Chú Bé

Lượt đọc: 1409 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- XX -
tôi theo những lớp cổ điển học

Giáo sư năm nay của tôi mới quỷnh làm sao!

Ông tốt nghiệp Trường sư phạm ra, ông còn trẻ, đầu hơi hói, vận quần áo có lót chân, và ông dịch Panh-đa-rơ[61] . Ông gọi con nhện là araknê[62], và tôi khi cúi xuống để nhét dây giầy thì ông kêu lên:“Đừng điểm chỉ vào hài“. Đôi hài mới đẹp làm sao, bám đầy những cục bùn khô và những vệt phân vàng.

Trước khi đến trường bao giờ tôi cũng tới tha thẩn trong một chuồng ngựa ở gần nhà tôi, nơi tôi đã làm quen với các bác giữ ngựa, và không những chân tôi dính phân, mà chắc còn dây cả vào sách vở nữa.

Ông ta nói hài và araknê, với chút cười ruồi để người ta khỏi chế nhạo ông nhiều quá, nhưng trong thâm tâm, ông tin vào những cái đó, điều đó rất rõ, ông thích dùng những điển tích cổ ấy, tôi biết (bắt chước Bốtxuyê).

Ông yêu tôi, vì tôi làm thơ La-tinh giỏi.

“Óc tưởng tượng phong phú làm sao, và ngòi bút nó lưu loát làm sao! Minécvơ[63]là mẹ đỡ đầu của nó đấy!

- Di Anhét chứ, mẹ tôi nói.

- DiAnhét, DiAnhêtốt, Dianhetêtông[64].

- Ông nói sao, bà Vanhtrax hỏi, có vẻ hoảng sợ vì những hiệp âm đó và bà đỏ mặt vì biến thể của từ ở số nhiều!

- Óc tưởng tượng phong phú làm sao!“ giáo sư nhắc lại để chuồn.

Tôi mặc cho người ta bảo tôi thông minh, tôi có khả năng.

TÔI KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG!

Hôm nọ người ta ra đầu đề cho chúng tôi, -“ Têmi-xtôclơ[65] hô hào người Hy-lạp“. - Tôi không tìm ra được ý gì cả, tuyệt nhiên không!

“ Tôi mong rằng đây là một đầu đề hay, hề!“ giáo sư vừa nói vừa đưa lưỡi liếm môi, - lưỡi vàng khè, môi bẩn.

Cố nhiên đây là một đầu đề hay, và, dĩ nhiên là ở các trường trung học nhỏ, người ta không ra những đầu đề như thế; chỉ có ở những trường trung học hoàng gia, và khi có những học sinh như tôi.

Vậy thì tôi sẽ nói gì bây giờ đây?

“ Các anh hãy tự đặt mình vào địa vị Temixtôclơ. “

Các giáo sư bao giờ cũng bảo tôi phải đặt mình vào địa vị ông này, ông nọ, - với chiếc mũi bị xẻo như Zôpyrơ[66] ư? với cổ tay bị thui như Xêvôla ư?

Bao giờ cũng là những vị tướng, những ông vua, những bà hoàng!

Nhưng tôi mới mười bốn tuổi, tôi không biết nên để Aniban, Caracala cũng như Tóccatuýt[67] nói gì!

Không, tôi không biết!

Tôi tìm những trạng từ và hình dung từ trong tự vị Građuýt, và tôi chỉ việc chép những cái tôi tìm thấy trong cuốn Alếchdăngđrơ.

Thầy tôi không biết việc đó, mà tôi cũng không dám nói ra.

Nhưng thầy tôi, chính bản thân thầy tôi! (Ôi chao! Đây tôi tiết lộ một bí mật gia đình!) Tôi đã thấy bài tập của thầy tôi làm để thi thạc sĩ cũng là chắp vá bài này sách khác. - Phải chăng chúng tôi là một gia đình những kẻ ngu độn?...

Đôi khi thầy tôi viết một bài điền từ trong đó phải thay lời một người đàn bà. - Những lời than thở của Agripin, Axpadi nói với Xôcrat [68], Juyli với Ovil [69].

Tôi thấy thầy tôi gãi trán, sờ râu, vẻ mặt hãi hùng; - thầy tôi phải là Agripin, Axpadi, nhưng thầy tôi lại không phải là Axpadi, không phải là Agripin, - thầy tôi vặn râu và cắn, thất vọng!

Tôi cảm thấy tất cả sự kém cỏi của con người tôi, và tôi rất khổ tâm!

Tôi khổ tâm về nỗi thấy mình được trầm trồ khen ngợi mà không xứng đáng, người ta cho tôi là giỏi, nhưng tôi chỉ là một thằng ăn cắp. Tôi xoáy dòng, xoáy tày, tôi nhặt nhanh những câu thơ liên cú ở góc sách.

Đôi khi tôi lại xảo trá nữa. Tôi cần một hình dung từ; dù phải hy sinh sự thật tôi cũng cóc cần! Tôi tra tự vị vớ lấy chữ nào được việc, dù nó nói ngược hẳn lại điều tôi định nói. Tôi mất hết ý niệm về cái chính xác! Tôi cần có một vần trắc hoặc một vần bằng, mặc kệ! - chất lượng chẳng là gì, số lượng là tất cả.

Với các giáo sư, phải bám sát lấy đồi Janiquyn[70].

Tuy nhiên tôi vẫn không thể nào hình dung nổi tôi là một người La-tinh.

Không thể hình dung nổi!

Khi tan học tôi không vào nhà xí của Vitenliuýt[71]. Tôi cũng chưa hề ở Hy-lạp bao giờ! Không phải vòng hoa chiến thắng của Mintiats[72] làm tôi vướng víu mà chính là củ hành làm tôi khó chịu. Trong các bài văn, tôi khoe những vết thương bị kẻ thù đánh phía trước vào ngực; nhưng thật quả tôi đã bị một vài vết ở đằng sau.

“Các anh sẽ mô tả đời sống ở la-mã như thế này, thế này...”

Tôi thì tôi không biết xưa kia người ta đã sống ra sao! Tôi rửa bát đĩa, tôi bị đánh đòn, tôi mang dâu đeo quần, tôi khá là buồn; nhưng tôi không biết một ông chấp-chính-quan nào khác ngoài thầy tôi, thắt chiếc ca-vát to tướng, đi đôi ủng đã thay đế; còn như về bà già, tôi chỉ biết có mụ Grattơlu vẫn làm việc vặt trong nhà cho những người ở gác hai.

Vậy mà người ta vẫn cứ nói là tôi văn chương lưu loát.

Thật là giả dối quá thể. Ôi chao! Tôi ấm ức vì hối hận!...

Có ông Jaluyzô, giáo sư khoa sử, được tất cả mọi người trong trường yêu quý. Người ta bảo là nhà ông giầu, và ông có tính nói thẳng. Ông là một người tốt.

Tôi quỳ xuống dưới chân ông và thú thật hết với ông.

“Thưa ông Jaluyzô!

- Chuyện gì thế, cháu?

- Thưa ông Jaluyzô!”

Nước mắt tôi ướt đẫm tay ông.

“Cháu có, thưa ông, có điều cháu là thằng ăn cắp!”

Ông ngỡ là tôi đã ăn cắp ví tiền, và vội nhét dây đeo ví vào túi.

Cuối cùng tôi thú thực những vụ xoáy trong Alêchdăngđrơ và tất cả chuyện những liên cú mà tôi đã nhai lại, tôi nói rõ là tôi đã lấy những vần thơ La-tinh ở đâu.

“Đứng dậy, cháu! Nhặt nhạnh những thứ rác rưởi ấy để làm bài luôn à? Thì chính cháu đi học chỉ là để làm cái đó, để nhai đi nhai lại những thứ mà người khác đã nhai rồi.

- Cháu chưa bao giờ đặt mình vào địa vị Têmixtôclơ cả!”

Chính lời thú nhận đó làm tôi đau xót nhất.

Ông Jaluyzô phá ra cười để trả lời tôi, tựa hồ ông bất chấp đến Têmixtôclơ. Người ta thấy rõ ông là người có của.

Về món luận Pháp-văn, tôi thành công cũng do lối chắp vá, xào xáo, do lối nói dối và đánh cắp.

Trong các bài luận đó, tôi nói là không có gì nâng cao tâm hồn con người bằng Tổ quốc và tự do.

Tôi thì tôi không biết tự do là gì, Tổ quốc là gì. Xưa nay tôi luôn bị roi, bị tát, - đó là về tự do; - còn về Tổ quốc, tôi chỉ biết mỗi căn nhà tôi ở đó tôi đã mụ cả người, và chỉ có những cánh đồng ở đó tôi thích thú, nhưng lại không được đi đến.

Tôi bất cần những Hy-lạp và Ý-đại-lợi, sông Tibrơ và Ơrôtax. Tôi thích con suối ở Farâyron hơn, thích phân bò, phân ngựa, và nhặt rau bồ-công-anh về để trộn xà-lách.

Chú thích:

[61] Thi hào thời hylạp cổ (521-441 trước công nguyên).

[62] Giáo sư nảy sinh dùng những thuật ngữ khoa học, thuật ngữ Hy-lạp hay La-tinh thay cho những tiếng Pháp thông thường như araknê thay cho araignée (con nhện).

[63] Nữ thần của trí thông minh và nghệ thuật (theo thần thoại Hy-lạp).

[64] Lối chơi chữ không dịch được. Ông giáo sư chuyển chữ “ Di Anhét “ sang tiếng La-tinh với các biến thể của nó, nhưng “ têtông “ trong tiếng Pháp lại có nghĩa là và.

[65] Danh tướng của Aten thời Hy-lạp cổ (thế kỷ thứ VI trước công nguyên).

[66] Tỉnh trưởng của Ba-tư thời cổ đã tự cắt mũi, tai để lọt vào thành Babylon làm nội gián cho vua Ba-tư Đariút đang vây thành.

[67] Các nhân vật thời Hi-lạp cổ: Aniban là danh tướng Cactagiơ, Caracala là hoàng đế La-mã nổi tiếng tàn ác, Tóccatuýt là chấp chính quan La-mã đã xử tử con trai mình vì không tuân lệnh trong chiến đấu.

[68] Agripin hoàng hậu La-mã mê hoàng đế Nêrông (15 - 19 trước công nguyên). Axpađi: vợ danh tướng và nhà chính trị lớn Pêriclét của Hy-lạp nổi tiếng đẹp và thông minh;  các triết gia (trong đó có Xôcrát), các nhà thơ, các nghệ sĩ trứ danh thường lui tới nhà Axpađi.

[69] Juyli: một phụ nữ thời La-mã cổ, nổi tiếng phóng túng, lẳng lơ, là nguyên nhân khiến nhà thơ Ôvít bị đi đầy (thế kỷ thứ I trước công nguyên).

[70] Một trong bảy ngọn đồi của La-mã, trên bờ sông Tibrơ.

[71] Hoàng đế La-mã cổ.

[72] Tượng Aten thời Hy-lạp cổ.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của jules vallès