Chú Bé

Lượt đọc: 1415 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- XXIII -
bà vanhtrax ( vingtra) tới paris

“Jắc!”

Mẹ tôi! Mẹ tôi bước tới và như cái máy, vò lấy đầu tôi, Thằng bé Nhật-bản cười, thằng bé lai đen ngáp, - lúc nào nó cũng ngáp.

Đầu tôi bị ôm nghiêng, làm mẹ tôi vất vả lắm mới tìm được một chỗ thích đáng để hôn tôi.

Người ta đưa mẹ con tôi vào một căn buồng, trong đó chỉ nhìn thấy lờ mờ vì lúc ấy trời đã tối, mà ngọn nến của người gác cổng đem đến thì chiếu sáng yếu ớt.

“Con chóng lớn quá! trông con khỏe ra!”

Đấy là câu nói đầu tiên của mẹ tôi, Mẹ tôi không để cho tôi kịp nói: mẹ tôi quay tôi đi, quay tôi lại, và xoay mình trên đôi chân nhỏ bé.

“Con hôn mẹ tử tế đi nào; nào, con đừng giận dỗi mẹ.”

Giọng nói khá thật lòng. Mẹ tôi vẫn nói to:

“Con có tư thế lắm! Mẹ đem đến cho con một bộ áo may theo kiểu Pháp; mẹ sẽ đưa con đi đóng ủng. Nhưng để xem nào: có ria mép rồi; con tôi để ria mép!”

Mẹ tôi không ghìm nổi nỗi vui sướng và niềm hãnh diện. Mẹ tôi giơ hai tay lên trời và sắp khuỵu đầu gối xuống.

“Hóa ra con giỏi trai lắm, con biết không?”

Mẹ tôi lại ngắm nghía tôi.

“Giống hệt mẹ nó!”

Điều đó tôi không tin. Đầu tôi như vạc bằng dao quắm, lưỡng quyền dô, hàm cũng dô, răng nhọn như răng chó. Tôi có chỗ giống chó. Tôi cũng giống cả con cù, nước da vàng như cây hoàng dương.

Còn mắt tôi, theo lời bà Ala, bà vẫn giặt giũ quần áo, có lần bà đã hỏi tôi xem người bà có mũm mĩm không tôi không thể giấu được tôi là người xứ Ôvécnhơ; mắt tôi giống như hai hòn than mới.

“Con lại có vẻ đứng đắn nữa, con biết không?”

Cũng có thể. Năm ấy là năm gay go nhất. Tôi đã bị sỉ nhục thật sự và chẳng có gì vui để bù lại.

Trong lòng tôi cũng có cả sự chán nản nữa. Tôi đã thất vọng sâu sắc về Pari.

Tôi thấy chân trời ngu xuẩn, cuộc sống tẻ lặng, tương lai xấu xí. Tôi đang ở trong đại đô thành Babylon! Nhưng thành Babylon chỉ là thế thôi!

Mọi người ở đó mới nhỏ bé làm sao! Tôi chỉ nghe thuần nói tiếng La-tinh!

Chủ nhật cũng như trong tuần, tôi bị lão Lơnhanha ấy tha hồ hành hạ, tuy lão bản tính nhu nhược, đố kỵ, hèn nhát, vì không thành đạt mà lão thêm cay nghiệt.

Nhất là mười ngày cuối cùng này đã đè nặng lên tôi như một cực hình.

“Sao mẹ không viết thư cho con?

- Mẹ cứ nhấp nhổm chực đi hết ngày này sang ngày khác, mẹ tôi nói.”

Để hà tiện một con tem.

Tôi kể cho mẹ tôi nghe những lời người ta quở mắng tôi vì nhà nghèo, những sỉ nhục mà tôi đã phải chịu đựng.

“Ông ta mà chê nhà mình nghèo à! Khi nào ông ta kiếm nổi số tiền thầy con kiếm được trong năm nay, ông ta muốn nói gì hãy nói...

 - Nhưng như thế, nếu thầy kiếm ra tiền, tại sao không trả tiền trọ của con như những đứa khác, khi con đã viết thư cho thầy mẹ biết là ông ấy chửi con, và con rất khổ?

 - Chửi, chửi? - Thế rồi sao? Có phải vì thế mà con sinh ra ốm đau không, hả con? Dù sao đi nữa thì nhà mình vẫn tiết kiệm được ba trăm phơrăng, và con sẽ rất hài lòng được có số tiền đó sau khi thầy mẹ chết. Có ba trăm phơrăng và hơn nữa, ở trong này này... Nhưng không phải ông Lơnhanha được số tiền này đâu!”.

Mẹ tôi cười và vỗ vào túi.

“Ở đời phải thế, con ạ; bây giờ con đã lớn, con phải biết chuyện đó. Con tưởng ông ấy nhận con vì đôi mắt đẹp của con và để bố thí cho nhà mình đấy hẳn? Không đâu, họ nhận con như một con bò cái mắn. Con không đẻ ra được bò con như họ muốn, con không được giải thưởng ở kỳ thi lớn của họ. Đúng ra họ phải biết kén chọn hơn; họ phải sờ nắn con cho kỹ trước khi con bắt đầu. Được, để mẹ, mẹ sẽ nói cho lão ta biết phận của lão con hãy đợi mẹ một chút!.”

Tôi rất khổ vì thấy mẹ tôi nổi giận lên như vậy. Con người mà tôi ngỡ là căm ghét ấy, bây giờ tôi lại thấy ái ngại!

Vừa báo cho tôi biết ý định là cho ông một trận nên thân, mẹ tôi vừa nói:

“Con gói ghém các thứ của con lại!”

Mẹ con tôi đã ra tới hành lang-người gác cổng cũng cómặt ở đó.

“Thưa bà, không ai được đem gì ra khỏi nhà này.

- Đồ đạc của con tôi! - Tôi không có quyền lấy quần áo của nó à? Bít tất của con tôi!... có phải cái lão Nha- nhanha của bác bảo thế không?

- Không phải. Đấy là chủ nhà mà ông Lơnhanha mắc nợ, đã dặn tôi như thế”

Lại còn ông chủ hiệu bánh mì cũng thúc giấy đòi nợ, rồi bác hàng thịt...

Con người thảm hại, phải, thảm hại! Hắn thô bạo với người nghèo, vì không phải hắn chỉ ngược đãi có mình tôi. Tất cả những đứa nào bị gia đình bỏ rơi hoặc trả giá hạ đều bị hắn phỉ nhổ, và có những đứa bé còn bị đánh đập nữa.

Hắn thật ngu dại - trong các nhà trọ, người ta nói về hắn như một điển hình. Người ta dùng tên hắn trỏ một kẻ thô bỉ, ngu xuẩn, và hơi rầu rĩ.

Cách lập luận vừa rồi của mẹ tôi, lý lẽ về con bò cái đã cất cho tôi khỏi mọi băn khoăn, đã đập mạnh vào óc tôi.

Con bò cái… đúng thế! Họ nhận tôi không phải vì đôi mắt đẹp của tôi, dĩ nhiên rồi! “Không, mặc đấy con có thể yên tâm”, mẹ tôi lại nói, vì mẹ tôi đã đoán được ý nghĩ của tôi trong sự im lặng và trong con mắt tôi.

Dù sao tôi vẫn thấy ái ngại cho lão, gã khốn khổ ấy. Tôi xin được với mẹ tôi là đừng làm ầm lên, và chúng tôi được chủ nhà bằng lòng cho đem quần áo của tôi đi.

Chúng tôi rời khỏi nhà trọ không hiểu bằng cách gì. Chúng tôi đi xe ngựa thuê đến lấy các hòm xiểng mà mẹ tôi để lại ở buồng giấy bến xe ngựa chở khách.

Mẹ tôi lẩm bẩm chửi lão Lơnhanha; những tiếng cười gằn, những tiếng la; mẹ tôi chế giễu và xô đẩy ông ta bằng giọng nói, bằng cử chỉ, tựa hồ ông ta có mặt tại đó:

“Ông có im đi không! Chà! ông mà nói với tôi những câu như ông đã nói với nó! (quay sang tôi). Mày thật hèn mới chịu để người ta đối xử với mày như thế! Chà! Mày không phải là con trai của mẹ mày!”

Phải chăng tôi là đứa con nhặt được? Phải chăng tôi đã bị đòn oan mười ba năm trời? Hãy nói đi, người mà tới nay tôi vẫn gọi là giênitrix[87], mẹ tôi mà tôi là caraxôbôléx[88], hãy nói đi!

“Ta đi đâu bây giờ?”

Mẹ tôi hỏi tôi câu đó, khi hai mẹ con đã ngồi lèn chặt trênxe. Bác đánh xe đợi.

“Chẳng lẽ ta lại ngủ ở trên xe ngựa, phải không? Mày đã ởPari một năm rồi thế mà mày vẫn khôngbiết dẫn mẹmày đi đâu, mày không biết một chỗ trọ nào à?

Tôi biết trường Xoocbon? -Conđường Lợn lòi?Liệu người ta có cho mẹ tôi thuê giường ngủ ở quánNgười Hà-lan không?

“Thôi được, để tao dẫn mày đi! Chà con cái”

Mẹ tôi ẩy tôi về phía cửa xe.

“Gọi bác đánh xe đi.

- Bác đánh xe ơi!”

Bác đánh xe dừng lại và cúi người xuống.

“Bác có biết khách sạn Tiền-vàng-Pháp không?

- Đấy là ở Đijông cơ, bà khách quí ạ!

- Ở tất cả các thành phố, đâu cũng có một khách sạn lấy tên là Tiền-vàng-Pháp kia mà!

- Ở đây tôi không biết!”

Hất chiếc khăn choàng trên vai, một tay cầm túi du lịch, tay kia nắm lấy cửa xe, mẹ tôi nhảy xuống đất.

“Tôi không ngồi trên chiếc xe này thêm một phút nào nữa.

- Tùy các người thôi; đây không thích chở những hạng người chuế như thế! Trả tiền giờ đi, và hòm xiểng của các người đây”

Chúng tôi trả tiền, -và câu chuyện ở Oóclêăng, ởquảng trường cô Trinh nữ, ở Năngtơ và ở bến tầu lại tái diễn. Mẹ con tôi đứng trước những gói và những hộp đựng mũ cứ đổ xụp xuống. Mẹ tôi không thể vào một thành phố nào mà không làm cản trở giao thông!...

Mẹ tôi lấy cán ôđánh tôi.

“Mày phải nhúc nhích lên chứ!”

Tôi cố nhúc nhích cái gì còn có thể nhúc nhích dược, tôi phải giữ các hộp, trên người tôi chẳng còn mấy chỗ rảnh, tất cả đều mắc hết rồi, chỉ còn rỗi độc một ngón tay.

“Gọi chiếc xe khác đi”

Tôi ra hiệu cho một bác xà ích khác, nhưng thế thăng bằng có những quy luật ác nghiệt mà ta không nên vi phạm, và việc ra hiệu đó làm tôi lâm nguy! Quả núi hành lý đổ sập. - Mẹ tôi thét lên một tiếng! Xe cộ dừng lại cảnh sát chạy tới,- cứ thế mãi! thế mãi! Chuyên khoa lạ đời!

Mẹ con tôi sẽ ra sao nếu không cónhững người từ tâm đi qua đấy?

Họ không yêu cầu một điều gì có thể xúc phạm tới chính kiến hoặc tín ngưỡng của mẹ con tôi! Không, hoàn toàn không. Họ giúp đỡ mẹ con tôi bằng những lời khuyên mà không đòi lương tâm phải thỏa hiệp hoặc phải hèn nhát. Bọn thầy dòng Jêduýt ắt là không làm như thế.

Họ khuyên mẹ con tôi nên đi thẳng phía trước mặt, “đúng ở trước mặt, chỗ có cái bảng nhỏ”, và họ cho mẹ con tôi biết rằng những buồng cho thuê chính là dành cho những người không có buồng.

“Vậy mà mày không biết hả, Jắc! Mẹ tôi nói. Thơ La-tinh đã làm nó trở thành như thế này đây! hay có lẽ tại mày bị ai đánh. Mày không ngã lộn đầu xuống đấy chứ?

Không, con chỉ ngã bệt đít xuống thôi”

Mẹ con tôi có vẻ an tâm một chút.

Mẹ con tôi đã yên vị trong nhà trọ: một căn buồng và một phòng nhỏ.

Có những tiếng kêu thét trong buồng mẹ tôi...

“Jắc, Jắc!

- Con đây”

Tôi chỉ vừa kịp xỏ quần, nhưng tôi chật vật hết sức mới giữ được cho quần khỏi bị tụt.

Mẹ tôi nắm lấy đũng quần, và kéo tôi đi ngược lại gần chỗ mẹ tôi.

“Mày có phải là con tao không?”

Tôi bắt đầu thấy lo ngại thực sự. Mẹ tôi đã hỏi tôi như vậy một lần rồi.

Tôi thấy hai chiếc quần chẽn và hai chiếc áo mà tôi đã mặc suốt cả năm nay vứt bừa bãi trên bàn.

Mẹ tôi thình lình xoay người tôi lại, và nhìn tôi chầm chầm như thể mẹ tôi vẫn nghi là tôi đưa một người lạ nào lộn xòng vào thế chân tôi.

Cuối cùng gần như đã chắc chắn là tôi không nhầm lẫn, vả lại có tiếng nói của máu mủ mách bảo biết, mẹ tôi liền tuôn nỗi đau khổ của mình ra.

“Jắc, mẹ tôi nói, Jắc, đây có phải là quần, là áo, có phải là cái áo màu xanh hoa mua mà tao gửi cho mày không? Tao biết quần áo mà vào tay mày là bẩn ngay lập tức, tao biết, nhưng tao không thể nào tin được là mày lại tinh nghịch ăn cả màu đi thế này, hơn nữa quần áo tao gửi cho mày rộng hơn!Quần áo vốn may rộng rãi phòng lớn, may thoáng khí! Đằng này chẳng ra gì cả! chẳng ra gì cả!”

“Jắc, thầy mày với tao đã cùng may cho mày! Tao đã viết thư cho mày, mày biết rồi! - Người ta đã làm gì con tôi thế này?”

Đây là lần thứ ba mẹ tôi có vẻ lo lắng! Tôi tự nắn mình.

“Nhưng mày nói tại làm sao chứ, đồ ngu!”

Ôi chao không, mẹ tôi đã nhận ra đúng là tôi.

Tôi giải thích về chuyện quần áo.

Tôi đã mặc nát cả bộ quần áo vận khi mới đến. Còn quần áo mà người ta gửi cho tôi, do thầy tôi cắt, mẹ tôi khâu, thì rộng quá, có thể chứa được cả tôi và một người nữa. Nhưng tôi không quen biết ai cả.

Tôi vớ được thằng Raju to béo gấp đôi tôi, mà quần áo của nó thì lại quá chật.

Nó hỏi xem tôi có muốn đánh đổi không, vì trông dáng người tôi thật ngộ nghĩnh với quần áo rộng thùng thình. Nhiều người thấy tôi đi lại khó nhọc đâm lo! Còn thiếu điều gì người ta không nói?

Một hôm chúng tôi đồng ý với nhau ở phòng ngủ, nó đưa quần áo của nó cho tôi, tôi vận quần áo của nó, và tôi lại chơi chạy đuổi được.

Mẹ tôi lặng thinh. Tôi ủ rũ chờ đợi! cuối cùng mẹ tôi mới chịu nói.

“Ồ đây không phải là thứ dạ xấu!... Nhưng chắc cái thằng Raju ấy không biết gì cả, đáng lẽ mày phải đòi các thêm một cái gì đó, một chiếc gi-lê bằng nỉ, một chiếc quần cộc Ồ! giá phải tay tao! Phải, thứ dạ này tốt đây. Cóđiều là nhàmình không có mụn vá (mẹ tôi xem xét một cái nền vải kẻ sọc); như cái nền này, tao chỉ thấy có chiếc thảm ở trong buồng tao là giống thôi. Tao có thể lấy rèm cửa cũ để sửa lần lót này được”

Chết thật!

“Ăn vận thế này thì con gái đứa nào nó mê mày được. Như tao thì tao thích người đàn ông ăn vận hơi đỏm dáng một chút, - áo rơđanhgốt xanh lục, - quần kẻ ô… Ồ! Tao không muốn người ta làm đỏm quá quắt! Làm cho mọi người thích, chứ không lao vào thói hư tật xấu; mình ăn vận đẹp, không phải là để lăn lóc trong cuộc sống xa hoa, không! nhưng mày muốn nói gì thì nói, một chút khác người cũng không hại gì, và tao cũng chẳng giận mày nếu người ta ngoái lại để nhìn mày trong lúc khoác tay tao đi ở ngoài phố. Có ai quay lại để nhìn mày không? Chẳng có ma nào hết! Mày đi qua mà chẳng ai để ý. Mà ví bằng mày khiêm tốn!... (có chút ít mỉa mai và thất vọng trong giọng nói), nhưng đây là thứ dạ tốt, tao không nói đây không phải là thứ dạ tốt”.

“Mày đưa tao đi ăn cơm tối ở đâu đấy?”

Mẹ tôi vừa nói vậy, gần như cô Hécmini nói với Rađigông, vừa vuốt ve tôi.

Cái vẻ hồn nhiên đó là tôi thấy thích và cảm động, và tôi nói ngay với mẹ tôi là nên đến quán Tavécniê, ăn cơm bữa ba hào hai xu.

“Mẹ muốn tới hiệu Anh-Em-Prôvăngxơ hoặc hiệu Vêfua một lần, - một lần, cũng chả chết ai; vả lại thầy mày năm nay làm ăn khám khá thế cơ mà!”

Tôi vất vả lắm mới tránh được hiệu Vêfua. Mẹ tôi sẵn sàng không dè sẻn; nếu cần đến mười phơrăng cũng bỏ ra! “Chà! mặc xác! ăn chơi một cái!”

Mười phơrăng, chậc! - tôi mường tượng thấy đơntính tiền lên tới một lui[89], mẹ tôi sẽ gọi họ làbọn ăn cắp. “Tôi biết giá thịt chứ! Các người đừng dậy tôi thế nào là quả bù dục. Những hai mươi xu một miếng phó-mát!”

Tôi nói dối một chút, tôi nói là có bạn đã ăn ở đó, và họ đã thề với tôi là sườn lợn rán ở đấy bán những bamươi xu.

“Người ta giễu mày đấy, con ạ! Chà! ở cái đất Pari nhà mày mà mày chẳng lanh lợi hơn chút nào! Mày đừng hòng làm tao tin rằng người ta bán những ba hào một chiếc sườn rán. Với ba hào ở quê mình có thể mua được một con lợn con rồi!

- Ở đấy ăn không ngon như người ta tưởng đâu (tôirụt rè đưa ra câu đó cầu may).

- Nếu ăn tồi, tao sẽ vò đầu họ cho bõ mười phơrăng, mày cứ yên trí!”

Tôi không yên trí, và tôi lại nói:

“Ta cứ thử đến hiệu Tavécniê trước đã, mẹ cứ tin ở con”

Mẹ con tôi đến hiệu Tavécniê.

Mẹ tôi vừa vào đã nói:

“Ở đây đẹp quá chắc ăn không ngon, tất cả những cái này chỉ là để lòe khách thôi, mày thấy không?”

Mẹ tôi nói to tướng, như ở nhà mình, và tôi hết sứcxấu hổ khi thấy bà bán hàng ngồi ở quầy tráng miệng nghe thấy. Để tìm ra một chỗ ngồi mẹ con tôi đã đi vòng quanh phòng ăn ba lượt.

Người ta bắt đầu xì xào là chúng tôi đi qua lại nhiều quá! Cuối cùng mẹ tôi có vẻ đã quyết định.

“Mẹ con mình ngồi đây tốt - không, ở phía bên kia... - Mày tới xem có thể ngồi ở chỗ gần cửa sổ, trong cùng được không?”

Tôi đi ngang qua buồng ăn, đỏ dừ cả hai tai.

Chúng tôi làm cản trở sự đi lại của đám bồi đang bưng các món ăn đến cho khách. Hai ba lần tôi đã chặn hẳn lại không cho một con cá bơn và một quả trứng tráng đi qua. Người bồi tạt sang trái, tôi cũng vậy! - Sang phải, nán lại vẫn thấy tôi. Hắn đi thẳng - đứng lại!

Người ta đánh cuộc với nhau ở phía trong cùng.

- Qua được, không qua được!

Mẹ tôi nói: Con trai tôi đấy!

“Thưa bà, chúng tôi xin có lời mừng bà!”

Tôi tới được chỗ mẹ tôi; người bồi đã chui tọt qua dưới nách tôi, giữa tiếng hoan hô của khán giả. Những người bị thua cuộc vì tôi, vừa trả tiền thua cuộc, vừa đưa mắt giận dữ lườm tôi.

Chúng tôi những hai người thì mạnh hơn, mẹ tôi không muốn rời tôi nữa.

“Mẹ con ta cứ ở liền bên nhau, - mẹ tôi nói!”

Mẹ con tôi tới một địa điểm chiến lược trông có vẻ chắc chắn nhất rồi mở cuộc hội đàm.

Người ta nhìn chúng tôi tợn.

“Mày đói à? tội nghiệp con tôi!”

Tại sao mẹ tôi lại nói tội nghiệp con tôi trước đông người như thế?

Người ta tổ chức chòng ghẹo chúng tôi.

“Đi rửa cho thằng bé tội…

- An ủi thằng bé tội...

- Nhồi nhét cho thằng bé tội... nghiệp”[90]

Nhưng người ta đã đi báo cho ông chủ hiệu ăn đang đóng rượu vang vào chai, ông ta bước tới với chiếc khăn run rẩy ở cánh tay run lên.

“Có phải là mẹ con bà tới đây để ăn không? Hở!”

Tôi táo tợn đáp “không”

Ông chủ hiệu ngạc nhiên. - Đám đông xì xào.

Tôi đã nói không, vì thấy ông ta có vẻ rất giận dữ.

“Không ăn? Vậy các người đến để làm gì?

- Thưa ông, tôi là bà Vanhtrax, tôi ở Năng-tơ đến. Còn nó, tên nó là Jắc!” Người ta hoan hô ầm lên trong hiệu ăn. -Hãy nghe! Hãy nghe! để diễn giả nói!

Tai tôi kêu ù ù. Tôi không còn nghe thấy gì nữa. Tôi chỉ phân biệt được mỗi tiếng ông chủ hiệu nói: Phải chấm dứt cái trò này đi!

Người ta giải quyết được mẹ con tôi: người ta dồn chúng tôi vào một góc.

Rốt cuộc tôi thú thật là chúng tôi đến để ăn.

Người ta vừa phục vụ chúng tôi, vừa giữ thế thủ.

“Tớ biết cái trò này lắm, một người bồi già nói; đây là bọn vờ vịt, họ giả vờ làm con lừa để được ăn cỏ, rồi lát nữa họ sẽ chuồn thẳng không trả tiền cho mà xem.”

“Mẹ thích ăn ở hiệu khác hơn, con thì sao? mẹ tôi hỏi.

- Con cũng vậy, ồ! vâng con cũng vậy. Con ghét cái bài hát: Rửa thằng bé tội... Đổ thằng bé tội[91]... Mẹ con mình đến hiệu Bétxay, cách đây có vài bước, mà chỉ mất hai hào hai.” Mẹ tôi đến hiệu Bétxay.

“Ông sẽ cho chúng tôi ăn gì đây, ông bồi?

- Mẹ, không ai gọi Ông bồi! - A! bây giờ mày lại sinh ra vô lễ đấy! Không nên kiêu kỳ với mọi người thế, con ạ, không ai biết được mình sẽ ra sao đâu!” Người bồi không đáp lại câu hỏi lễ phép của mẹ tôi, anh ta đang bận với một ông khách, anh nói với ông ta:

“Thế chúng ta có một đầu bê, phải không ạ?”

Ông khách gật đầu, ông không chối, đúng là ông có cái đầu bê.

Người bồi quay lại chỗ chúng tôi.

“Thế nào? Ông mách cho mẹ con tôi ăn gì nào? Mẹ tôi nói.

-    Bà nên dùng món cá nhồi mỡ.

- Tôi không tới Pari để ăn những món ở nhà tôi cũng có thể ăn được, - không. - Thế như ông, thì ông ăn gì? Nói cho chúng tôi biết.” Mẹ tôi đinh ninh là người bồi sẽ nói với mình như vớimột người bạn. “Kìa, xem nào, có món gì ngon? Ông quê ở đâu thế?.”

Người bồi đề nghị một món, mẹ tôi có vẻ ưng, nhưng không, không, mẹ tôi nghĩ lại...

“Jắc, gọi ông ta lại!

- Bồi!” Tôi gọi một tiếng rụt rè, như người ta gõ cửa nhà người chữa răng. Tôi mong là anh ta không nghe thấy.

“Mày không trông thấy là ông ấy vẫn cứ đi à; chạy theo đi, chạy đi kìa!”

Tôi đuổi kịp người bồi, đang giơ một chân lên trời, đầu ngược xuống dưới, hét oang oang xuống cầu thang:

“LÒNG CỦA TÔI ĐÂU?”

Anh ta đột ngột quay lại:

“Cái gì thế?

- Không lấy thịt quay.

- Thế thì lấy gì?”

Mẹ tôi, từ cuối buồng:

“Một sườn lợn ngon, đừng mỡ quá; nếu mỡ quá thì không lấy đâu; và đĩa phải thật nóng đấy, ông nhé!”

“Sườn lợn... xin mời!

- Tôi đã bảo ông: đừng mỡ mà!

- Cái này có mỡ đâu, thưa bà!

- Xem này, ông bạn ạ, nếu ông thật thà...”

Người bồi đã biến mất.

Mẹ tôi lấy đầu dĩa lật đi lật lại miếng sườn lợn; cuối cùng mẹ tôi đưa ra đề nghị như sau:

“Jắc, mày xuống bếp hỏi xem người ta có bằng lòng đổi cho không.

Mẹ!

- Có tiền mà không được ăn những thức mình thích! Cứnhư là mẹ con mình đi ăn xin không bằng!(giọng âu yếm): Vậy con muốn mẹ ăn những thức làm mẹ sinh bệnh à? Con xin họ đổi cho mẹ đi, đi, con.”

Tôi không còn biết chui vào đâu nữa; người tachỉ còn nhìn thấy tôi, chỉ còn nghe thấy mẹ con tôi; tôi tìm ra một cách thoát, và vẻ tinh nghịch và hờn dỗi (hình như tôi còn cắn cả ngón tay út nữa):

“Con thì con thích có mỡ kia!

- Vậy ra bây giờ con lại thích mỡ à? Mẹ đã chẳng nói với con, khi mẹ buộc lòng phải đánh con để bắt con ăn mỡ - là có ngày con sẽ hám ăn mỡ đấy ư? - Đây, con, ăn cho thích!” Tôi vẫn ghét ăn mỡ, nhưng tôi chỉ thấy có mỗi cách ấy để không phải đem trả lại món sườn lợn, và rồi có thể tôi sẽ gạt được chỗ mỡ ấy đi. Quả nhiên tôi tìm được cách nhét một miếng vào túi áo gi-lê và một miếng nữa vào túi quần sau.

Nhưng một buổi tối mẹ tôi gọi tôi ra một chỗ; mẹ tôi có chuyện nghiêm chỉnh cần nói với tôi:

“Tất cả mọi thứ đó chưa phải là việc chính, con ạ, bây giờ cần biết mẹ con mình phải làm gì. Thế là một tuần nay mẹ con mình đi xem hát tràn, ăn hiệu lu bù, mà vẫn chưa quyết định được gì cho tương lai của con.”

Mỗi lần mẹ tôi sắp sửa trịnh trọng, tôi lại toát mồ hôi lưng. Mẹ tôi đã làm một người mẹ hiền trong bảy ngày; đến ngày thứ tám mẹ tôi lưu ý tôi rằng mẹ tôi đã tiêu pha tốn kém quá, mà tôi thì cứ nhởn nhơ như không. “Rõ ràng là không phải mày kiếm ra tiền. Ăn hiệu chỉ mất có hai hào hai một suất, nhưng hai suất mất bốn hào tư, không kể tiền cho bồi. Mày muốn cho bồi những ba xu! Tao đã cho ba xu, được lắm, tuy chỉ cho hai xu thôi cũng đủ rồi; giá như tao, tao chẳng cho gì cả, không có chuyện đó!”

Mẹ tôi có lối nhấn mạnh vào những thú vui mà mẹ tôi cho tôi hưởng, nó làm mất thú đi một chút.

Khi mẹ con tôi đi xem ở Hoàng-Cung, chẳng hạn, trở về tôi phải cười liền trong hai ngày - để tỏ rõ rằng đấy không phải là tiền vứt đi. - Nếu tôi không ôm bụng cười ngặt nghẽo, mẹ tôi sẽ nói: - Tiêu bốn phơ-răng thật chẳng đáng!

Tôi ra sức cười! Hễ mẹ tôi quay đi, tôi lại nghỉ một chút, nhưng dù sao như vậy cũng mệt!

Mẹ tôi đã dẫn tôi đi xem Trường đua ngựa - lúc về hai mẹ con đi bộ. Mẹ tôi thích đi bộ, tôi thì không. Tôi có vẻ rầu rĩ.

“Cậu cả bây giờ làm mặt buồn! Mày chẳng làm mặt buồn cho lúc mày đóng vai công tử ở ghế hạng nhì và, ngồi nhìn các cô cưỡi ngựa.

Đóng vai công tử???

- Thế nào! rồi đây mày sẽ làm gì?

- Con không biết!

- Mày có ý định gì không?

- Không.

- Phải tiếp tục học cho xong.”

Tôi thấy không cần thiết.

Mẹ tôi đoán biết ý nghĩ thầm kín của tôi.

“Tao đánh cuộc, - phải, tao đánh cuộc! - là nó sẽ sẵn lòng để cho bao nhiêu hy sinh người ta chịu vì nó trở thành công cốc cả. Nó sẽ bằng lòng thôi học ngay đấy! Nó sẽ phá ngang!...”

Nào tôi thích thú gì cái đó, và nào cái đó giúp ích gì cho tôi!... (tôi có những suy nghĩ đó thì bao giờ cũng vẫn là ở trong thâm tâm tôi).

“Nhưng mày có trả lời tao không, - mẹ tôi kêu lên, - mày có trả lời tao không?

Mẹ muốn con trả lời cái gì mới được chứ?

Mày định làm gì! Mày có ý kiến gì, có cái gì ở trong đầu không? “

Tôi không đáp, nhưng tôi nghĩ thầm:

Phải, tôi có ý kiến và có cái gì đó ở trong đầu! Tôi có ý kiến là thời giờ để học tiếng La-tinh ấy, tiếng Hy-lạp ấy - những chuyện ba láp ấy! - là thời giờ vứt đi; trong đầu tôi có cái điều là tôi thấy mình đúng, ngay từ hồi còn bé, khi tôi muốn học lấy một nghề! Tôi sốt ruột muốn kiếm sống cho sớm và muốn tự túc!

Tôi đã ngán những nỗi đau khổ tôi phải chịu đựng và ngán cả những vui thú người ta cho tôi được hưởng. Thà tôi không được học hành mà không bị chửi mắng còn hơn. Tôi không muốn đi xem hát hôm thứ hai, để đến thứ ba người ta lại mắng tôi là đã đi xem hát; mẹ ạ, con cảm thấy con sẽ làm khổ mãi với mẹ, chừng nào mẹ có thể nói con làm tốn của mẹ mất một xu!...

Đó, những điều con nghĩ là thế đó, mẹ ạ.

Con còn có điều khác nữa cần nói với mẹ; - mặc dù không muốn, con vẫn nhớ tới ngày con bé nhỏ, con phải khổ vì những cơn giận dữ của mẹ. Đôi lúc trong người con khi qua những cơn thù oán, và mẹ có biết không, con chỉ được hả lòng, ngày nào con xa mẹ!...

Những ý nghĩ đó, tới một lúc, buột ra ngoài miệng tôi!

Mẹ tôi nghe thấy thì tái mặt đi.

“Vâng, con muốn vào một nhà máy, con muốn làm ở một xưởng thợ, con sẽ khuân hòm, lắp cửa, quét sân nhưng con sẽ học lấy một nghề. Con sẽ có năm phơrăng một ngày khi đã học được. Khi ấy con sẽ trả lại mẹ số tiền đi xem ở Hoàng-Cung, và ba xu cho bồi bàn...

- Mày định làm thầy mày phải tuyệt vọng đấy à, thằng khốn nạn!

- Xin mẹ đừng nói đến nỗi tuyệt vọng của thầy nữa! Điều con muốn, là không làm cái nghề của thầy con, nghề con chó thông thái! Con không muốn trở thành ngu như ông N..., ngu như ông D... Con ưng vận chiếc áo vét như chú Jôdếp, tới thứ bảy lĩnh lương, và ngày chủ nhật có quyền muốn đi đâu thi đi.”

“Và mày không muốn nhìn mặt chúng tao nữa, mày nói thế phỏng?”

Mẹ tôi đã quên tất cả những nỗi giận khác chạm đến lòng kiêu hãnh của mẹ tôi, làm hỏng các kế hoạch, làm rối ren cuộc sống của mẹ tôi, để chỉ nhớ có mỗi một câu, là câu tôi kêu lên rằng tôi không yêu thầy mẹ tôi, tôi không muốn nhìn mặt thầy mẹ tôi nữa!

Vẻ buồn bã của mẹ tôi làm tôi hết sức xúc động; tôi cầm lấy tay mẹ tôi.

“Mẹ khóc à?”

Mẹ tôi không nén được một tiếng nấc, và mẹ tôi lả đầu vào hai bàn tay với một cử chỉ buồn bã làm sao, như tôi đã trông thấy trên các bức tranh ở nhà thờ...

Khi mẹ tôi ngảnh mặt lên, tôi không nhận ra mẹ tôi nữa: trên gương mặt người đàn bà nông thôn ấy, có tất cả chất thơ của đau khổ; mặt mẹ tôi trắng bệch như một bà quý phái, với những giọt lệ như hạt ngọc trong khóe mắt.

“Con xin lỗi mẹ!”

Mẹ tôi cầm lấy tay tôi. Tôi xin lỗi mẹ tôi một lần nữa.

“Mẹ không có gì để tha lỗi con cả... Mẹ chỉ xin con, con thấy không, từ rày đừng nói với mẹ những lời tàn tệ ấy nữa”

Mẹ tôi hạ thấp giọng và thì thào;

“ Nhất là nếu quả thật mẹ đáng trách, con ạ...

- Không, không, tôi nói qua nước mắt. Cũng có lẽ thế thật mẹ tôi nói. Tối nay mẹ muốn ở nhà một mình, con có thề đi chơi... Để mẹ yên. Để mẹ yên.”

Mẹ tôi bảo người ta đưa chìa khóa cho tôi - “để nó có thể đi chơi đến nửa đêm”, mẹ tôi nói với ông Môlay, chủ nhà.

Tôi đi theo con đường đầu tiên mở ra trước mặt tôi, tôi lạc vào trong một phố vắng, và suốt buổi tối tôi suy nghĩ về những lời lẽ cảm động nó vừa mới xóa đi bao nhiêu lời tàn tệ và cử chỉ độc ác...

“ Jắc? con có muốn tiếp tục đi học để cho thầy mẹ vui lòng không?

- Có, mẹ ạ.”

Từ hôm ấy, tôi toàn gọi mẹ bằng tiếng “mẹ” âu yếm cho tới khi mẹ tôi chết.

“Ôi chao! con làm mẹ vui lòng! Mẹ cảm ơn con! Con thấy không! Mẹ sẽ khổ biết mấy, nếu thấy con đã học hết các lớp rồi mà lại dừng lại trước khi tới đích. Chính vì nghĩ đến thầy con mà chuyện đó đã làm mẹ buồn phiền. Con sẽ làm thầy con vui lòng, con sẽ đỗ tủ tài, rồi sau đó... Sau đó con muốn làm gì thì tùy con... bởi vì con thấy khổ nếu phải làm theo ý muốn của thầy mẹ...”

Hôm sau, sau ngày mẹ tôi khóc, đã quyết định là từ nay sẽ không nói đến chuyện Trường sư phạm nữa, và tôi chỉ chuẩn bị thi tú tài thôi.

Tôi đã ưng thuận, sung sướng vì lời hứa đó và sự hy sinh đó đã lau được nước mắt của người đàn bà tội nghiệp!

Me tôi không nói với tôi như xưa nữa.

Mẹ tôi mới nghiêm trang làm sao, và rất sợ làm phật ý tôi!

“ Mẹ đã làm khổ con nhiều về những cái lố lăng của mẹ, phải không?”

Mẹ tôi cảm động nói thêm:

“ Bây giờ thì đến lượt con trách mẹ. Trước hết con sẽ được học bổng. Con đừng nói là không, mẹ muốn thế, nhất định thế. Và rồi mẹ là một bà già, lúc nào cùng ở bên mẹ chắc con phát chán. Mẹ rất có thể ở nhà chuyện trò với bà Môlây được. Bà ấy có thể thay con dẫn mẹ đi xem các cảnh đẹp được lắm. Mẹ muốn ít ra con cũng có những tối vui của con. Con hãy đi gặp bạn bè của con; con hãy đến chơi nhà Matútxanh.”

Tôi gặp lại Matútxanh trong một căn buồng ở xóm La-tinh, nơi anh ở với một người lớn hơn anh mười tuổi, một người Jacôbanh[92] và thường viết cho một tờ báo cộng hòa. Ông đang soạn một cuốn sử về thời kỳ Quốc ước[93].

Ông đọc cho Matútxanh viết.

Họ đang trò chuyện với nhau, vẻ nghiêm trang. Họ đón tiếp tôi vồn vã, nhưng rồi họ lại tiếp tục câu chuyện.

Những câu họ nói nghe như tiếng sắt thép:

“Một nhà bảo phải đồng thời là một chiến sĩ.” -”Phải có một thanh gươm ở bên ngòi bút” - “Sẵn sàng nhỏ máu vào nghiên mực” - “Có những giờ phút nghiêm trọng trong cuộc đời các dân tộc.”

Matútxanh và ông bạn nhà báo của anh, như chúng tôi gọi ông ta, cho tôi mượn những quyển sách mà tôi đem đi hôm thứ năm. Tới chủ nhật sau, tôi không còn là tôi nữa.

Tôi đã đi vào lịch sử cuộc Cách mạng.

Người ta vừa mở ra trước mặt tôi một quyển sách trong đó có nói về bần cùng và đói khát, trong đó tôi thấy diễu qua những bộ mặt làm tôi nhớ đến chú Jôdép hoặc chú Sađơna, những người thợ mộc với chiếc compa mở rộng ra làm vũ khí, và những nông dân cầm chĩa sắt có vấy máu ở đầu răng.

Có những phụ nữ đi tấn công Vécxay, vừa đi vừa hét lên là bà Vêtô[94] làm nhân dân đói; và ngọn giáo có xiên ổ bánh mì đen - một lá cờ - đâm thủng các trang sách và chọc vào mắt tôi.

Chính vì thấy rằng họ là những người bình thường như ông bà tôi, và có những bàn tay chằng chịt sẹo như các chú bác tôi; chính vì thấy những phụ nữ giống nhau như những người đàn bà nghèo khổ mà chúng ta cho một xu ở ngoài phố, và trông thấy cùng đi với họ có những đứa bé mà họ nắm cổ tay dắt đi; chính vì nghe thấy họ nói như tất cả mọi người, như bác Fabrơ, như mẹ Vanhxăng, như tôi; chính những cái đó đã tác động đến tôi, và làm tôi xao xuyến từ gan bàn chân tới đầu ngọn tóc.

Lần này thì không còn là tiếng La-tinh nữa. Họ nói: “Chúng tôi đói! Chúng tôi muốn tự do!”

Tôi đã ăn thử bánh mì quá cay đắng ở gia đình nhà tôi, tôi đã bị hành hạ quá nhiều ở nhà nên những tiếng kêu đó không thể không thể làm kinh động trái tim tôi.

Rồi trong tưởng tượng tôi xé toạc những bộ quần áo may quá xấu tôi vẫn phải mặc, và bao giờ cũng làm mọi người cười; tôi thay tất cả bằng bộ đồng phục của bọn áo xanh[95] tôi chui vào những bộ đồ rách rưới của những người ở Xămbrơ và Mơdơ.

Không còn bị mẹ, cha đánh đòn nữa, mà bị kẻ thù xử bắn, và chết như Bara[96]. Nhân dân muôn năm!

Chính những bà con đeo tạp-dề da, khoác áo thợ và mặc quần vá, là nhân dân trong những quyển sách người ta vừa cho tôi mượn và tôi chỉ yêu những người ấy thôi vì chỉ có những người nghèo đối xử tốt với tôi, hồi tôi còn bé.

Bây giờ tôi nhớ lại những lời mà tôi đã nghe thấy trong những tối thức khuya, những bài hát mà tôi đã nghe, thấy trên đồng ruộng, những tên Rôbexpie hoặc Buônapactơ ở những điệp khúc bằng tiếng địa phương; và một cụ già, già lắm với bộ tóc bạc phơ, sống một thân một mình ở đầu làng mà người ta gọi là ông cụ điên. Một đôi khi cự chụp lên mái đầu bạc một chiếc mũ trùm đầu đỏ, và nhìn đăm đăm vào đống tro tàn.

Tôi nhớ tới cái nhà ông mà người ta gọi là tên xăngquylốt[97], và là người không dung được bọn thầy tu. Ông ta đã bước ra khỏi nhà hôm bà vợ ông, trước khi chết, đã gọi đến đức Chúa lòng lành.

Tôi cũng nhớ tới những cử chỉ mà người ta đã làm trước mặt tôi, vừa vỗ vào báng súng, hoặc vừa chĩa nòng, với cái nhìn tức giận, về phía lâu đài.

Và tất cả máu huyết của đứa con một người mẹ nông dân, đứa cháu của những người thợ, chồm lên trong mạch máu một người thông thái có học thức mặc dù tôi không muốn là có học thức bất đắc dĩ!

Tôi ngứa ngáy muốn viết thư cho chú Jôdép và chú Sađơna... “Chú hãy tin rằng cháu không quên các chú, rằng cháu thích ở với các chú, ở bên cái cầy hoặc ở bên chuồng bò, hơn là ở nhà nói tiếng La-tinh. Nhưng nếu các chú đi đánh bọn quý tộc, các chú nhớ gọi cháu!”

“Ít lâu nay, con có vẻ phấn chấn thế”, mẹ tôi hỏi.

Đúng vậy - tôi đã nhảy từ một thế giới chết sang một thế giới sống. - Cuốn lịch sử mà tôi đang đọc ngấu nghiến, không phải là lịch sử thần thánh, vua chúa, - đây là lịch sử của Pie và của Jăng, của Matuyrin và Flôrimông, lịch sử của nước tôi, lịch sử của làng tôi; có nước mắt của người nghèo, máu của người nổi loạn, nỗi khổ của họ hàng thân thích tôi trong các tập biên niên sử đó, viết bằng một thứ mực còn chưa khô hẳn.

Tôi say sưa lợi dụng sự tự do mà mẹ tôi để cho tôi! Ngày nào tôi cũng tới phố Jacôp để thả lòng vào những quyển sách ở đấy, hoặc để nghe ông nhà báo nói về lá cờ cộng hòa đã phất trên các mặt cầu, và được các binh đoàn bảo vệ với tiếng thét: “Tổ quốc muôn năm! - Đả đảo các vua chúa!- Tự do hay là chết”

Được tự do? Tôi không biết nó là thế nào, nhưng tôi biết thế nào là làm nạn nhân, tôi biết, mặc dù tôi còn non trẻ.

Một đôi khi cùng với Matútxanh chúng tôi tưởng tượng là chúng tôi đang chiến đấu, và mỗi đứa mơ mộng theo kiểu của mình.

Anh ta thì muốn đội mũ của Xanh-Juxt khi ở quân đội, đeo ngù vai vàng và thắt lưng tam tài to bản.

Tôi thì tôi mơ thấy tôi đóng thượng sĩ, tôi nói: Tiến lên! Hỡi anh em! Mọi người đều cùng quê với nhau, cùng quây quần xung quanh một ngọn lửa trại đóng quân, và trò chuyện về vùng Loa-thượng.

Tôi mơ ngù vai bằng len, giải đeo gươm bằng dây nhỏ.

Tôi muốn ở trung đoàn vùng Môden. Với dân cày và thợ thuyền. Chú Jôdép sẽ là đại úy và chú Sađơna, trung úy.

Chúng tôi sẽ về làm nghề thợ mộc, hoặc gặt lúa “sau ngày thắng lợi”.

Chú thích:

[87]Tiếng la-tinh genitrix: mẹ.

[88]Nhắc lại một câu thơ của Viêcgin (thi hào thời La-mã cổ): Cara deum soboles… dòng dõi yêu quí của thần linh…

[89] 20 phơ răng.

[90] Trò chơi chữ không dịch được: “Va rincer le pau...” đọc âm còn có thể hiểu được là “đi rửa cái bô”... “bĩnh đầy cáibô.”

[91] Vider le pau… chơi âm chữ, đọc lên có thể hiểu là “đổ cái bô”.

[92] Đảng dân chủ từ hồi Cách mạng 1789. Nói chung trỏ những người hăng hái tán thành dân chủ.

[93] Quốc hội cách mạng cai trị nước Pháp từ 1792 đến 1795.

[94] Tức Mari-Ăngtoanét vợ vua Pháp Luy XVI bị Cách mạng 1789 lật đổ và xử tử.

[95] Những người cộng hòa trong cách mạng vận đồng phục xanh lam.

[96] Thiếu niên anh hùng Pháp, chiến đấu trong quân đội cách mạng chống bọn bảo hoàng và hy sinh anh dũng (1793)

[97] Nghĩa đen: không có quần cộc. Tên do bọn quý tộc gọi những người cách mạng Pháp hồi 1789 đã thay quần đùi bằng quần cộc, từ đó chữ ấy được cọi như đồng nghĩa với bình dân, cách mạng.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của jules vallès