Chú Bé

Lượt đọc: 1408 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- XIX -
luidét (louisette )

Ông Bécgunha (Bergougnar) vốn là bạn học cũ của thầy tôi.

Ông ta người xương xương, nước da tái, ăn vận khắc khổ.

Ông nhất về môn luận, thầy tôi thứ nhì, nhưng thầy tôi lại đứng đầu về môn thơ La-tinh. Hai người đối với nhau vẫn giữ một niềm kính phục sâu sắc, như hai nhà chính trị đã đấu tranh với nhau, nhưng đã biết được tài nhau.

Cả hai đều vững tin là mình sinh ra để làm những việc đại sự, nhưng chỉ vì những nhu cầu của cuộc sống mà họ phải xa trường đấu.

Họ đã chia lĩnh vực với nhau.

“Cậu, cậu là Óc tưởng tượng, ông Bécgunha nói, - một óc tưởng tượng nóng bỏng…”

Thầy tôi ưỡn ngực, và khổ công làm cho mắt ánh lên, thầy tôi phóng một cái nhìn đùng đục vào không trung - và lén đưa tay làm cho đầu óc rối bù.

“Cậu là Óc tưởng tượng ngông cuồng…”

Thầy tôi làm ra vẻ bơ phờ thác loạn và nhăn mặt một cách kinh khủng.

“Tớ, - ông Bécgunha nói tiếp, - tớ là Lý trí lạnh lùng, lạnh như băng, không gì lay chuyển nổi”. Và ông kẹp chiếc can thẳng tắp vào giữa đùi.

Đồng thời ông sửa lại, trên cái mũi vàng khè lấm chấm đen như cái bao ngón tay, ông sửa lại cặp kính trắng trông như hai thấu kính tụ ánh nắng, nó làm tôi kinh hãi vì quần áo tôi hơi nhỏ.

Tưởng chừng hai mắt kính sắp gây ra những lỗ thủng. Đôi khi tôi còn tự hỏi không biết có phải cặp kính đã thui cháy mắt ông không, vì nom qua kính, mắt ông tựa như một vết nhọ đen to tướng.

“Tớ là Lý trí lạnh lùng, lạnh như băng, không gì lay chuyển nổi…”

Ông khăng khăng giữ ý đó. Ông hầu như nghiến răng lại mà nói vậy, tưởng chừng ông đang nghiền nát một song đề luận và nhai những góc cạnh của nó. Ông cũng đã học Đại học, điều đó thấy rất rõ; nhưng ông tốt nghiệp ra để lại một bà góa, - bà này ngỡ mình kết hôn với một vĩ nhân và đem lại cho ông vô số thựclợi nhỏ, nhờ đó ông có thể ngồi soạn quyển sách vĩ đại của ông Bàn về Lý trí ở người Hy Lạp.

Ông làm quyển sách đó đã ba năm nay, lúc nào cũng có vẻ như nghiến răng; ông vặn vẹo các luận cứ như vắt quần áo, ông thì ông muốn lập luận thật chặt chẽ, chứ không muốn lôgic lỏng lẻo, - do đó ông mắc bệnh táo bón, hình như thế, và ông bị những cơn nhức đầu nặng.

“Bộ óc, cậu thấy không, ông vừa nói với thầy tôi, vừa lấy ngón tay trỏ gõ vào trán…

- Không phải óc “, thầy thuốc nói, ông này cho là bị đau ruột già; đến nỗi ông ta không còn biết rõ có phải ông Bécgunha là triết gia vì bị bệnh táo bón, hay bị bệnh táo bón vì là triết gia.

Người ta xì xào về chuyện đó; vài cuộc tranh cãi nho nhỏ rất cay cú về vấn đề này xảy ra trong các tiệm cà-phê. Khối óc có những người đứng về phía nó. Mẹ tôi lúc dầu đã tỏ thái độ một cách dữ dội.

Thầy tôi, một hôm, chợt nảy ra ý là nhờ ông Bécgunha làm nhà hùng biện và phái ông đến gặp mẹ tôi với một vẻ trịnh trọng, răng nhe ra như dọa nạt, với võ khí lý trí, để tìm cách thuyết phục mẹ tôi rằng, đối với chồng, mẹ tôi một đôi khi đã đi trệch khỏi các quy tắc về sự tôn kính mà người đời xưa và người đời nay đã quan niệm, vì mẹ tôi đã gây cho thầy tôi những cảnh tai tiếng mà người ta không thấy có gì tương đương trong những tác phẩm cổ điển lớn.

“Tôi đến để đặt ra với bà một song đề luận.

- Ông nên chườm hạt cải vào chỗ nào đấy cho ông thì hơn .”

Ông ta bỏ đi và sẽ không bao giờ quay lại nữa, nếu như mẹ tôi đã không vì tôi mà khắc phục lòng căm ghét của mình.

Mẹ tôi nói sở dĩ đã trả lời hơi sống sượng là do cái vui tính của người đàn bà thôn quê thích đùa cợt một tẹo, và xưa nay chưa xin lỗi ai bao giờ, mẹ tôi đã đến xin lỗi ông Bécgunha để ông trở lại nhà tôi - vì lợi ích của tôi - vì thương con trai mình.

Chính vì thằng Jắc của mẹ, mà mẹ đã phải hạ mình xin lỗi, và lại còn để cho pho tượng sống của bệnh táo bón đó ngồi cạnh mình, - trong chừng mực có thể ngồi được.

Vì tôi, đúng thế! - bởi lẽ ông Bécgunha đã dậy tôi, đã chỉ cho tôi qua văn bản, đã chứng minh bằng cách cho tôi thấy rằng các triết gia cổ Hy-lạp và La-mã thường luôn tay đánh con họ; ông nhân danh Xpáctơ[59] và Lã-mã mà nện con ông, - nhân danh Xpáctơ hôm nào ông tát, và nhân danh La-mã hôm nào ông đét đít. Mẹ tôi, dù ác cảm với ông ta, nhưng vì thương yêu Jắc của mẹ, đã lại lao vào cảnh tay khô khẳng kinh khủng của ông Bécgunha; ông ta, với tư cách là con người, thì bị tắc ruột, nhưng với tư cách là triết gia, thì không, và ông đã toát mồ hôi đẫm áo để ghi khắc các nguyên lý triết học lên cái ấy của các con ông, - như kiểu người ta đóng đinh treo lên biển hàng, như kiểu người ta cắm một lá cờ.

Mẹ tôi đoán biết là tôi không có cái đức tin ngoài da.

“Mày hỏi ông Bécgunha xem! mà hãy nhìn ông Bécgunha, hãy nhìn xương sườn thằng bé Bécgunha xem!”

Quả vậy, sau khi đã thô mặt bốn năm lần vào nhà ông Bécgunha, tôi thấy tình cảnh của tôi thật là tuyệt so với tình cảnh mà hàng ngày các con ông Bécgunha bị đặt vào: khi thì chúng bị kẹp đầu vào đùi bố, ông ta vừa phần nào chẹt cổ con vừa quất roi một cách thuận tiện; khi thì chúng đối mặt, chúng bị túm tóc nhấc bổng lên và bị gậy đập cho sạch bụi, nhưng thấu đáo, - kỳ tới lúc không còn tóc hay bụi nữa.

Đôi khi người ta nghe thấy những tiếng thét khủng khiếp từ trong nhà ông ta vọng ra.

Người địa phương chỉ biệt thự Bécgunha cho các danh nhân:

“Đấy là nơi ở của nhà triết học, họ vừa nói vừa chỉ tay về phía biệt thự, - chính đấy là nơi ông Bécgunha viết cuốn Bàn về Lý trí ở người Hy Lạp… Đấy là nơi ở của nhà hiền triết.”

Bỗng nhiên các con trai ông ta hiện ra ở cửa sổ, vừa quằn quại như những con khỉ, vừa gào lên như những con chó rừng.

Phải, những trận đòn của tôi chỉ là những vuốt ve, so với những trận đòn mà Bécgunha phân phát cho gia đình ông.

Ông Bécgunha không phải đánh con chỉ vì lợi ích của nó - lợi ích của thằng Bônavăngtuya hoặc thằng Bácnabê, - mà vì thú riêng của bản thân ông Bécgunha. Ông không ích kỷ và cá nhân - ông tận tụy vì một lý tưởng, đó là nhằm cả nhân loại, khi một tay ông vén sơ-mi thằng Bônavăngtuya lên, một tay làm hiệu cho cá nhà bác học biết là ông sắp thực hành phương pháp của ông.

Ông đét đít thằng con ông như bắn súng đại bác, và ông lấy làm hài lòng khi thằng Bônavăngtuya thét lên những tiếng làm một chiếc đầu máy xe lửa cũng phải sợ.

Có lẽ ông sẽ đem cái đít đẫm máu của con trai ông lên diễn đàn La-mã, ví thử ở Thổ-nhĩ- kỳ, ông sẽ cắm nó lên cọc như cắm đầu lâu người trên ngọn giáo, và dựng nó ở hàng rào sắt trước lâu đài.

Tôi chỉ là một kẻ đơn độc, một thằng không xếp hạng, một đứa vô dụng, - tôi chẳng dùng được việc gì cả, - người ta đánh tôi, tôi không hiểu vì sao, chớ như thằng Bônavăngtuya thì là một tấm gương, và nó bước vào giật lùi nhưng thật sâu trong triết học.

Tôi không thương hại thằng Bônavăngtuya.

Bônavăngtuya rất xấu xí, rất ngu xuẩn, rất độc ác. Nó đánh những em bé như bố nó đánh nó, nó làm chúng khóc và nó cười. Một lần nó đã lấy dao cạo cắt đuôi con mèo, và người ta thấy đuôi con mèo nhỏ máu như một thỏi xi hơ nến, nó giả bộ gắn xi phong bì như bằng những giọt máu ấy. Một lần khác, nó vặt lông một con chim còn sống.

Bố nó rất lấy làm vừa ý.

“Bônavăngtuya thích tìm hiểu sự vật, Bônavăngtuya yêu khoa học…”

Từ khi nó cắt đuôi con mèo, từ khi nó vặt lông con chim, tôi ghét nó. Tôi sẽ mặc cho người ta lấy đá đập nó, như đập con cóc. Có phải chính tôi cũng ác không? Hôm nọ nó vặn tay một thằng bé; tôi đã đá nó túi bụi và đập mũi nó vào tường.

Nhưng em gái nó! - hỡi Chúa tôi!

Con bé vốn ở với một người dì ở nhà quê. Người dì chết đi, người ta gửi trả lại con bé. Con bé ngây thơ tội nghiệp, con bé khốn khổ yêu quý!

Trái tim tôi đã từng bị nhiều vết thương, tôi đã từng đổ nhiều nước mắt; nhiều lần tôi đã tưởng chết vì buồn, nhưng chưa bao giờ trước tình yêu, trước thất bại, trước cái chết, tôi đã đau đớn ghê gớm như cái hồi người ta giết con bé Luidét trước mắt tôi.

Vậy con bé ấy, nó đã làm gì? Tôi thì người ta đánh tôi là có lý, vì khi tôi bị đánh, tôi không khóc, - đôi khi tôi còn cười nữavì tôi thấy mẹ tôi rất ngộ khi mẹ tôi thật là cáu, - tôi có bộ xương rắn, có bắp thịt, tôi là đàn ông.

Tôi không kêu, miễn sao người ta đừng đánh gẫy chân gẫy tay tôi, - bởi lẽ sau này tôi còn phải kiếm sống.

“Thầy ơi, con là con nhà nghèo, thầy đừng làm con què quặt!”

Nhưng con bé kháu khỉnh mà người ta đánh, và nó xin tha, đôi bàn tay xinh xinh chắp lại, đầu gối khuỵu xuống, mình lăn lộn kinh hãi trước mặt bố, lão vẫn đánh nó… đánh mãi!...

“ Đau quá, đau quá! Thầy ơi, thầy!”

Con bé thét lên như tôi đã nghe thấy một người điên tám mươi tuổi vừa thét lên vừa rứt tóc, một hôm bà cụ ngỡ trông thấy có ai ở trên trời định giết bà!

Tiếng thét của bà cụ điên đó vẫn còn vang trong tai tôi, tiếng thét của Luidét, cũng điên lên vì sợ, giống như thế đó!

“Con van thầy, con van!”

Tôi còn nghe thấy một tiếng vụt; cuối cùng tôi không còn nghe thấy gì hết, ngoài một tiếng tắc nghẹt, một tiếng rên rỉ.

Một lần, tôi ngỡ con bé bị vỡ họng, lồng ngực bé nhỏ tội nghiệp của nó bị vỡ, và tôi vào nhà.

Con bé nằm lên trên mặt đất, mặt trắng bệch, tiếng nấc không thành tiếng, người co quắp vì kinh hoảng, trước mặt bố nó lạnh lùng, tái mặt, lão ngừng tay chỉ vì sợ lần này làm chết con.

Tuy vậy, người ta cũng giết chết con bé. Nó chết vì đau đớn, lúc mười tuổi…

Vì đau đớn!... như một người, vì phiền muộn quá chết.

Và cũng vì đòn làm hại!

Người ta đánh nó đau đến thế! và nó xin tha mà chẳng được.

Hễ thấy bố nó tới gần, chút lý trí của nó run lên trong cái đầu thiên thần của nó…

Ấy thế mà người ta không cho cái thằng bố ấy lên máy chém! Người ta đã không áp dụng luật Taliông[60] với tên giết con ấy, người ta đã không bắt tên hèn nhát ấy chịu cực hình, người ta đã không đem chôn sống hắn bên cạnh con bé!

“Mày có nín khóc không?”, hắn hỏi, vì sợ hàng xóm nghe thấy, và hắn nện thêm để đứa bé phải im; đứa bé càng sợ và càng khóc già.

Hồi mới đến, con bé trông rất dễ thương, hết sức vui, hết sức hể hả, hồng hào đến thế.

Ít lâu sau, con bé đã không còn sắc mặt, và người nó run lên như con chó bị đòn, mỗi khi nghe thấy tiếng bố nó về.

Tôi đã ôm hôn nó, vừa vuốt ve cặp má bầu bĩnh và ấm áp của nó ở Sở vận tải, nơi chúng tôi cùng với bà lão Bécgunha đến đón nó như một bó hoa.

Thời gian cuối. (Chà không lâu! may cho con bé! người nó trắng bệch ra như sáp, tôi thấy rõ là tuy bé bỏng đến thế, nó cũng đã biết là nó sắp chết, -nó mỉm cười trông như mếu.- Trông nó mới già làm sao, Luidét, khi nó chết mới mười tuổi, - chết vì đau đớn, thật vậy!

Hôm đưa đám con bé, mẹ tôi thấy tôi rầu rĩ.

“ Giá tao có chết, mày cũng chẳng khóc nhiều đến thế hả?. “

Hồi con chó chết, thầy mẹ tôi cũng đã nói với tôi như vậy.

“Mày cũng chẳng khóc nhiều đến thế.”

Tôi nín lặng.

“Jắc! khi mẹ mày nói với mày, mẹ mày muốn là mày phải trả lời… - Mày có trả lời không?”

Tôi không những không nghe họ nói gì, mà tôi nghĩ đến đứa bé chết, họ đã nhìn thấy nó bị hành hạ như tôi và đã cứ để cho nó bị đánh, chứ không can lão Bécgunha đừng làm khổ nó; họ lại còn bảo con bé là không được hỗn láo, làm phiền lòng thầy nó!

Luidét mà hỗn láo! Con nhỏ tí xíu đó, với giọng nói dịu dàng và ánh mắt ướt! Thế là nước mắt tôi trào ra, và tôi hôn cái gì không biết, một mẩu khăn quàng, có lẽ, mà tôi đã lấy ở cổ con bé tội nghiệp bị giết chết.

“Mày có vứt cái của bẩn thỉu ấy đi không?”

. . . . .

Mẹ tôi nhảy xổ vào tôi. Tôi giữ chịt mảnh khăn vào ngực; mẹ tôi lồng lộn lên, bấu chặt lấy cổ tay tôi.

“Mày có đưa đây ko!

- Của Luidét chứ…

- Mày không đưa hả? - Ăngtoan (Antoine), ông cứ để con ông đối xử với tôi như thế à?”

Thầy tôi hạ lệnh cho tôi buông mảnh khăn ra.

“Không, con không đưa đâu.

- Jắc!” (Jacques) , thầy tôi, cáu tiết, quát.

Tôi không nhúc nhích.

“Jắc!” Và thầy tôi vặn tay tôi.

Thầy mẹ tôi cướp lấy mảnh lụa mà tôi giữ được của Luidét.(Louisette)

“Còn một thứ bẩn thỉu nữa để ở xó xỉnh rồi tao cũng sẽ quẳng đi”, mẹ tôi nói. Đấy là bó hoa của cô em họ đã tặng tôi.

Một hôm lục lại, mẹ tôi đã thấy bó hoa ở đáy một ngăn kéo.

Mẹ tôi ra tìm bó hoa, giựt nó và giết nó. Phải, tôi thấy như người ta đã giết chết một cái gì, khi giựt nát bó hoa héo ấy…

Tôi vào một căn buồng nhỏ tối om, đóng kín cửa lại để rủa thầm thầy mẹ tôi; tôi nghĩ đến Bécgunha và mẹ tôi, đến Luidét và cô em họ…

Quân giết người! quân giết người!

Tiếng đó từ ngực tôi bật ra như một tiếng nấc, và tôi cứ nhắc đi nhắc lại nó rất lâu, người run lên vì xúc động…

Ban đêm, tôi choàng tỉnh dậy, ngỡ như thấy Luidét ngồi kia, trên giường tôi, với tấm vải liệm. Cánh tay mảnh khảnh của con bé thò ra, với những vết đòn!...

Chú thích:

|59] Thành phố cổ của Hy lạp, nổi tiếng vì phong tục khắc khổ, cương nghị.

[60] Luật xưa quy định “ sát nhân giả tử”

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của jules vallès