằng nhiều thứ phẩm chất tốt đẹp nhất của tâm hồn mình : sinh lực cường tráng, lòng dũng cảm và kiên định, lòng chân thật, đức tính tự lực, và tất cả những gì làm nổi bật tính cách rắn rỏi của con người.
Đó quả là một viễn cảnh đẹp đẽ! Không phải là viên Thanh tra tôi đây đã làm cho mình nhận thấy rõ được bài học, hay thừa nhận rằng mình có thể tàn tạ hoàn toàn đến như vậy, vì lý do hoặc là tiếp tục lưu lại lâu dài trong công sở hoặc là bị hất ra ngoài. Tuy nhiên trong lòng tôi không thấy thoải mái lắm. Tôi bắt đầu đâm ra trầm ngâm sầu muộn và bồn chồn không yên ; luôn luôn thăm dò trong tinh thần mình để phát hiện xem có những gì trong số những đức tính tội nghiệp của mình đã bị mai một đi, và phần lớn còn lại đã bị tổn hại đến mức độ nào. Tôi cố gắng tính toán xem mình có thể lưu lại thêm bao nhiêu lâu nữa tại Phòng Thuế quan mà sau đó vẫn còn giữ được mình là một trang nam tử. Thú thực – vì không bao giờ lại có chính sách thải hồi một kẻ hiền lành vô sự như tôi ; và vì trong bản chất của một công chức hầu như không có vấn đề xin từ chức – cho nên, điều e sợ lớn nhất của tôi là khả năng tôi sẽ trở thành một ông cụ da mồi tóc bạc hom hem lụ khụ trong cái nghề Thanh tra này, và sẽ biến thành một thứ con vật chả khác gì cụ già Phó Thanh tra nọ. Phải chăng, với cuộc đời công chức chán ngắt trải dài trước mắt tôi kia, cuối cùng điều có thể xảy ra đối với tôi cũng hệt như đối với người bạn lão thành đáng kính ấy – là lấy giờ ăn trưa làm giờ phút trung tâm đáng sống nhất trong ngày, và dùng thời gian còn lại để nằm ngủ dưới ánh nắng hay trong bóng râm, như một con chó già? Đó thật là một tương lai buồn thảm đối với một con người có ước vọng tìm thấy hạnh phúc có ý nghĩa nhất của cuộc sống trong việc phát huy toàn bộ những năng lực và tri giác nhạy cảm của mình. Thế nhưng trong suốt thời gian ấy tôi đã lo sợ một cách không cần thiết. Thượng đế đã trù tính xong đâu vào đấy cho tôi những điều tốt đẹp hơn cái tình cảnh mà tôi có thể hình dung ra được cho bản thân tôi.
Một sự kiện đặc biệt xảy ra trong năm thứ ba của cuộc đời làm Thanh tra của tôi – để nói đúng cái giọng của anh chàng “P.P.” thư ký xứ đạo nọ - là việc Tướng Taylor được bầu lên làm Tổng thống . Để đánh giá trọn vẹn những cái lợi của cuộc đời công sở, cần phải xem xét thân phận của một kẻ đương chức khi một đảng thù địch với một lên nắm chính quyền. Tình thế của anh ta lúc ấy là một trong những tình thế đặc biệt phiền toái và khó chịu nhất mà một con người trần tục khốn khổ có thể gặp phải ; hiếm có được phương án lựa chọn tốt lành nào về cả hai hướng tiến thoái, mặc dù đối với riêng anh ta sự kiện có vẻ như xấu nhất đó lại rất có thể hóa ra là sự kiện hay nhất. Nhưng thật là một thử thách kỳ lạ đối với một con người tự hào và nhạy cảm, khi nhận biết rằng những lợi ích của mình bây giờ nằm trong tay chi phối của những kẻ không yêu gì mà cũng chẳng hiểu gì anh, và bởi lẽ một trong hai tình huống tốt hoặc xấu nhất thiết sẽ xảy ra, anh sẽ có thể bị họ làm hại đúng hơn là được họ ban ơn. Đối với một người đã giữ thái độ điềm tĩnh trong suốt vụ tranh cử, cũng là điều kỳ lạ khi nhận thấy sự hung ác khát máu bộc lộ ra trong giờ chiến thắng của phái nọ, và biết rõ rằng bản thân anh nằm trong số đối tượng của họ. Trong bản chất con người ít có nhân tố nào xấu xa hơn cái khuynh hướng này – mà lúc đó tôi được chứng kiến ở những kẻ vốn không xấu gì hơn đồng loại của họ - cái khuynh hướng trở thành tàn bạo, đơn giản chỉ vì họ nắm được trong tay quyền sinh quyền sát. Nếu như cái máy chém, gắn vào thế lực của những kẻ cầm quyền, là một sự thật hiển nhiên theo nghĩa đen chứ không phải là một trong những từ ngữ ẩn dụ thích hơp nhất, khi tôi thành thật tin rằng những đảng viên tích cực của đảng thắng cử sẽ bị kích thích đến mức độ đủ để ra tay chặt phăng tất cả những cái đầu của bọn chúng tôi, và cảm ơn Thượng đế đã tạo cho họ cơ hội này. Tôi lâu nay vẫn là một người quan sát điềm tĩnh và ham tìm biết, trong thắng lợi cũng như trong thất bại, tôi nhận thấy ở những thắng lợi đã nhiều lần giành được của đảng tôi chưa bao giờ thể hiện cái tâm địa độc ác và thù hằn một cách hung dữ và quyết liệt như đã thể hiện ở thắng lợi của Đảng Uých lúc này. Theo lẽ thường, những đảng viên Đảng Dân chủ nắm lấy các chức vụ bởi vì họ cần nắm quyền, và bởi vì thực tiễn nhiều năm đã khiến điều đó trở thành quy luật của cuộc đấu tranh chính trị, và trừ phi có một thể chế khác được ban bố, kẻ nào than phiền về quy luật ấy là kẻ hèn yếu và nhút nhát. Nhưng thói quen chiến thắng từ lâu đời đã khiến cho những đảng viên Dân chủ trở thành rộng lượng. Họ biết cách dung thứ khi cần thiết ; và khi họ trừng trị thì nhát rìu của họ có thể sắc thật đất, nhưng hiếm khi lưỡi rìu tẩm thứ thuốc độc ác ý ; mà họ cũng không có thói quen đê tiện là giơ chân đá lăn lông lốc cái đầu mà họ vửa chặt đứt.
Tóm lại, dù cho trong hoàn cảnh tốt nhất, tình trạng gay cấn của tôi đáng chán là thế, tôi vẫn thấy có nhiều lý do để lấy làm mừng cho mình rằng mình thuộc về bên thua chứ không phải thuộc về bên thắng. Nếu như cho đến nay tôi chưa bao giờ là một đảng viên nồng nhiệt nhất, thì nay, giữa mùa hiểm họa và tai ương này, tôi bắt đầu có ý thức khá sâu sắc rằng lòng tôi đã thuộc về đảng nào, mà cũng không phải là không có một cái gì đó giống như sự ân hận và hổ thẹn khi mà, theo một sự tính toán có lý về những khả năng may rủi, tôi thấy bản thân tôi có triển vọng tiếp tục giữ chức hơn các anh em đồng chí Dân chủ của mình. Nhưng thử hỏi ai mà có thể nhìn thấy tương lai xa hơn chóp mũi của mình được lấy một tấc? Cái đầu của tôi có thể sẽ rụng trước tiên!
Tôi có xu hướng cho rằng cái phút mà người rơi đầu hiếm khi hoặc không bao giờ lại chính là cái phút dễ chịu nhất trong đời người đó. Tuy nhiên, giống như phần lớn những điều bất hạnh của chúng ta, ngay cả một sự việc bất trắc nghiêm trọng đến như vậy cũng vẫn mang theo nó phương thuốc hay và niềm an ủi, nếu như nạn nhân sẽ chỉ tận dụng điều hay nhất chứ không buồn vì điều dở nhất trong mối tai họa xảy đến cho mình. Trong trường hợp của tôi, những điều mang đến niềm an ủi đã gần kề và thực ra tôi đã hình dung trong trí suy ngẫm của tôi từ lâu trước khi cần phải viện đến nó. Xét sự chán nản mệt mỏi trước đây của tôi đối với cuộc đời công chức và ý nghĩ muốn thôi việc đôi lúc thoáng qua đầu óc, thì thấy cái vận số của tôi lúc này phần nào giống như cái vận số của một anh chàng đang nuôi trong lòng một ý muốn tự sát thì bỗng nhiên, mặc dù chẳng mong ước, lại gặp sự tình cờ may mắn là bị người ta giết chết. Tại Phòng Thuế quan này, cũng như trước kia ở ngôi nhà mục sư cổ, tôi đã sống một thời gian ba năm trời – một thời gian đủ lâu để cho một đầu óc mệt mỏi được nghỉ ; đủ lâu để những thói quen cũ trong việc vận dụng trí óc rời bỏ mình, nhường chỗ cho những thói quen mới ; đủ lâu, thậm chí quá lâu sống trong một trạng thái phi tự nhiên, làm một việc thực chả đem lại lợi ích gì cũng chẳng có gì thích thú cho bất cứ con người nào, và tự ngăn cản không cho mình bắt tay vào một công cuộc lao động lẽ ra, ít nhất đã làm dịu đi được một sự thôi thúc bồn chồn bên trong tôi. Với lại, nghĩ đến việc người ta tống mình ra một cách không khách sáo, chàng Thanh tra thất thế cũng không hoàn toàn phật ý về việc những đảng viên Đảng Uých xem chàng là thù, bởi lẽ sự bất động của chàng trong công việc chính trị - khuynh hướng của chàng muốn tùy ý rộng bước lang thang trên một địa hạt khoáng đạt êm ả, nơi mà toàn thể loài người có thể gặp nhau, chứ không muốn tự hạn chế vào những lối đi chật hẹp mà ở đó anh em một nhà cứ phải bất đồng chia rẽ - trước đây đã thỉnh thoảng khiến cho những anh em đồng chí Dân chủ của chàng đặt dấu hỏi nghi ngờ không biết chàng có phải là bạn không. Bây giờ đây, khi mà chàng đã nhận được vòng hoa vinh dự của kẻ tử vì đạo (dù không còn đầu để đội vòng hoa này nữa) thì điểm đó coi như đã được giải quyết, Rốt cuộc, đối với con người chẳng mấy anh hùng quả cảm như chàng, việc chàng ngã xuống cùng với sự đổ sụp của cái đảng mà lâu nay chàng đã vui lòng phụng sự hình như vẫn là phải phép hơn tiếp tục sống sót cô đơn trong khi biết bao nhiêu người có phẩm chất hơn chàng đã rơi rụng ; rồi để mà cuối cùng, sau khi trải qua bốn năm sống ăn xin ơn huệ của một chính quyền thù địch, lại buộc phải xác định lần nữa vị trí của mình và thỉnh cầu ơn huệ còn nhục nhã hơn nữa của một chính quyền bè bạn.
Trong lúc ấy thì báo chí đã nêu tôi lên và trong suốt một vài tuần đã đưa tôi chạy lung tung trên các trang báo trong tình trạng chỉ là một cái xác cụt đầu, như “Chàng kỵ mã không đầu” của Irving, trông rùng rợn và ghê gớm đến phát khiếp, và mong ngóng được chôn đi, như bất cứ một nhà chính trị nào đã mất mạng. Đó là nói về con người hình tượng của tôi. Còn con người thực thì trong suốt thời gian này đầu vẫn nằm yên ổn trên vai, đã đi đến kết luận yên trí rằng mọi sự đều tốt lành ; và thế là tiến hành một khoản đầu tư vào bút, giấy, mực, bày chiếc bàn viết lâu ngày xếp xó ra, rồi ngồi vào, và trở lại làm một nhà văn.
Chính giờ đây là lúc mà tập di cảo của vị tiền bối của tôi, ngài Thanh tra Pue, bắt đầu phát huy hiệu lực. Đã han gỉ qua những năm dài ăn không ngồi rồi, bộ máy trí não của tôi cần phải có một khoảng thời gian trước khi có thể được đưa vào hoạt động có tác dụng ở mức độ thỏa đáng nào đó cho việc xây dựng câu chuyện này. Ấy thế mà, mặc dù những suy nghĩ của tôi cuối cùng đã tập trung miệt mài vào việc này, nhưng trước mắt tôi, nội dung viết ra vẫn mang một vẻ khắc khổ và ảm đạm ; thiếu quá nhiều niềm vui của ảnh nắng hân hoan, được quá ít nguồn an ủi của những tác nhân êm ái và thân thiết có khả năng làm dịu mọi cảnh của thiên nhiên và đời sống thực và chắc chắn phải làm dịu mọi hình ảnh mô tả chúng. Tình trạng thiếu sức quyến rũ đó có lẽ do thời kỳ xảy ra câu chuyện này là thời kỳ mà cách mạng chỉ vừa mới hoàn thành, hãy còn sục sôi những cơn náo loạn. Chứ về phần người viết thì không phải là trong đầu óc của chàng thiếu niềm vui ; bởi vì trong lúc lang thang qua bóng tối u sầu của những cảnh huống tưởng tượng thiếu ánh nắng này, chàng đang vui sướng hơn bất kỳ lúc nào kể từ khi chàng rời khỏi ngôi nhà mục sư cổ. Trong những mẩu chuyện ngắn hơn góp phần hình thành nên tập truyện này, có một số cũng được viết ra trong thời gian sau khi tôi rút lui không tự nguyện khỏi cái vòng vinh nhục của cuộc đời công chức ; những mẩu chuyện còn lại là lượm lặt từ những xuất bản phẩm hàng năm và tạp chí từ một thời đã xa xưa đến nỗi chúng đi trọn một vòng quỹ đạo quay trở về điểm ban đầu, lại thành mới mẻ. Nếu cứ xem cái máy chém là hình tượng ẩn dụ cho chính quyền mới, thì toàn bộ tập truyện này có thể được gọi là : “NHỮNG TÁC PHẨM XUẤT SAU KHI CHẾT CỦA MỘT VIÊN THANH TRA BỊ XỬ TRẢM” ; và bản phác họa mở đầu mà tôi đang sắp sửa hoàn thành đây, nếu mang tính tự truyện quá đáng khiến một con người khiêm tốn không thể cho nó ra mắt công chúng được trong khi anh ta còn sống, thì lại rất dễ dàng được miễn thứ ở một kẻ viết về từ bên kia nấm mồ. Xin cho bằng an cùng toàn thế giới! Tôi cầu xin ơn phước cho bạn bè tôi! Tôi tha thứ cho kẻ thù của tôi! Bởi tôi đang ở cõi cực lạc của sự thanh bình!
Cuộc sống ở Phòng Thuế quan nằm lại như một giấc mộng đằng sau tôi. Cụ già Phó Thanh tra ấy – nhân thể xin báo tin buồn rằng cách đây ít lâu cụ đã chết vì bị một con ngựa hất ngã, nếu không thì chắc chắn cụ hãy còn sống mãi - cụ và tất cả những nhân vật đáng kính khác đã từng ngồi thu thuế với cụ, tất cả đều chỉ còn là những cái bóng trước mắt tôi : những hình ảnh tóc bạc trắng, da nhăn nheo mà đầu óc tưởng tượng tùy hứng của tôi trước đây thường lấy làm thích thú nhưng nay thì vĩnh viễn dẹp sang một bên rồi : các nhà buôn – những Pingree, Phillips, Shepard, Upton, Kimball, Bertram, Hunt – những cái tên này và nhiều tên khác nữa, cách đây sáu tháng còn là những âm thanh quen thuộc bên tai tôi, - những nhân vật trong làng thương mại, dường như chiếm một vị trí quan trọng nhường bao trên thế giới ấy – sao mà chỉ cần một thời gian ngắn làm vậy là đủ để cắt rời hẳn tôi ra khỏi tất cả trong ký ức? Quả là phải cố gắng tôi mới có thể nhớ lại được dáng hình và tên gọi của dăm bảy người trên đây. Chẳng bao lâu nữa thành phố quê hương cổ kính của tôi rồi cũng thế thôi, sẽ chỉ còn là một hình ảnh lờ mờ trước mắt tôi qua đám mây mù trong hồi ức, dưới một màn sương che phủ và bao bọc ; như thể nó không hề là một mảnh của trần gian có thực, mà là một xứ mọc lên trên cõi mộng, chỉ có những cư dân hư ảo ở trong những ngôi nhà gỗ của nó và đi lại trên những ngõ hẻm xấu xí vô vị và con đường phố chính dài lê thê chán ngắt của nó. Từ đây về sau, nó thôi không còn là một sự thực của cuộc đời tôi nữa ; tôi trở thành người công dân của một miền khác. Những người đồng hương tốt bụng của tôi trong thành phố sẽ không nhớ tiếc gì tôi nhiều lắm, bởi vì – mặc dù những nỗ lực hoạt động văn học của tôi đã có một mục tiêu cũng tha thiết như bất kỳ mục tiêu nào khác để phần nào cũng được họ coi trọng và lưu lại được một kỷ niệm tốt đẹp ở đây, nơi mà biết bao nhiêu tổ tiên cha ông của tôi đã sinh sống và đã gửi nắm xương tàn – mặc dù như vậy, chưa bao giờ nơi đây tạo ra cho tôi bầu không khí nồng hậu mà một nhà văn cần cho dòng sữa ngọt làm chín vàng những chùm hạt trĩu nặng trong vụ thu hoạch rực rỡ nhất của trí tuệ mình. Phải thay đổi môi trường đi thôi. Giữa những gương mặt khác, tôi sẽ làm ăn được tốt hơn. Còn họ, những con người thân thuộc ấy của quê hương, hầu như khỏi cần phải nói, không có tôi cũng chả ảnh hưởng gì tới họ cả.
Tuy nhiên, có thể rằng – ôi nghĩ đến mà cảm kích và vui sướng biết chừng nào! – có thể rằng những cháu chắt của lớp người hiện nay sẽ đôi lúc ân cần tưởng nhớ đến người viết văn xoàng của thời quá khứ, khi mà nhà khảo cổ trong một ngày nào đó mai sau sẽ chỉ tay giới thiệu, trong số những di tích đáng ghi nhớ của lịch sử địa phương, một nơi trước kia đã từng đặt TRẠM BƠM CỦA THÀNH PHỐ. 6
Chú thích:
(1) Khi tác giả viết lời mở đầu này, ông dự định ghép truyện Chữ A màu đỏ cùng một số chuyện kể khác vào một tập. Sau đó, ông thay đổi ý kiến, xuất bản riêng cuốn truyện này (N. D).
(2) Niu Inglơn (New England – nguyên văn : “Nước Anh mới”) : Miền dông bắc nước Mỹ, một trong những thuộc địa đầu tiên của người Anh trên đất Mỹ, gồm 6 bang : Maine, Vermont, New Hampshire, Massachusetts, Rhode Island và Connecticul. Đây là nơi xảy ra mọi chi tiết nói đến trong cuốn truyện này.
(3) Đảng Uých (Whig) : Một đảng ở Mỹ (thời kỳ 1836 – 1856), đối lập với Đảng Dân chủ.
(4) Khi tác giả viết lời mở đầu này, ông dự định ghép truyện Chữ A màu đỏ cùng một số chuyện kể khác vào một tập. Sau đó, ông thay đổi ý kiến, xuất bản riêng cuốn truyện này (N. D).
(5 ) 3/4 inch = 8,25 cm.
(6) Nathaniel Hawthorne (tác giả “Chữ A màu đỏ”) có viết một cuốn sách về Salem, nhan đề “Dòng suối nhỏ từ Trạm bơm của thành phố” (A Bill from the Town Pump).