Tôi ở Pari.(Paris)
Hôm tới Pari tôi bị sưng răng, Ông Lơnhanha (Legnagna), chủ nhà trọ, đã đón tiếp tôi với một vẻ kinh ngạc. Ông bảo vợ:“Đây không phải là học trò, mà là một cái bong bóng.”
Nhưng thôi, cái đó không ngăn trở trúng giải trong các kỳ thi.
“Cháu sẽ chăm học chứ?”
Và tôi, môi sưng lấp cả má, tôi đáp:
“B-âng, b-âng”
Ông thấy tôi không giỏi như ông tưởng. Tôi đưa những ýcủa tôi vào các bài làm.
“Không nên đưa ý của cháu vào, bác khuyên cháu: phải bắt chước cổnhân.”
Ông nói với tôi thường hay to tiếng, ngụ ý cho tôi thấy là tôi trả tiền trọ ít hơn các bạn khác.
Mới sang ngày thứ hai ông đã nói bóng gió tới chuyện đórồi. Có món rau ba lăng. Tôi không thích ăn rau balăng, và tôi để đĩa rau lại.
Ôngta đi qua.
“Cháu không thích ăn món này à?
- Thưa ông, vâng.
- Ở nhà cháu, có lẽ cháu ăn nem công? Hay người ta phải làm cả chả phượng cho cháu ăn chắc?
- Không, cháu thích ăn mỡ lợn hơn!”
Ổng nhún vai cười gằn, vừa bỏ đi, vừa lẩm bẩm: “Đồ nhà quê!”
Tối chủ nhật, ông mời khách. Tôi cũng được mời dự. Tôi hay nói:“Con khỉ!” Đấy là một thói quen; thói quen đó theo tôi vào tận phòng khách của ông.
“Ôn-g Vanhtrax, - ông thét tôi từ đầu bàn tới cuối bàn, - ông được dậy dỗ ở đâu vậy? Trước ông có đi chăn bò không?
- Thưa ông, có, với cô em họ tôi.”
Ông bối rối và đỏ bừng mặt.
“Bà xem thế đấy? Ông nói với bà ngồi bên cạnh. Và quay sang phía tôi:
“Về phòng ngủ!”
Tôi theo lớp học sinh lớn, chúng ít nhiều coi thường tôi, nhưng không làm tôi khó chịu; chúng làm ra vẻ láu lỉnh, nhưng tôi thấy chúng ngu, ngu ơi là ngu!... Có một đứa nổi tiếng, đã từng được giải ở kỳ thi, nó gầy, xanh lét, người như mắc chứng run gân, lúc nào cũng gãi tai, và đầu lưỡi luôn luôn liếm lên mũi.
Có một thằng nổi tiếng một nửa - Anatôly (Anatoly).
Nó chủ trương là phải có quan hệ tốt giữa học sinh với thầy giáo; nó muốn mọi người phải hòa thuận với nhau, - tại sao vậy?
Tôi có vẻ thô kệch; chúng cho tôi là nặng nề khi chơi đuổi bắt, chê tôi là dân tỉnh lẻ. Anatôly (Anatoly) che chở tôi.
“Rồi nó sẽ quen dần, đừng làm rầy rà nó! Một tháng nữa, nó sẽ như bọn mình thôi, hai tháng nữa các cậu sẽ thấy!”
Ừ! chúng cũng không làm rày rà gì tôi nhiều lắm! Tôi khỏe, và thầy mẹ tôi không có ở đây để làm tôi rụt rè, xấu hổ, vụng về. Chúng giễu tôi, tôi cóc cần, tôi không bị choáng mắt vì bạn.
Chà! tôi đã có một ý nghĩ khác về những thằng giỏi La-tinh ấy! Tôi thì tôi thấy là ở tỉnh lẻ vui hơn!
Chúng nói luôn miệng nhưng lúc nào cũng chỉ nói một chuyện, nào thằng này trúng giải, thằng khác suýt trúng; nào thằng Giécbiđông (Gerbidon) dùng sai chữ, thằng kia bị lỗi văn pháp...
“Ở lớp ông Labađăng (Labaden), mày biết không, thằng bé đáng lẽ được nhất về môn dịch tiếng Hy-lạp, nó không đến thi vì thầy nó chết vào lúc buổi sáng. Ông Labađăng (Labaden) đi tìm nó, hứa sẽ cho xe đưa nó về để đưa ma thầy nó. Nó không nghe và cứ tiếp tục khóc.”
Chúng có vẻ cho thằng bé đó là ngốc.
Nhà trọ dẫn thẳng tới trường Bônapáctơ (Bonaparte) .
Thứ ba, học trò có quyền ở lại để gọt sửa bài thi, và tôi ở lại cho tới khi bóng ông giáo sư vừa khuất ở góc đường là tôi cũng chuồn. Tôi có trước mặt cả một tiếngđồng hồ tự do, hết giờ tôi sẽ đến gặp người gác cổng nhàông giáo, đưa bài làm mà người ta tưởng là lúc này tôi đang hoàn thành.
Tôi đi tha thẩn trong các phố đầy những phụ nữ để tóc trần; họ vui vẻ và xinh đẹp làm sao với những chiếc áo rộng để thợ mặc ở xưởng! Tôi đưa mắt nhìn theo họ, tôi lắng nghe họ hát khẽ, và qua cửa kính tôi nhìn họ ngồi ăn sáng bên cạnh những người thợ chạm vận áo choàng trắng, và thợ in đội mũ gấp bằng giấy. Đó là tất cả những cái tôi ngắm nhìn.
Tôi không muốn đi xem các tượng đài, tuy tôi không còn vướng víu hành lý, tôi thấy là tất cả các tảng đá đều giống nhau, và tôi chỉ thích những cái gì biết đi lại và những cái gì sáng lấp lánh.
Vậy là tôi chẳng biết gì về Pari cả, chỉ biết loanh quanh chỗ ngoại ô Xanh-Ônôrê (faubourg Saint-Honoré) , đường tới trường học Bônapáctơ (Bonapart) phố Mirômexnin (Miromesni) , phố Véc (Verteà, quảng trường Bôvô (Beauvau); ở đấy tôi thường gặp nhiều người đi ở thuê vận áo gi-lê đỏ, và nhiều chị hầu buồng đội khăn trùm đầu, các dải băng tay phấp phới trong làn gió nhẹ.
Chủ nhật chúng tôi đi chơi.
Chúng tôi thường hay đi chơi về phía điện Tuynlơri (Tuileries), trong con đường Lợn lòi ( Sanglier.).
Con Lợn lòi ấy! tôi ghét nó, nó làm tôi khó chịu với cái mõm đá của nó.
Tuy nhiên, từ ngày ông Seluy trở thành giám thị của chúng tôi thì tôi cũng đỡ buồn.
Ồng là người không tin cái gì cả; ngày chủ nhật, ông để mặc chúng tôi đi tản mát khắp các ngả, miễn là tới sáu giờ chúng tôi phải có mặt.
Chúng tôi thì chúng tôichuồn tới quán Người Hòa-lan, ở gần khu Hoàng-Cung. Đó là tiệm cà-phê của bọn Xanh-xia (Saint-Cyriens) [81] và bọn gà vịt. Người ta đặt tên gà vịt cho những đứa dự định theo học tại các trường vận đồng phục, và hiện nay đã có một đồng phục, dải băng màu da cam, cổ áo màu cá hồi, với mũ kêpi vành cứng, lon vàng hoặc bạc.
Mặc dù là ở Khoa văn, tôi vẫn có quan hệ tốt với bọn gà vịt, nhất là với bọn Lôrion. Khổ một nỗi là hàng tuần tôi chỉ có hai mươi xu, và buộc lòng tôi phải suy đi tính lại trước khi chạm cốc.
Một hôm tôi bị một mẻhết hồn. Chúng tôi đánh bài và tôi đã thua mất một phơrăng rưỡi. Từ ván đầu, tôi đã nhấp nhổm muốn đứng lên; nhưng tôi không dám.
“Ơkìa, cứ ngồi đấy!”
Mồ hôi ở lưng, rờn rợn ở sọ.
Tôi chơi kém, và để người khác nhìn thấy cả bài cẩu. Mọi sự xong xuôi, tôi thua xiểng liểng! ...
May sao lúc đó người ta đánh nhau. Một cuộc cãi lộn nổi lên giữamột tay gà vịt vàng và một tay gà vịt đỏ, giữa bọn Xanh-Xia mới và bọn cũ, thế là chai lọ bay tứ tung.
Một cuộc ẩu đả loạn xạ và tôi cũng nhắm mắt nhắm mũixông vào.
Tôimong sẽbị đòn tả tơi. Nhưng không may! tôi tẩn người khác thì nhiều mà mình chẳng bị gì cả.
Nhưng dầu sao tôi vẫn thoát.
Người ta ném chúng tôi ra cửa, cả một lũ, để khỏi bận chỗ, và tôi đi về đường Lợn lòi, nợ quán Người Hòa- lan ba mươi xu; nhưng đến chủ nhật sau tôi mới phải trả.
Tôi bán một bài văn tiếng La-tinh ở kỳ thi hôm thứ ba, - hai mươi xu trả ngay.
Thỉnh thoảng tôi làm cái trò buôn bán đó, như vậy tôi kiếm một chỗ xếp hạng cao cho một cậu nào đó đang chờ đón một ông bác hoặc muốn lòe nhân ngày sinh nhật của mình, hoặc vì một lợi ích gì đó muốn xếp hạng trong số mười người đầu!
Tôi quay lại quán Người Hòa-lan, ba mươi xu nằm gọn trong lòng bàn tay. Người ta không muốn lấy tiền của tôi. Chính là quỹ trường Xanh-Xia (Saint-Cyriens) hoặc một cuộc quyên góp của bọn gà vịt đã thanh toán xong xuôi vụ đổ vỡ và tiền rượu.
Thế là tôi thừa ra một số tiền và thêm vào đó lại được tiếng là một tay ưa đấm đá.
Dù sao, bao giờ ở quán rượu của những kẻ giàu có ấy ra về, tôi cũng đâm ra tư lự! Và ban đêm, nằm trong chiếc giường học sinh của tôi, tôi cứ tự hỏi thầm là tương lai của tôi sẽ ra sao, người ta định đưa tôi vào một trường học mà tôi rất sợ phải vào, vì tôi, chẳng như bọn gàvịt kia, là một kẻ không cóý chí, mụcđích, và không có của.
Cuộc sống của tôi trong những ngày chủ nhật bỗng thay đổi đột ngột.
Tại trường trung học Năngtơ trước có một học sinh gương mẫu tên là Matútxanh (Matoussaint) [82].
Matútxanh tới ở Pari. Thầy tôi trao anh ta một bức thư cho anh có quyền được nhận tôi ra khỏi ký túc xá vào ngày chủ nhật.
Đến hai giờ chiều thì Matútxanh (Matoussaint) mới rảnh. Nửa ngày cũng là đủ quá rồi - chúng tôi không biết làm gì cho đếnnăm giờ, chúng tôi không muốn tới tiệm cà-phê vì sợ tốn tiền. Matútxanh đem đến cho tôi hai mươi phơrăng của mẹ tôi gửi: nhưng tôi phải tiêu pha dè xẻn.
Chúng tôi giết thì giờ buổi chiều chẳng ra đâu vào đâu cả. Tôi thấy ngán cái cảnh đi chơi rong trong khi tất cả mọi người khác cũng đi chơi rong, và ai nấy đều có vẻ ngu xuẩn. Chà! giá cứ như những ngày thường! Thiên hạ qua lại nghìn nghịt. Hôm nay, mọi người không làm ầm ĩ, ai nấy lướt đi như những thầy tu.
Phải tới Mơđông kia! Ở đó, người ta cười đùa, người ta vui chơi.
Nhưng phải mất mười xu, từ Pari tới Mơđông! Hãy đợi bao giờ giàu đã!
“Trời lạnh thế này đi bộ thì tốt”, Matútxanh nói, - anh muốn tôi tưởng là anh vui đùa, nhưng người anh run lên như cây đèn treo mà người ta phủi bụi.
Chẳng thà tôi ốm yếu hơn mà được ấm áp hơn.
Những ngày chủ nhật mưa, chúng tôi tới các viện bảo tàng.
“Bao giờ cũng có thể học được một điều gì đấy”, Matútxanh nói, khi bước vào phòng triển lãm.
“Học được cái gì chứ?
- Mày ngắm các bức họa, các tượng cẩm thạch!
- Thế rồi sao?”
Matútxanh bảo tôi là thằng thực tế, và chua chát nói: “Mày là đứa đã làm những câu thơ La-tinh hay thế!”
Kể cũng đúng!
Matútxanh thấy tôi có vẻ lung lay liền bồi thêm: “Mày khước từ các vị thần của mày, mày khạc nhổvào cây đàn của mày!
- Thưa các vị, người gác vận áo xanh vừa kêu lên vừa giơ chiếc gậy chỉ vào đống cám, nếu các vị muốn khạc nhổ thì xin vào xó kia.”
Mãi mới tới năm giờ. Quả thực là tôi không say mê những kiệt tác, và những đèn đài.
Lúc năm giờ thì Lơmétrơ đến với chúng tôi. Lơmétrơ là một thầy ký quèn, nên Matútxanh coi thường anh ta. Matútxanh chỉ biết những nghề cao quý thôi. Nhưng vì Lơmétrơ quen đám cóc vàng và bọn quấy nhộn, nên Matútxanh đón tiếp anh ta niềm nở.
Lơmétrơ đến và cả bọn đi uống rượu áp-xanh ở quán Rôtôngđơ, hoặc quán Pixôt, ở đấy, người ta hy vọng gặp Grátxô. “Ồ! Xanhvin kìa! - Không! A đúng!”
Rượu ápxanh một khi đã nhấp xong trong bóng nhánhem của lúc sáu giờ, chúng tôi chuồn về phía Hoàng-Cung, nơi chúng tôi sẽ gặp bạn bè của mình ở quán Tavécniê. Bao giờ họ cũng ngồi trong phòng to, ở chiếc bàn kê trong góc. Chúng tôi ăn bữa tối theo giá ba mươi hai xu một suất.
Các thầy ký, bạn của Lơmétrơ, ngồi với người yêu của họ, giầy dép lịch sự, cô nào nom cũng dễ thương, và các cô cười luôn miệng, chuyện gì cũng cười mà không có chuyện cũng cười...
Và những thức ăn mới ngon làm sao!
Khoai nghiền Crêxy, sườn lợn rán Xubidơ, nước xốt Môngmôrăngxy. Tiện nhịp lắm! Đấy, người ta học sử như thế đấy!
Những món ăn và nước xốt ấy mới cay làm sao, cay xé lưỡi!
Ông Rađigông, là tay vui nhộn nhất bọn, không thích những trò ấy.
“Bồi, một chân giò nướng... Muốn làm chân giò lợn, hãy cầm lấy chân của các cậu mà gãi.”
Mọi người cười. Tôi thì tôi chỉ nghe không nói gì cả.
“Bạn của ông câm đấy à, ông Matútxanh?”
Tôi nhăn mặt và thốt ra một tiếng, để chứng minh tôi không thuộc đám môn sinh của linh mục Êpê (Épé) [83]. Người ta bàn luận về tôi ở góc bàn.
“Cái đầu - đôi mắt. Nhưng trông hắn có vẻ ngố lắm!”
Tôi kéo lại bằng những trò đấm sức. Tôi đã hạ những cổtay, tôi bóp dí những ngón tay, tôi lấy răng nâng cao liễn xúp, tôi nhịn thở tám mươi giây, làm những người ngồi bên cạnh hoảng sợ vì thấy mạch máu của tôi căng lên, mắt tôi như lòi ra khỏi đầu.
“Trong lúc ăn, tôi không thích người ta làm thế bên cạnh tôi”, một người ngồi bên nói.
Chính Rađigông cũng ớn cái trò của tôi.
“Chà! rút cục hắn làm bọn mình khó chịu với cái trò nhịn hơi thở của hắn!”
Sau bữa ăntối, tôiphải về.
Những học sinh khác ở nhà trọ được đi chơi tới nửa đêm. Lão Lơnhanha - vì ác ý- buộc tôi phải có mặt từ tám giờ.
Tôi rời khỏi đám, và lại quayxuống phía ngoại ô Xanh-Ônôrê.
Tôi còn phải giết thì giờ khoảng mười lăm phút nữa trước khi về nhà trọ, nếu tôi về trước giờ, tôi sẽ có vẻ như không biết qua thì giờ ở đâu.
Thà về nhà trọ sớm tôi còn thích hơn. Tôi không sợ cảnh vắng vẻ của nơi buồng ngủ, nằm đấy tôi nghe thấy các bạn tôi lần lượt từng người một trở về. Tôi có thể suy nghĩ, nói chuyện với chính tôi, đấy là những giây lát duy nhất của tôi được hoàn toàn yên tĩnh. Tôi không bị đãng trí bởi tiếng ồn ào của đám đông, ở đó, tính nhút nhát thường làm tôi cách biệt, tôi không bị quấy rối vì tiếng tự vị cũng như những chuyện về kỳ thi lớn.
Tôi nhớ lại chuyện này, chuyện nọ - một cuộc đi chơi ởVuốczắc, một ngày gặt dưới nắng to! - và trong cảnh tịch mịch của nhà trọ đang yên ngủ, đầu quay về cửa sổ qua đó nhìn thấy khoảng mênh mông của bầu trời, tôi mơ màng, không phải về tương lai, mà về quá khứ.
Một hôm người ta gọi tôi tới buồng ông Lơnhanha.
Ông đưa tôi một gói của mẹ tôi gửi; ông có vẻ tức giận.
“Anh mang cả cái này đi nữa”, ông nói.
Đồng thời ông đẩy lại cho tôi một cái lọ và đưa tôi ra cửa.
Tôi không hiểu gì cả. Tôi mở cái gói ra. Trong đó có một bức thư:
“Con trai yêu quý của mẹ,
“Mẹ gửi cho con một chiếc quần mới mừng ngày sinh nhật của con, chính thầy con đã cắt từ một chiếc quần cũ của mình, chính mẹ đã khâu. Thầy mẹ muốn chứng tỏ với con tình thương yêu con. Thầy mẹ gửi kèm thêm một chiếc áo xanh cúc vàng. Cùng chuyến này, mẹ gửi biếu ông Lơnhanha một lọ dưa chuột để ông ấy chiếu cố đến con.
“Con cố học hành chăm chỉ, con ạ, và khi ngồi con nhớ vén vạt áo.”
Có thêm vài chữ của thầy tôi nữa.
Tôi đã viết cho thầy tôi biết rằng ông Lơnhanha muốn làm nhục tôi, rằng tôi muốn rời khỏi nhà trọ, vì ngày nào tôi cũng bị xúc phạm khổ lắm.
Thầy tôi viết một bức thư trả lời làm tôi hết sức bối rối. Thầy tôi đóng kịch chăng? Hay về cơ bản thầy tôi tốt?
“Hãy can đảm, con ạ! Thầy không muốn nói con phải đi Pari là lỗi tự con... Con hãy nhẫn nại, học hành chăm chỉ, lấy các giải thưởng mà trả tiền trọ, rồi con sẽ có thể nói thẳng sự thật vào mặt ông ta”.
Không một lời bóng gió nào về chuyện đã qua, tuyệt nhiên không? Không một lời trách mắng, hầu như có hảo ý, đôi chút buồn rầu!... Tôi sẽ nhẩy lên ôm cổ thày tôi, nếu thầy tôi ở đây.
Tôi sẽ làm theo lời thầy tôi: tôi sẽ đợi và cố giật giải thưởng.
Tuy nhiên cái tiếng La-tinh ấy và cái tiếng Hy-lạp ấy sao mà chán thế! và những chữ dùng sai với những lối văn pháp kia, tôi cần quái gì!
Rồi vẫn lại, vẫn lại kỳ thi lớn!
Giáo sư tên là Đ...
Ông có cái miệng nhỏ mím chặt, đi lạch bạch như vịt, cười thì như gà cục cục, và bộ tóc giả bóng láng như lông chim. Ông đã ba lần được giải danh dự ở cuộc thi toàn quốc, năm ngoái ông được thưởng huy chương, ông được một mào gà đỏ. Ông nói giọng na ná như bọn công tử bột thời Đốc-chính, ông nói: “Xixê-ông, đit-xcu-ơ Alma pa-ăng.”
Ông là giáo sư tiếng La-tinh, ông có một thứ tiếng Pháp riêng của ông.
Khi học sinh trốn học để ra tiệm cà-phê hoặc đi tắm, trông thấy những ghế trống không, ông nói:
“Ở đây tôi nhìn thấy nhiều học sinh không có mặt.”
Giáo sư tiếng Pháp tên là N..., đó là em của một viện sĩ hàn lâm có những hai thứ đạo đức chứ không phải một: rồi rào phúc đức thì không hại.
Ông ta, người cao ngẳng, gầy, đỏ da, vận chiếc áo rơ- đanh-gốt kiểu nhà tu, kính đeo như ở hội giả trang, tiếng nói vỡ, êm như huýt gió.
Bằng cái giọng đó, ông đọc những đoạn dài của Iphigiêni hoặc Exte, và đọc xong, ông chắp hai tay, nhìn lên trần nhà đầy mạng nhện, và kêu lên: “Hãy quỳ xuống! quỳ xuống! trước Raxin thần diệu!”
Có lần một học sinh mới đã qùy xuống thật sự. Và bằng một cử chỉ khinh miệt, gạt quyển sách ở trước mặt đi, giáo sư nói tiếp:
“Chỉ còn việc gấp các sách khác lại thôi.”
Tôi không mong gì hơn.
“Và thú nhận là mình bất lực”!
Đấy là việc của ông ta.
Tôi bắt đầu được xếp hạng khá về làm văn tiếng Pháp, nhưng rồi tôi lại tụt xuống rất nhanh.
Từ thứ nhì, tôi rớt xuống thứ mười, thứ mười lăm!
Nói về nông dân chạm cốc với nhau, để chúc mừng nhà vua, một lần tôi đã nói:
Và tất cả quây quần lại, họ uống một cốc rượu vangNGON.
Ngon! - Thằng bé này chẳng có gì là văn hoa cả, chẳng có một tí gì; nó có phải là một thằng vũ phu thì tôi cũng không ngạc nhiên. NGON! Trong khi ngôn ngữ ta vốn giàu những từ ngữ hay đến thế để biểu hiện hành động của những người đưa lên môi nước ngọt của Tửu thần, mật nhụy của các thần linh! Và làm sao nó lại không nhớ hình ảnh vừa nhũn nhặn vừa táo bạo của Boalô [84]:
Uống một cốc vang, nó cười trong cành phượng vĩ!
Có điều là tôi, tôi không bao giờ hiểu được câu thơ đó! Uống một cốc vang, cốc vang lại ôm bụng cười trong cỏ, dưới cây trăn!
Tôi khô khan, còn khô khan hơn ông ta tưởng rất nhiều, vì có vô khối thứ tôi cũng chẳng hiểu gì hơn.
“Có rất ít cái ở trong này”, giáo sư vừa nói vừa đặt một ngón tay lên tim.
Ông ngừng lại một lát:
“Nhưng ở trong này thì hoàn toàn không có gì cả, chắc chắc là thế”, ông nói thêm, vừa lấy tay vỗ vào trán, vừa lắc đầu ra vẻ thương hại vô cùng. “Nó thành công được một lần, vì nó đã đọc Pierô, - nhưng, hỏng, nó là một đứa bao giờ cũng thích viết “súng”hơn là viết: vũ khí khạc ra cái chết.”
Có điều là chữ đó đến với tôi tự nhiên như thế! Người ta nói như thế ở nhà tôi, -người ta nói như thế ở các nhà tôi đến chơi. - Chúng tôi giao thiệp với cái xã hội nghèo lắm!
Tôi bèn quay sang cái món thơ La-tinh, và tôi thành công ở thơ La-tinh.
Thật là vừa kịp thời.
Tôi cảm thấy đã đến lúc lão Lơnhanha khốn nạn ấy bực tức vì thấy tôi học hành không kết quả, sẽ đánh tôi nhiều đòn ngầm. Một buổi sáng nào đó, tôi sẽ đánh lão gẫy lưng.
Tôi cũng đã có lần tính đến chuyện chuồn thẳng: không phải để đi lang thang ở Săng-Êlidê hoặc trước đám leo dây múa rối, như tôi thường làm khi trốn học, mà là để bỏ hẳn nhà trọ và lăn vào đáy sâu của Pari như một tên tù vượt ngục.
Tôi sẽ làm gì? Tôi không biết.
Nhưng tôi thường tự hỏi là giá như tôi chuồn đi ngay ngày hôm ấy, và quyết định ngay tức khắc rằng đời tôi sẽ là một chuỗi vật lộn thế thôi chăng? Rất có thể như thế.
Tôi hầu như đã quyết định. Chính thằng Anatôly - Ôn Hòa làm thay đổi, vì nó cho rằng nên báo cho lão Lơnhanha biết thì tốt hơn.
Lão gọi tôi đến và bảo rằng lão biết tôi đang định làm cái gì. Lão nói thêm là lão đã báo trước với sở cảnh sát rồi, và nếu tôi bỏ trốn, tôi sẽ thuộc về tay cảnh binh. Lời ấy làm tôi sợ. Chính giữa lúc đó tôi đang làm một bài theo thể đối liên, hình như bài đó là một phát hiện. Nếu tôi mà làm như thế ở kỳ thi, chắc chắn tôi sẽ được giải.
Trúng giải ở kỳ thi, tôi rất muốn, là để trả nợ, và ở trường Xoócbon ra, ngay giữa sân, tôi sẽ béo tai lão Lơnhanha.
Ngày thi đã tới.
Chúng tôi dậy từ sáng sớm. Người ta đưa cho chúng tôi một cái túi lưới là một trong những vật kỷ niệm chiến thắng của nhà trọ, và người ta bỏ vào đó rượu vang, thịt gà nguội. Lơnhanha chìa tay cho tôi hắt. Tôi không thể từ chối được, nhưng tôi giơ tay ra uể oải, và cử chỉ thân thiện giả dối đó còn tệ hơn là thái độ thù địch và lặng thinh.
“Anh hãy cố gắng trội lên...”
Lão cười một cái cười nhạt nhẽo.
Anatôly và tôi, chúng tôi đi; trời rét căm căm.
Chúng tôi suýt đến muộn.
Tôi chưa bao giờ thấy Pari trong ánh mặt trời tươi mát của buổi sáng, vắng vẻ và yên tĩnh, và tôi dừng lại năm phút trên cầu để nhìn bầu trời trắng và nghe nước chảy. Nước róc rách đập vào vòm cầu.
Trên bờ sông Xen có một người đội mũ đang giặt mù-soa. Ông ta quỳ gối như một thợ giặt; ông đứng dậy, vắt một đầu và hong ra một giây đồng hồ trước gió. Tôi đưa mắt theo dõi ông. Rồi ông gấp mù-soa lại cẩn thận, và ủ cho nó khô hẳn trong chiếc áo rơđanhgốt mà ông mở hé ra, rồi cài cúc lại, len lén như mộtthằng ăn cắp.
Ông nhặt một vật gì đó mà tôi đã để ý thấy ở dưới đất. Đó là một quyển sách trông như quyển tự vị.
Anatôly giật vạt áo tôi, phải đi thôi, nhưng tôi còn kịp nhìn thấy một gương mặt nhợt nhạt, thình lình nhô lên trên các bậc đá.
Tôi bây giờ vẫn còn trông thấy gương mặt đó ở trước mắt và suốt ngày hôm đó nó cứ lởn vởn giữa tôi và tờ giấy trắng, có lẽ nói đúng hơn là gương mặt đó cứ ở trước mặt tôi suốt cả đời.
Là vì trên gương mặt của cái người giặt đồ tã ấy, còn trắng hơn cả chiếc mù-soa giặt không sạch kỹ, tôi đã đọc thấy cả cuộc đời của ông ta!
Quyển sách kia nói cho tôi biết rằng ông ta xưa kia cũng là chân học trò, thi đỗ rồi cũng nên. Tôi bỗng nhớ lại cả cuộc đời của thầy tôi, những ông hiệu trưởng ngu xuẩn, bọn học sinh độc ác, viên thanh tra hèn hạ, và ông giáo bao giờ cũng bị sỉ nhục, khốn khổ, bị đe dọa cách chức!
“Tao đánh cuộc là cái nhà ông nghèo khổ tao vừa nhìn thấy ở dưới cầu kia, là một ông tú tài”, tôi nói với Anatôly.
Tôi đoán không lầm.
Đúng lúc người ta gọi chúng tôi vào trường Xoócbon , một học sinh trường Sáclơmanhơ kêu lên, tay chỉ một bóng đen đang từ cuối phố đi lên:
Kìa, thày giáo dạy tư cũ của thằng Jôffrê đấy!”
Đúng là gương mặt nhợt nhạt ấy, cái ông giặt mù-soa, cái người nghèo cầm quyển sách.
Người ta đọc đầu đề bài thi.
Có nên làm bài thi hay không đây? Để làm gì kia chứ!
Để đi dạy tư như cái nhà ông kia, rồi thành người giặt mù-soa dưới chân cầu ư? Lịch sử của cái con người đang ám ảnh trí óc tôi kia ra thế nào?
Tôi không biết. Có lẽ ông ta đã tát một viên giám thị, cũng không phải tát, mà chỉ là chế nhạo thôi.
Có lẽ ông ta đã viết một bài trên báo Người sáng suốt ở Dijông hoặc Người bé nhỏ áo xám ở Ixanhgiô, và vì lý do đó, người ta đã cách chức ông.
Không làm cái nghề ấy, không, nhất định không!
Tuy vậy tôi vẫn phải xử sự một cách lương thiện, tôi vẫn phải làm cái gì tôi có thể làm được.
Tôi không tìm ra được cái gì cả, tuyệt nhiên không - tôi thấy kinh tởm như một lần, hồibé, tôi ăn nhiêu mật quá.
Cuối cùng, đó, bốn mươi câu thơ mười-hai-âm đã ghép xong! Đấy là bài thi của tôi.
“Mày xong rồi à?, thằng bạn ngồi cạnh hỏi.
- Ừ.
- Tao cũng xong rồi. Mày có muốn rán xúc-xích không?”
Nó rút ra một chiếc lò nhỏ đun bẳng cồn và giấu vào giữa những quyển tự vị, rồi lấy ra một cái chảo con.
“Nó sẽ kêu xèo xèo lên đấy, cẩn thận!”
Giáo sư coi thi là ông Đêsanen, một người hóm hỉnh,- ông nghe thấy tiếng xúc-xích xèo xèo. - Học sinh có quyền ăn đồ sống trong các giờ thi dài, - thì ông nghĩ là chúng cũng có thể ăn đồ chín được. Mặc kệ anh chàng nào cầm chảo mà không cầm tự vị trong cuộc chiến đấu!
“Bây giờ uống cà-phê. Tao thích cà-phê lắm, còn mày?”
Thằng học sinh trường Sáclơmanhơ pha cà-phê.
Nó thiếu rượu để cho vài giọt vào cà-phê. Chúng tôi liền bán những mẩu bài thi, những đoạn chép bài cho bọn độn chỗ của trường Xtanixlax và trường Rôlanh chúng đeo cổ cồn cứng, có gối tựa lưng bằng dạ mịn, và có tiền trong túi. Bọn tôi được kha khá rượu tráng chén và một ít rượu mạnh. Để kết thúc, tôi phụ trách, đặc biệt về món rượu pha đường.
“Bản nháp của mày đâu?, Anatôly - Ôn hòa hỏi, lúc tôi vừa về tới nhà trọ.
Lão Lơnhanha tới, và họ cùng xem bản nháp của tôi.
Tôi biết là bài thi của tôi hỏng rồi, và bây giờ, hình ảnh gương mặt nhợt nhạt kia đã nhòa bớt đi trong trí nhớ của tôi, và hơi men bữa tiệc của chúng tôi đã hả, tôi cảm thấy buồn bã, hầu như thấy hối hận.
Lão Lơnhanha không nói với tôi một lời. Lão hằn học lườm tôi.
Đã có kết quả. - Tôi chẳng được gì cả!
Nhưng Anatôly cũng không được gì, cả lớp đều không được gì, cả trường cũng không được gì to tát lắm. Thật là một thảm họa cho trường trung học.
Những đứa học gạo và những đứa láu cá cũng chẳng hơn gì tôi, tôi thấy lương tâm yên ổn hơn.
Lễ phát thưởng đã tới. Tôi đến dự lễ, âm thầm và không vinh quang! Fractix ốccombăng inglôriúyx ácmix![85]
Rồi mỗi người đi một nẻo...
Tôi thì tôi ở lại.
Tôi đợi một bức thư của thầy tôi, và những lời dặn bảo. Chẳng thấy gì cả. Người ta để mặc tôi ở đây, trong tay lão Lơnhanha, lão căm thù tôi.
Chúng tôi còn bốn đứa ở lại nhà trọ.
Một đứa mồ côi bố mẹ, tiền trọ do người giám hộ gửi đến; một thằng bé lai đen quê ở Ăngtiơ[86] họa hoằn mới đi chơi phố; và một thằng bé người Nhật-bản không đi chơi phố bao giờ.
Mấy thằng ấy, chúng phải trả tiền trọ đắt: tôi thì được nhận vào nhà trọ với giá hạ, nhưng tôi có nhiệm vụ phải giật được giải thưởng. Tôi không được gì cả, mà tôi lại ăn khỏe.
Tôi đã viết thư gửi đi. Nếu ngày mai thầy mẹ tôi không đến, nếu tôi không có thư trả lời, tôi sẽ bỏ nhà trọ mà đi.
Lão Lơnhanha lần này vì tiết kiệm sẽ để mặc tôi chuồn mà không đi báo cảnh sát.
Ôi chao! những bức thư mong đợi! người đưa thư mà mình rình đón! những lời van xin của tôi mà thầy mẹ tôi sẽ chế giễu.
Tôi hầu như đã khóc trong thư, xin người ta đến đón tôi đi, vì lão Lơnhanha cứ rỉa rói tôi những lời trách móc muôn thuở.
“Nuôi tôi trong niên học đã là quá rồi, lão ta lại còn phải nuôi tôi cả trong vụ nghỉ hè nữa!”
Một hôm đã nổ ra một vụ to tiếng; thầy tôi là đối tượng. Lão Lơnhanha chạy tới, đầu tóc rối bù.
“Sao! lão ta nói với tôi, sùi cả bọt mép, tôi vừa được biết là thầy anh kiếm ra tiền, trong năm nay thầy anh làm được tám ngàn; tôi vừa được biết vỡ lẽ là tôi bị thầy anh lừa, tôi đã tính tiền trọ cho anh như cho một thằng khố rách, thế mà anh có thể trả như kẻ có máu mặt. Như thế là bất lương, anh nghe không?”
Lão ta giậm chân, xông lại tôi...
Ô! không, đứng lại! cẩn thận đấy, Lơnhanha!
Lão ta đoán được và bỏ đi, trút giận lên cánh cửa mà lão đập mạnh vào tường.
Lão đi rồi, tiếng lão chửi đã dứt, tôi suy nghĩ về những điều lão vừa nói, và tôi thấy lão ta có lý.
Ôi chao! Thầy tôi! Thầy có thể tránh cho con những điều sỉ nhục ấy!
Có đúng thầy không phải là một người nghèo không? Đúng. - Người đã nói cho lão Lơnhanha biết chính là em vợ lão ta ở Năngtơ tới hôm qua.
Sau chuyện ầm ĩ ấy, lão Lơnhanha tới gặp tôi ở trong sân. Lão nói:
“Nếu thầy anh lôi anh về sau khi lớp bế giảng thì tôi đã không nói gì cả, nhưng đến nay, đã tám ngày rồi mà người ta để anh ở đây chẳng tin tức gì hết; cái đó có vẻ như là giễu tôi, anh hiểu đấy!”
Tôi lúng búng không biết trả lời thế nào; tôi cũng nghĩ như lão ta.
“Thầy tôi sẽ trả tiền trọ tám ngày này.
- Thầy anh có thể trả lắm... Thầy anh năm nay kiếm được nhiều hơn tôi, và đúng là không cần phải đến xin tôi bớt ba trăm tiền trọ của anh.
Chỉ vì ba trăm phơrăng mà tôi đã phải khổ đến thế!
Chú thích:
[81] Trường võ bị Pháp.
[82] Matútxanh là một sử gia có tài tên thật là Sátxanh, sẽ có một vai trò quan trọng trong tập Cậu tú.
[83]Lậpra viện Câm-Điếc, dậy những người câm điếc nói với nhau bằng ký hiệu (thế kỷXVIII)
[84] Thi hào Pháp (thế kỷ XVII).
[85] Tiếng la-tinh: Fractis occurabam inglorius armis nghĩa là Đạo quân không vinh quang tan vỡ nằm đó.
[86] Đảo ở Trung Mỹ, thuộc địa Pháp.