Vậy thầy tôi là giáo sư lớp bảy, giáo sư sơ cấp, như hồi ấy người ta thường gọi.
Tôi học ở lớp thầy tôi.
Chưa bao giờ tôi ngửi thấy mùi thối hoăng đến như thế. Lớp này ở gần chuồng xí, mà lại là chuồng xí của trẻ con!
Suốt một năm ròng, tôi nuốt cái không khí uế tạp ấy. Người ta đặt tôi ngồi gần cửa ra vào vì đấy là chỗ tồi nhất, và với tư cách là con giáo sư, tôi phải ở bộ phận tiền phong, vị trí hy sinh, nơi đầu sóng ngọn gió...
Ngồi bên tôi là một chú bé, sau này trở thành một nhân vật cao cấp, một đại tỉnh trưởng, nhưng hồi ấy nó là một thằng nhãi ngỗ nghịch, tuy vây rất ngộ nghĩnh, và chẳng phải là bạn xấu.
Nó phải là thằng tốt thật tôi mới không thù nó về cái ba trận đòn mà thầy tôi đánh tôi, vì nghe thấy ở phía chúng tôi một tiếng động khôi hài, hoặc ở giữa giầy của chúng tôi phọt ra một tia mực. Chính thằng bạn ngồi cạnh tôi giở những trò đó.
Mỗi lần thấy nó sửa soạn một trò tinh nghịch, tôi lại run lên; vì nếu nó không bị lộ do một hớ hênh nào đó và nếu tội của nó không rành rành ra đấy, thì chính tôi sẽ phải chịu đòn thay; nghĩa là thầy tôi lặng lẽ rời khỏi bục, bước tới beo tai tôi, và cho tôi một cái cái đá, có khi ba. Thầy tôi cần phải chứng minh là mình không nuông con, không thiên vị. Thầy tôi chỉ nuông tôi bằng những trận đòn ra đòn, và cho tôi được ưa thích những cái đá vào đít.
Bắt buộc phải đánh con mình như thế, thầy tôi có đau lòng không?
Có lẽ có, nhưng thằng bạn ngổ ngáo ngồi cạnh tôi lại là con một nhà quyền thế - Bắt nó chép nhiều bài phạt, beo tai nó, ấy là gây sự rắc rối với mẹ nó, một bà sính làm đỏm thường tới phòng tiếp khách của nhà trường với chiếc áo lụa dài lê thê, sột soạt, đeo “găng” ba cúc, tươi như bơ.
Để được thoải mái, thầy tôi vờ coi như tôi là thủ phạm tuy thầy tôi biết chính là thằng kia.
Tôi không thù oán thầy tôi, thật thế! tôi ngờ; tôi cảm thấy rằng da thịt tôi rất có ích cho sự giao dịch, cho sự hành nghề, cho địa vị của thầy tôi - và tôi sẵn sàng hiến nó. - Thầy ơi, thầy cứ việc!
Tôi giữ chỗ của tôi (bị nhiễm độc) được sao hay vậy giữa cái đám oắt con ranh mãnh ấy, sẵn sàng trút lên đầu thằng con ông giáo cái mối thù tự nhiên của chúng đối với thầy tôi.
Những trận đòn công khai ấy đã giúp ích cho tôi; chúng không coi tôi là thù mà có phần lại còn thương hại tôi nữa là khác, nếu như bọn trẻ con biết thương hại!
Vả lại cái bề ngoài trơ trơ của tôi không làm chúng thương hại; tôi tránh đòn được chăng hay chớ; chiếu lệ; nhưng khi mọi sự đã xong xuôi thì chẳng còn thấy dấu vết sợ hãi hoặc đau đớn nào trên mặt tôi nữa. Do đó, tôi không phải là một đứa trẻ bị hành hạ, mà cũng không phải là một thằng hủi; chúng không xa lánh tôi mà coi tôi như một thằng bạn hẩm hiu hơn những đứa khác và còn tốt hơn nhiều đứa, vì không bao giờ tôi đáp: “Không phải con! Tôi lại khỏe, những lần đánh nhau với thằng Pieruni đã làm tôi trở nên dày dạn, tôi có gân như người ta nói khi lên gân cánh tay, làm bắp thịt của mình phồng lên. Tôi đã đánh nhau, tôi đã chơi nhau cả với thằng Rôdê, là đứa khỏe nhất trong sân của lớp bé. Người ta gọi thế là chơi nhau. “Tan lớp ra, mày có dám chơi nhau không?
Như thế có nghĩa là rủ nhau, vào khoảng mười giờ năm hoặc bốn giờ năm, đấm đá nhau một chầu trong sân quán Gà Trống Đỏ, có một góc có thể đánh nhau mà không ai nhìn thấy.
Tôi đã nện cho thằng Rôdê vài đòn nhà nghề - vào mũi nó và ở ngay trường, - tiếng đồn ầm lên. Các bạn có thể tưởng tượng được không! Tôi được thầy tôi cho phép.
Thầy tôi đã phong thanh nghe có chuyện cãi nhau - vì một ngòi bút mất cắp - và phong thanh nghe có chuyện thách thức. Chả là thằng Rôdê không có dây mơ rễ má gì với các gia đình quyền thế. Hơn nữa: chú nó, ủy viên hội đồng thành phố lại có chuyện lôi thôi với các nhà cầm quyền. Tôi có thể chơi nhau với nó được.
Và cứ mỗi quả đấm tôi nện cái thằng khốn khổ, tôi lại hình dung là tôi gieo một hạt, vun một hy vọng trên con đường thăng quan tiến chức của thầy tôi.
Nhờ câu chuyện may mắn đó, tôi tránh khỏi nguy cơ kinh khủng nhất, nguy cơ bị truy nã, bị cô lập, bị nện - vì là con giáo sư. - Tội đã trông thấy nhiều đứa khác khốn khổ biết mấy!
Tuy nhiên ví thử thầy tôi cấm không cho tôi đánh nhau; ví thử Rôdê là con ông thị trưởng; ví thử ngược lại, tôi phải để cho nó đánh?...
Cha mẹ bảo sao thì phải làm vậy; hơn nữa đây lại là vấn đề miếng bánh của cha mẹ mình còn hay mất. Hãy để mặc người ta chế nhạo, đánh đập mày, hãy khóc mà chịu đựng, hỡi đứa bé tội nghiệp, con ông giáo...
Rồi lại còn vấn đề nguyên tắc nữa chứ!
“Một xã hội sẽ ra sao, ông Bêlibăng đã nói, một xã hội, nó... mà... Phải có nguyên tắc... Tôi cắn một hạt đậu nữa”…
May mắn cho tôi rơi đúng vào thằng Rôdê.
Dù hiện nay nó ở đâu trên trái đất này, nếu nó còn sống, cái mũi nó hãy nhận ở đây những lời cảm ơn thành thật của tôi:
Mũi tựa đài hoa, máu của kẻ cứu tinh,
Mũi tốt lành, hãy để tôi hôn nữa!
...Một hôm tôi bị phạt: hình như vì bị một thằng lớn ấy tôi ngã lăn vào chân một thầy giám thị bé nhỏ đi qua đấy, và thầy ngã một cái lộn cổ! Thầy bị một cái bướu to tướng, lại vỡ mất cái lọ con để trong túi bên: lọ rượu cô-nhắc mà thầy thường uống - lén lút, từng ngụm nhỏ, mắt liếc quanh. Nếu ai nhìn thấy: thầy làm như vừa cầu kinh xong, và khoan khoái xoa bụng. - Tôi là nguyên nhân của chiếc lọ vỡ, của cái bướu đang sưng lên...Thầy giám thị nổi cáu.
Thầy bắt giữ tôi lại; - tự tay đem nhốt tôi vào một lớp học vắng tanh, khóa chặt lại, thế là tôi ngồi một mình giữa bốn bức tường bẩn thỉu, trước một tấm bản đồ địa lý mắc bệnh vàng da, một cái bảng đen to trên có vẽ những vòng tròn trắng và khuôn mặt nhăn nhó của ông tổng giám thị.
Tôi đi từ bàn này sang bàn khác: các bàn đều rỗng tuếch - chắc người ta quét dọn lớp này, học sinh đã rời đi chỗ khác.
Không có gì cả, chỉ có một cái thước kẻ, vài ngòi bút gỉ, một mẩu dây, một bàn cờ nhỏ, xác một con thằn lằn, một hòn bi bỏ rơi.
Trong một kẽ hở, có một quyển sách: tôi trông thấy gáy sách, tôi cố lôi ra xước cả móng tay. Cuối cùng, nhờ chiếc thước kẻ nậy gẫy toác mặt bàn, tôi lấy được sách; tôi cầm lên, nhìn tên sách:
RÔBANHXÔNG CRUYDÔÊ (Robinson Crusoé)
Trời đã tối.
Tôi thình lình nhận thấy trời đã tối. Tôi vùi đầu vào quyển sách này đã bao lâu rồi? - mấy giờ rồi?
Tôi không biết, nhưng hãy xem, tôi còn đọc được nữa không! Tôi dụi dụi mắt, tôi căng mắt nhìn, các chữ nhòa đi, các dòng chữ lẫn lộn với nhau, tôi còn nhận ra lờ mờ một chữ, rồi không nhìn thấy gì nữa.
Tôi sái cả cổ, gáy đau, ngực tức; tôi đã mê mải cúi xuống các chương sách không ngẩng đầu lên, không nghe thấy gì, háo hức vì tò mò, bám chặt lấy Rôbanhxông, người bị một niềm xúc động bao la xâm chiếm, bị khuấy động đến tận đáy lòng, tận não óc; và vào lúc mặt trăng lưỡi liềm nhô lên ở xa xa, tôi tưởng tượng tất cả các chim chóc của hòn đảo đang bay qua ngang trời và tôi trông thấy một ngọn bạch-dương cao vút in bóng lên nền trời như cột buồm của Gruydôê! Tôi tung ra những ý nghĩ của tôi đầy không gian trống rỗng, hệt như Gruydôê tung ra đầy chân trời những nỗi lo sợ của mình; đứng tựa bên cửa sổ, tôi mơ cảnh cô đơn vĩnh cửu, và phân vân tự hỏi nên trồng bánh mì ở chỗ nào...
Tôi đói: đói lắm.
Liệu tôi có phải đi đến nước ăn thịt những con chuột đang rúc dưới gầm sàn buồng học không? Làm thế nào cho có lửa? Tôi lại khát nữa. Không có chuối! Ôi chao! Anh ta thì có những quả chanh tươi. Mà tôi lại rất ưa nước chanh!
Lách cách, người ta quay chìa trong ổ khóa.
Có phải Văngđrơđi[25] đấy không? Hay bọn mọi?
Đấy là thầy giám thị bé nhỏ, lúc thức giấc, chợt nhớ ra là thầy đã quên tôi, và thầy đến xem tôi đã bị chuột ăn thịt chưa hay là chính tôi đã ăn thịt chúng nó.
Thầy có vẻ hơi bối rối, tội nghiệp! - thầy thấy tôi rét cóng, mệt lả, tóc khô cứng, bàn tay hâm hấp nóng; thầy cuống cuồng xin lỗi và kéo tôi vào buồng riêng, bảo tôi nhóm lửa thật to ngồi sưởi.
Thầy có cá thu muối để trong lồng hấp “và rất có thể còn một chút rượu gì đó ở góc nhà kia kìa, của một người bạn để lại cách đây hai tháng”.
Đấy là một chai con rượu mạnh, cái tội đáng yêu, niềm sở thích ướt át, món hèm mầu vàng của thầy.
Thầy phải đi ngay, đến lớp của thầy trông coi. Thầy để tôi ở lại một mình, một mình với cá thu, - cá Đại dương - chút rượu - cứu tinh của thủy thủ - và lửa - đèn pha của những người đắm tàu.
Tôi lại cắm đầu vào quyển sách mà tôi đã giấu vào trong sơ-mi, liền với da, và tôi đọc ngấu nghiến - với một chút cá thu, vài giọt cô-nhắc - trước ngọn lửa của lò sưởi.
Tôi thấy như tôi đang ở trong một buồng tàu hoặc một túp lều, và tôi đã rời khỏi nhà trường từ mười năm rồi; có lẽ tóc tôi đã hoa râm, nhưng dù sao thì nước da cũng rám nắng. - Thầy mẹ già cả của tôi bây giờ ra sao? Thầy mẹ tôi chết mà không có được niềm vui ôm hôn đứa con mất tích ư? (Thế mà đấy là một dịp, vì trước kia họ có ôm hôn nó bao giờ đâu). Ôi mẹ ôi, mẹ ôi!
Tôi nói: “Ôi, mẹ ôi!” mà không nghĩ gì lắm, đấy chỉ là làm cho giống như trong sách mà thôi.
Và tôi nói thêm: “Bao giờ con được gặp lại mẹ! Được gặp lại mẹ rồi chết!”
Tôi sẽ gặp lại mẹ tôi, nếu Chúa muốn thế.
Nhưng khi tôi lại hiện ra trước mặt mẹ tôi, tôi sẽ được đón tiếp thế nào đây? Mẹ tôi liệu có nhận ra tôi không?
Ví thử mẹ tôi sẽ không nhận ra tôi!
Người đã ân cần săn sóc tôi từ thuở lọt lòng, đã trìu mến đùm bọc tôi, tóm lại một người mẹ, thế mà lại không được người đó nhận ra ư!
Ai thay thế được một người mẹ?
Lạy Chúa! Một chiếc gậy tầy cũng rất có thể thay thế được mẹ tôi!
Không nhận ra tôi ư! Nhưng mẹ tôi biết rất rõ là sau tai tôi mất một túm tóc, bởi lẽ một hôm chính mẹ tôi đã dứt đứt. Không nhận ra tôi ư! Những vết sẹo lần tôi ngã bị thương vẫn còn đấy, vì nó mà tôi bị cấm không được chơi với con nhà Fabrơ nữa. Tất cả mọi dấu vết sự bảo trợ, sự chăm sóc của mẹ, còn lưu lại ở những đốm nhỏ tím bầm. Mẹ tôi sẽ nhận ra tôi; tôi sẽ còn được yêu quý, đánh đập, roi vọt, không nuông chiều!
Không nên nuông chiều trẻ!
Ơn chúa! Mẹ tôi đã nhận ra tôi! Mẹ tôi đã nhận ra tôi! và hét lên:
“Mày đấy à! Nếu mày còn để tao chờ mày lần nữa tới hai giờ sáng, chong nến, ngỏ cửa, tao sẽ sửa cho mày một trận! Nó lại còn ngáp nữa chứ! Trước mặt mẹ nó!
- Con buồn ngủ.
- Thế mà lại chẳng buồn ngủ!
- Con rét.
- Người ta sẽ đốt lửa hầu cho nó đấy, - đốt cả một bó củi vào!
- Nhưng chính ông Đoady đã...
- Chính ông Đoady đã bỏ quên mày phải không! Nếu mày không làm ông ấy ngã, việc gì ông ấy phạt mày rồi quên mày. Đấy. Nó lại còn cãi kia đấy! Đây này cây nến tôi mới đốt hôm qua bây giờ còn ngần này đấy. Chỉ là để thức và lo cho ông lớn làm sao rồi! Thôi, đừng có mà làm bộ sốt với rét nữa... Mày có thôi không đánh răng lập cập như thế nữa không nào! Tao chỉ cần cho mày ốm liệt một trận, có thế có lẽ mày mới chừa...”
Tôi không ngờ tội tôi to đến thế: quả thật chúng tôi có lỗi; nhưng chúng tôi không thể nhịn được đánh răng lập cập, hai bàn tay tôi nóng hầm hập, rét ớn sống lưng. Đêm vừa rồi ngồi ghế, đầu gục vào bàn, tôi đã bị cảm lạnh; cái việc đọc sách cũng làm người tôi bị xúc động...
Ôi chao! Tôi buồn ngủ! Tôi sẽ gục trên ghế mà đánh một giấc.
“Cút đi! Mẹ tôi vừa nói vừa cất ghế. Giữa trưa rồi mà còn ngủ. Bây giờ lại sinh cái thói như thế à?
- Không phải là thói quen. Con thấy mệt, vì con không được ngủ trên giường.
- Đến tối mày sẽ ngủ giường, nếu như mày không phởn mà đi lêu lổng.
- Con có lêu lổng đâu...
- Thế đi ngủ lang thì gọi là cái gì? Bây giờ nó quy tội cho mẹ nó đấy! Nào, đem sách ra. Mày đã thuộc bài tối hôm nay chưa?
Ôi chao! Đảo vắng, thú dữ, những trận mưa triền miên, động đất, da thú, dù che, vết chân người rừng, các cuộc đắm tầu, các cơn bão táp, những mọi ăn thịt, - nhưng không có học bài tối nay!
Tôi rét run suốt cả ngày. Nhưng tôi không còn cô độc nữa; tôi có Cruydôê và Văngđrơđi làm bạn. Từ lúc này trở đi, trong trí tưởng tượng của tôi đã có một góc trời xanh biếc, trong cuộc đời tẻ ngắt của một đứa bé bị đánh đập nhiều đã có chất thơ của mơ ước, và trái tim tôi căng buồm tới những xứ sở ở đó người ta đau khổ, lao động, nhưng tự do.
Biết bao lần tôi đã đọc đi đọc lại chuyện Rôbanhxông ấy!
Tôi cố tìm để biết quyển sách đó của ai; sách của một học sinh lớp bốn, anh ta còn giấu vô khối quyển khác nữa trong ngăn bàn của anh; có quyển Rôbanhxông Thụy Sĩ, Truyện ngắn của Thầy tu Smít, Cuộc đời của Cáctútsơ, có tranh khắc.
Đến đây đời tôi có một hành vi mà tôi có thể giấu đi. Nhưng không! Hôm nay, chỉ hôm nay thôi, tôi mới nói điều bí mật của tôi ra, như một người hấp hối gọi ông chưởng lý tới, thú nhận với ông ta một tội ác. Tôi thật đau lòng mà viết lời thú tội này, nhưng tôi phải làm vì danh dự của gia đình tôi, vì tôn trọng sự thật, vì Ngân hàng nước Pháp, vì bản thân tôi.
Tôi đã giả mạo giấy tờ! Nỗi sợ bị tù đầy, niềm lo làm thất vọng bố mẹ tôi vốn yêu quí tôi, ai cũng biết đấy, tất cả đã đặt lên trán thằng giả mạo giấy tờ là tôi một cái mặt nạ bí hiểm không một bàn tay nào có thể dứt ra được.
Nay tôi tự tố cáo mình, và tôi sẽ nói trong hoàn cảnh nào tôi đã giả mạo giấy tờ, tôi đã đi tới điều hổ thẹn ấy như thế nào, và tôi bước vào con đường nhục nhã đó một cách trắng trợn ra sao.
Những tranh khắc! - Cuộc đời của Cáctútơ, Truyện ngắn của thầy tu Smít, cuộc phiêu lưu của Rôbanhxông Thụy sĩ!... một thằng bạn của tôi, - mười ba tuổi, tóc đỏ, - có tất cả các thứ đó.
Nó đồng ý cho tôi mượn những sách ấy với điều kiện bất lương: tôi nhận các điều kiện đó... Tôi còn nhớ là tôi không hề lưỡng lự.
Đây là cơ sở của cuộc mặc cả bỉ ổi:
Ở trường trung học Xanh-Êchiên, cũng như ở khắp mọi nơi, người ta thường cấp giấy miễn phạt. Thầy tôi có quyền cấp giấy tờ đó cả ở những lớp khác lớp của thầy tôi vì cứ nửa tháng một lần, thầy tôi lại đi coi học tại một lớp nào đó; thầy tôi lần lượt đi các lớp, và có thể phạt hoặc khen thưởng học sinh. Thằng bé có sách in tranh khắc bằng lòng cho tôi mượn, nếu tôi xoay được giấy miễn phạt cho nó.
Tóc tôi không dựng ngược trên đầu.
“Mày biết mạo chữ ký của thầy mày chứ?”
Bàn tay tôi chẳng rụng khỏi tay, lưỡi tôi chẳng khô lại trong miệng.
“Làm cho tao một giấy miễn phạt chép hai trăm câu thơ, tao sẽ cho mượn quyển Cuộc đời Cáctútsơ.”
Tim tôi đập tưởng vỡ.
“Tao cho mày quyển đó! Tao không cho mượn, tao cho đấy...”
Thế là nó đánh trúng, vực thẳm đã được đào sẵn; tôi ném danh dự của tôi xuống rãnh, tôi tự loại ra khỏi đời sống xã hội, tôi ẩn náu trong nghề mạo giấy tờ.
Tôi đã cung cấp giấy miễn phạt suốt một thời gian mà tôi không dám tính xem là bao nhiêu lâu, tôi nhồi nhét đầy chữ ký mạo cho thằng bé nọ, thật tình nó là đứa đầu tiên nghĩ ra mưu chước tội lỗi ấy, nhưng tôi lại cắm đầu làm kẻ đồng lõa gian tà.
Với cái giá ấy, tôi đã có sách, - tất cả những sách mà bản thân nó có; - nó được gia đình gửi cho nhiều tiền, thậm chí nó còn nuôi cả ếch sau những quyển tự vị. Tôi cũng có thể có ếch - nó đã đem cho tôi - nhưng nếu tôi có thể làm ô danh thầy tôi để có sách đọc, vì say mê những cuộc du hành và những chuyến phiêu lưu, và nếu tôi đã không cưỡng lại được sự cám dỗ ấy, thì tôi lại đã thề với mình sẽ cưỡng lại những sự cám dỗ khác, và tôi không bao giờ mó đến ếch của nó, xin hãy tin ở lời tôi! Tôi không có lối thú tội nửa chừng.
Lừa gạt lòng tin của công chúng, bắt chước một chữ ký đáng kính và được tôn trọng trong hai năm trời, như thế chưa đủ hay sao! Chuyện đó kéo dài hai năm trời. Chúng tôi đã dừng lại, mỏi mệt vì phạm tội, hoặc vì việc đó chẳng còn ích lợi gì nữa; tôi đã quên, và chẳng ai hay biết được chuyện chúng tôi mạo giấy tờ. Tôi đã chẳng làm giấy tờ giả, và cũng chẳng vì thế mà bị ốm đau què quặt gì. Mọi người có thể tưởng rằng cảm giác phạm tôi làm người ta phát sốt, hối hận làm người ta xanh xao; bất hạnh thay, có những tội nhân không gì có thể cắn xé, dày vò được, và sự đê nhục không hề ngăn cản chúng vẫn chơi cù, và vẫn nhở nhơ dính đuôi giấy vào đít cánh cam.
Đây là trường hợp của tôi: đuôi giấy rất nhiều, cù cũng lắm. Có lẽ đấy là một phương thuốc và chưa bao giờ sắc mặt tôi lại tươi tỉnh, vẻ mặt lại cởi mở, như trong thời kỳ mạo giấy tờ ấy.
Mãi đến hôm nay tôi mới thấy xấu hổ, và tôi đỏ mặt thú tội. Người ta bắt đầu làm giấy miễn phạt giả, cuối cùng người ta sẽ làm giấy bạc giả. Tôi chưa bao giờ nghĩ tới giấy bạc: có lẽ vì tôi bận việc khác, vì tôi lười, hoặc vì ở nhà tôi không có phẩm mực; nhưng nếu việc mạo giấy miễn phạt đưa đến nhà tù, thì tôi đã phải ở đấy rồi.
Và ai bảo về sau tôi sẽ không vào tù?
Chú thích:
[25] Nhân vật da đen trong truyện Rôbanhxông Gruyđôê, của tác giả Anh Đênien (1660 - 1731)
[26] Triết gia Pháp nổi tiếng (1596 - 1650), tác giả cuốn "Luận về phương pháp".