Chú Bé

Lượt đọc: 1418 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- XXIV -
trở về

Chà! con đường về buồn làm sao!

Mẹ tôi thấy rõ nỗi khổ tâm của tôi và cố tìm cách an ủi tôi, cái đó làm tôi bực mình, và tôi cố sức dằn lòng xuống để khỏi nói sẵng với mẹ tôi. Tôi cáu kỉnh với bản thân tôi vì đã tỏ ra ủ rũ: vậy mà tôi không can đảm!

Không, tôi không can đảm; tên các nơi tầu đỗ mà người ta hô lên ở ga đâm vào ngực tôi như những nhát súng.

Bôgiăngxy (Beaugency)! Ămboadơ (Amboise)! Ăngxơnix (Ancenis)!

Người ta nhắc tôi tên một lâu đài, một di tích đổ nát; nhưng như thế là rất gần Năngtơ (Nante) rồi còn gì nữa!

“Cậu cả ạ, chỉ còn cách không quá năm dặm nữa.

- Ồ! Trời ơi!

- Tới nơi rồi.”

Phố xá trông mới vắng vẻ làm sao! Trên bến xe nơi mẹ con tôi đứng, chỉ có hai ba người qua lại - không hơn. Tôi nhận ra một viên cựu thuyền trưởng ngồi trên chiếc ghế mà hồi xưa khi đi học tôi vẫn trông thấy ông ta vẫn ngồi, rồi một người da đen rách rưới dẫn con đi ăn xin.

Im ắng làm sao! tưởng đâu như ở giữa thôn quê vậy. Tôi ngước mắt nhìn về phía cửa sổ nhà tôi.

Thầy tôi đứng ở đó, gầy gò, vẻ mặt rầu rĩ, bất động.

Thầy tôi đã đẩy tôi ra, hồi tôi còn bé, khi người ta đẩy tôi vào tay để thầy tôi hôn.

Do đó, mỗi lần có giây phút long trọng của một cảnh ra đi hoặc gặp lại, hai bố con tôi đều đâm ra lúng túng!

Lần này, thầy tôi đưa ra cho tôi hôn một bộ mặt nhợt nhạt, một vầng trán bằng đá.

Tôi không dám hôn.

Mẹ tôi khẽ đẩy hai bố con tôi vào với nhau, tôi vươn cổ ra, thầy tôi cũng vươn cổ. Tóc tôi che lấp mắt thầy tôi, và râu thầy tôi đâm vào mặt tôi; hai bố con vừa có vẻ hằn học cả hai.

Mọi người trèo lên cầu thang không nói không rằng.

Thầy tôi đi sau; tưởng như đây là một cuộc hành hình ở Tháp Luân-đôn (Tour de Londres).

Giả thử người ta hành quyết ngay tức khắc còn hơn, - nhưng không, - thầy tôi cứ đủng đỉnh làm ra vẻ long trọng.

Đây là cái món La-tinh. - Đây là hồi ức về những người cha giết con trong Lịch sử: Catông (Caton), Bruytuyx (Brutus). Thầy tôi không nghĩ tới chuyện giết tôi, nhưng trong thâm tâm, tôi tin chắc rằng thầy tôi tự thấy mình hèn, thầy tôi muốn được con trai của mình, thằng Bruytiquyn (Bruticule), cám ơn mình: và, mỗi lần tôi có một cử chỉ hoặc lời nói hơi sỗ, thầy tôi liền cau mày, mím môi (cái đó chắc làm thầy tôi, con người đáng kính ấy, phải mệt lắm!) và thầy tôi có vẻ như nói: “Vậy mày quên mất rằng mày sống được là do lòng từ thiện và tao có thể cho mày một nhát rìu, đem mày nộp cho cảnh-lại à?”

Thầy tôi cứ giữ cái vẻ cổ đại ấy cho tới lúc bị ngứa ở mũi; hoặc tới lúc không thể giữ mãi cái vẻ đó được.

Cuối cùng thầy tôi mệt lử, vì cố muốn làm ra vẻ chua chát, và thỉnh thoảng thầy tôi buộc lòng phải cựa cậy cái hàm răng.

Chưa bao giờ thầy tôi lại có vẻ Bruytuyx (Brutus ) như hôm nay.

Thầy tôi hất cục tua của chiếc mũ trùm đầu Hy-lạp, tựa hồ trong đó có một sự yếu đuối gì, và ngồi trong ghế bành như thể đó là chiếc ghế ngà của các quan thời La-mã cổ.

“Mày là con trai tao, tao là bố mày.

- Ở đúng, ông Ăngtoan (Antoin) ạ, ông có thể tin chắc điều đó! Mẹ tôi có vẻ như nói vậy.

- Ở La-mã (Rome ) xưa kia có một đạo luật (có nghe tao nói không, con?) cho phép người cha, bị ô danh vì một đứa trong đám con của mình, có quyền giết chết đứa... đứa... đứa con... ấy.”

Thầy tôi lúng túng.

TRIẾT HỌC

“Mày sẽ học triết học tới ngày lễ phục sinh, và tới ngày lễ phục sinh mày sẽ thi tú tài.’’

Quyết định được đề ra là như thế.

Khi tôi lại xuất hiện trên sân trường, người ta hơi ngó nhìn tôi một chút. Mọi người xúm lại quanh tôi, và nhìn tôi chòng chọc. Một thằng ở Paris về... thử xét xem!...

Giáo sư là một thanh niên đã đỗ thứ nhất kỳ thi tốt nghiệp Trường sư phạm, lại đó nhất kỳ thi thạc sĩ, bao giờ cũng đến lớp sớm nhất, và tới phòng quản lý trước nhất để lĩnh lương, ông ở tầng nhất, trong một ngôi nhà ở cuối một phố ảm đạm. Đi xem hát, ông lấy vé hạng nhất, và tới ngồi ở hàng ghế thứ nhất.

Chính mẹ ông đã tạo ra cái trò kết hợp đó.

“Tao muốn mày ở đâu, ở đâu, cũng nhất.”

Ông giáo sư đó đối xử với tôi khá tốt. Ông định nhằm tôi để làm kẻ tiêu dao chủ nghĩa ở nhà ông, trong vườn của ông.

Xưa kia ông có nhiều người để sai kéo nước tưới vườn rau của ông: bây giờ không còn ai cả.

Ông nghĩ rằng tôi, con trai người bạn đồng sự của ông-vốn cũng ở Êlơdix (Éleusi) [98], - tôi có tư chất của một môn đệ và một thằng kéo nước.

Tôi không hiểu làm thế nào ông ta đã được bổ nhiệm vào chức vụ đó.

Tôi thấy những giáo sư tu-từ học của tôi ở Paris thật đáng chán, nhưng người ta đã cả quyết với tôi rằng trong số các giáo sư triết, có những người biết lý luận, biết suy nghĩ, có nhiều kiến thức.

Đến nỗi một lần, trong số đó, có một người đã tới bắt tay ông nhà báo, mặc dù nhà báo này là người cộng hòa.

Tôi rất trọng vọng những con người tìm kiếm đạo lý đó.

Nhưng ông này quả thật là khôi hài!

TRONG LỚP

“Anh Vanhtrax (Vingtras) có những bằng cứ gì chứng minh là có Thượng đế?”

Tôi gãi tai.

“Anh không biết à? “

Ông ta có vẻ ngạc nhiên, như muốn nói: “Ô kìa, anh là người ở Paris về kia mà!

- Ginextông (Gineston) , những bằng cứ là có thượng đế?

- Thưa thầy, tôi không biết, sách của tôi bị mất nhiều trang ạ.

- Beđigiô (Badigeot)?

- Thưa thầy, có cái côngxăngxuyx omniom.( consensus omnium)

- Nghĩa là thế nào?... (Giáo sư làm điều bộ như Xôcrát (Socrate) đỡ đẻ cho thiên tài của mình).

- Có nghĩa là...- Pitu (Pitou), nhắc tao với!

- Có nghĩa là (giáo sư nói tiếp, để giúp bệnh nhân của mình), tất cả mọi người đều đồng tình công nhận là có một thượng đế, phải không?

- Thưa thầy, vâng ạ.

- Các anh không cảm thấy rằng có một người ở bên trên chúng ta hay sao?”

Bađigiô chăm chú nhìn lên trần nhà!

Ban sáng. Rafoanh (Rafoin) đã ném lên trần nhà một thằng người bằng giấy, hiện vẫn còn lủng lẳng ở đầu sợi chỉ đính vào một viên bánh mỳ nhai nát.

“Thưa thầy có ạ, có một thằng người ở trên cao kia ạ.

Thằng người, thằng người (giáo sư nói, ông vốn cận thị nên không nhìn thấy cái gì lủng lẳng trên trần nhà), nhưng chính đấy cũng là Thượng đế của Kinh Thánh. Phép của Người thật kinh khủng!”

Tuy nhiên, tiếng ấy đã không làm giáo sư phật ý!

“Dù sao, tôi cũng thích cái lối xưng hô thân mật đó”, giáo sư nói, lúc tan lớp học. “Có một thằng người ở trên cao kia!... Tiếng kêu của một đứa trẻ để chỉ Thượng đế!”

Ông nói chuyện đó với các cấp trên.

“Thưa ông hiệu trưởng, ông thấy thế nào? Có phải là đứa trẻ con không biết gì, mà nói như ông cụ già đã biết cả mọi sự không? - Phải, có một thằng người ở trên cao kia!”

Tới buổi học sau, ông lại hỏi Bađigiô, và bắt đầu bằng cách nhắc lại chữ đó:

“Có một thằng người ở trên cao kia không?

- Thưa thầy, không ạ, hắn không còn đấy nữa.”

Thằng người ấy không còn dính được vào trần nhà và đã rớt xuống.

LINH HỒN CỦA TÔI

Giáo sư cho tôi biết về các năng tính của linh hồn.

Những đứa khác thì chưa được thế, ông cho riêng tôi biết thôi.

Chỉ tới sau ngày lễ Phục sinh, ở trường trung học này mới biết linh hồn được cấu tạo như thế nào.

Linh hồn có bảy năng tính.

“Anh cứ đếm trên ngón tay, như thế dễ hơn”, thầy giáo nói.

Ở Năng tơ người ta báo tin có một giáo sư Đại học trứ danh, ông Sanma (Chalmat) sắp về. Ông Sanma đã tới thành phố chúng tôi!

Ông đã quen thầy tôi ở Paris, vào hồi thi thạc sĩ.

Hai người đã ngồi cạnh nhau ăn bữa tối trong một quán ăn bán theo giá đồng loạt. Ông Sanma đi ra trước, để quên lại một bản thảo; thầy tôi nhặt lấy, trên đó có ghi địa chỉ, và thầy tôi đã đem cuốn bản thảo tới trả lại cho chủ nhân của nó đang tuyệt vọng.

“Lúc nào ông cần đến tôi, - nhà triết học nói, - tôi cũng sẵn sàng”.

Tình cờ, ông tới đây, bằng xương bằng thịt, và cũng tình cờ, có một buồng cho thuê trong nhà chúng tôi. Thành thử ông là hàng xóm của gia đình tôi.

Ông Sanma ở cùng một tầng gác với chúng tôi.

Ông ít ngủ, và ban đêm ông hay nói to. Tôi nghe thấy ông nói: “Cả thảy, có TÁM, TÁM! Phải cả thảy có TÁM!”

Ông muốn cho tôi một món quà.

Ông gọi thầy tôi và tôi ra một chỗ; ông nói rất cởi mở:

“Các bạn ạ, ông nói (ông cũng cho tôi vinh dự được gọi như thế), tôi muốn trả ơn các bạn về việc hồi xưa các bạn đã giúp đem trả lại cho tôi bản thảo, tôi không giàu, nhưng tôi sẽ tặng các bạn cái mà tôi có, kết quả của hai mươi năm suy nghĩ và làm việc!”

Thầy tôi có vẻ như muốn nói: “Không dám, ông cho nhiều quá.”

“Không, không! Các bạn hãy nghe tôi nói.”

Chúng tôi nín thở, tưởng chừng có thể nghe thấy cả tiếng ruồi bay.

“Người ta nói với các bạn là có bảy năng tính của linh hồn, có phải không? Không, Có tám năng tính!”

Vậy là người ta đã lừa tôi ư? Người ta đánh cắp của tôi mất một năng tính ư? Tại sao? Thế nghĩa là thế nào?!

“Phải, phải, như vậy đấy “, và ông Sanma chìa ra năm ngón của bàn tay phải, và ba ngón nữa gập lại nằm trong lòng bàn tay trái.

Ông hiền hậu nói thêm:

“Các bạn cứ sử dụng điều phát hiện đó, tôi cho phép các bạn; hiện nay chưa ai biết, chỉ hai tháng nữa thôi, điều đó sẽ được in trong sách của tôi.”[99]

Renơ (Rennes), thứ hai.

Sáng nay tôi tới đây. Ngày mai thi dịch. Thầy tôi muốn đi với tôi tới Renơ, nhưng buộc lòng phải ở lại với học sinh nội trú của mình.

Thứ ba.

Tôi được thứ nhì về dịch.

Tôi dịch còn nệ nguyên bản quá, không thì tôi đã nhất.

Chiều nay sát hạch.

Tôi ôn đi ôn lại, tưởng chừng như có thể chỉ ba miếng là nuốt ngấu nghiến cuốn sách giáo khoa.

“Anh Vanhtrax!”

Đến lượt tôi.

Rút thăm.

“Anh dịch cho tôi đoạn này, dịch cho tôi đoạn nọ.”

Tôi dịch như “cháo chẩy”.

“Người ta thấy rõ ràng, - ông khoa trưởng nói trước mặt mọi người, - không những anh đã được bồng bế trên đầu gối của một bậc đại khoa, mà hơn nữa anh còn đã tới uống ở những nguồn nước lớn, anh đã trải qua trường học đẹp đẽ của Paris, là trường của tất cả chúng ta. (Ông nghĩ lại). À! không, không phải tất cả; đây còn có ông bạn đồng sự của chúng ta, ông Giăngđren (Gendrel).

Ông Giăngđren (Gendrel) là giáo sư triết học. Ông là cử nhân tỉnh lẻ, tiến sĩ văn chương tỉnh lẻ; ông đã không uống ở những nguồn nước mạnh như các ông kia, như tôi, và ông vốn đạo đức giả theo lời người ta nói, nên hễ có dịp là ông khoa trưởng lại châm chọc ông ta. Lúc này ông mượn dịp nói với tôi để đả kích ông Giăngđren.

Sắc mặt ông Giăngđren vàng, vàng như nghệ, - với cặp kính như kính của ông Bécgunnha.

Tôi qua ông giáo sư toán trước khi tới ông ta.

Tôi không hiểu gì lắm về những điều người ta hỏi tôi, nhưng do chỗ người ta vừa công khai khen tôi, nên giáo sư cũng sẵn lòng rộng lượng.

“Quả lắc bổ chỉnh là thế nào?

- Ấy là một Quả lắc, nó... bổ chỉnh.

- Khá lắm, giỏi!”

Và nghiêng mình ghé vào tai ông khoa trưởng;

“Anh ta thông minh lắm!”

Rồi quay về phía tôi:

“Còn máy bài khí, công dụng của nó ra sao?

- Máy bài khí?...

- Ô! tôi không đòi hỏi anh phải đi vào chi tiết. Máy ấy dùng để hút không khí tạo ra chân không, phải không? Và, nếu người ta bỏ chim vào trong đó, thì chim chết. Tốt, tốt lắm!”

Ông lại hỏi:

“Về hình học, anh hãy nói về tiết diện của hình nón”

Được, nhưng tôi cần có một chiếc mũ, mới có thể chứng minh tốt được, như với những miếng thạch cao của ông cụ già người Ý, và tôi bắt đầu làm chứng minh một cách rất tự nhiên.

Tôi vớ lấy một chiếc mũ ngẫu nhiên thấy ở đấy, rút trong đó ra một chiếc mù-soa cũ, tôi cắt khối hình nón.

Mọi người trong buồng thi đều cười ồ vì chiếc mũ nhờn quá mà chiếc mù-soa thì bẩn quá; các vị giám khảo nhìn tôi với một nụ cười vui vẻ.

Giáo sư toán, rõ ràng là muốn lấy lòng khoa trưởng (ông sắp lấy con gái ông khoa trưởng), lại nói với tôi:

“ Anh ạ, người ta thấy rõ anh ưa Viếcgin[100] hơn Pytago[101], nhưng cũng như khoa trưởng lúc nãy đã nói rất hay, anh đã uống ở những nguồn nước lớn của sông Xêkana[102] nên ngay cả Pytago cũng được nhờ.”

Tiếng xì xào thán phục.

Lại một cú nữa đá ông Giăngđren!

Bây giờ, đến lúc tôi phải gặp chính ông này.

Ông nhìn tôi chằm chằm: cặp kính của ông lóe lửa như những đồng bạc mới tinh.

Ông thấy buồn xỉ mũi.

Ông tìm mù-soa, chính chiếc mù-soa mà lúc nãy tôi đã rút ra, rồi lại nhét vào chiếc mũ nhờn ấy.

Chính là mũ của ông Giăngđren.

Nguy to rồi!

Ông căm tôi vì những lời bóng gió mà ông khoa trưởng đã mượn tôi để đả kích ông; ông căm tôi vì chiếc mũ và chiếc mù-soa.

Ông không để cho tôi kịp hoàn hồn.

“Anh hãy nói về các năng tính của linh hồn.”

(Giọng kiên quyết): “Linh hồn có mấy năng tính?”

Ông có vẻ như quan dự thẩm muốn làm một kẻ sát nhân phải thú tội, hoặc như một kỵ sĩ lao vào trận với ức ngựa của mình.

“Tôi đã hỏi anh là linh hồn có mấy năng tính?”

Tôi hoảng hốt: “Có Tám”

Sửng sốt trong thính giả, xôn xao ở hàng ghế giám khảo!

Thái độ chung có một sự xoay chuyển ngược hẳn lại, như một đôi khi vẫn xảy ra như thế trong các đám đông, và người ta nghe thấy: Tám, tám, tám.

Phì-t-á-m!...

Tôi đợi ý kiến của ông Giăngđren. Ông nhìn thẳng vào mặt tôi.

“Anh nói linh hồn có tám năng tính ư? Anh không làm vinh dự gì cho cái học vấn cao cả mà lúc nãy ông khoa trưởng đã hết lời ngợi khen anh tới uổng ở đó. Tại trường trung học ở Paris mà anh đã theo học, có lẽ linh hồn có tám năng tính thật. Chúng tôi ở tỉnh lẻ thì chỉ có bảy thôi.”

Các vị giảm khảo tuy ghét ông ta, cũng không thể công khai thừa nhận lý thuyết tám năng tính của tôi, và tôi sẽ phải mang lụy vì trong một kỳ thi đã ném ra một ý kiến thật thà cần đến nhiều cuốn sách và nhiều người danh tiếng mới làm cho người ta thừa nhận được.

Ông khoa trưởng trở lại và tuyên bố cụt ngủn: “Anh Vanhtrax bị lưu lại để thi ở một khóa khác.”

Đám đông ra về phân vân không biết tôi là ai, tôi muốn gì, và người ta sẽ đi đến đâu nếu cứ đùa bỡn với linh hồn như vậy; tôi đã lật nhào những cơ sở làm nền tảng cho ý thức con người.

Tôi thì chẳng quan tâm đến chuyện đó! Lỗi là ở ông Sanma đã bảo tôi là có những tám năng tính của linh hồn. Tôi không phải là công cụ trong tay một môn phái hoặc một phe đảng nào.

Tôi đã nói cái điều mà ông ta đã nói với tôi!

Như vậy là linh hồn chỉ có bảy năng tính: tôi mất đi một,-cái đó tôi cóc cần,-nhưng tôi sẽ bắt buộc phải thi lại ở trường Đại học Renơ, - và chuyện này thì tôi không thể cóc cần được. Tôi rất buồn...

Thầy tôi đón tiếp tôi, môi mím chặt, trán nhăn, mắt sâu hoắm.

Là vì thầy tôi không chỉ bị tổn thương ở con người tôi! Thầy tôi còn bị tổn thương ở lòng kiêu hãnh của bản thân thầy tôi nữa!

Một học sinh vốn ghét thầy tôi, đã ngoáy thêm mũi dao găm trong vết thương.

Ngay buổi tối hôm mọi người biết tin tôi trượt người ta đọc thấy trên cửa nhà tôi:

PHIẾU ĐEN

QUÁN NHỮNG KẺ THI TRƯỢT

THI THẠC SĨ VÀ THI TÚ TÀI

(NGƯỜI TA VẪN MANG PHÂN-TỪ ĐI KHẮP THÀNH PHỐ)

Người ta vẫn mang phân-từ đi khắp thành phố! nghĩa là người ta vẫn cứ đi dậy phụ đạo và đòi hai mươi nhăm phơrăng một tháng, cứ như người ta đã thi đỗ ngay lập tức, cứ như là người ta đã đỗ thạc sĩ ngay từ khóa đầu, và cứ như đứa con trai nhà thi đỗ dễ như trở bàn tay!...

“Jắc, mày không nên ngồi ăn cùng bàn với chúng tao thì hơn.”

Mẹ tôi tội nghiệp như người chết rồi. Ngày nào mẹ tôi cũng chứng kiến những cảnh đau đớn.

Thầy tôi nhiếc móc tôi về miếng bánh mì tôi ăn.

Mẹ tôi đem thức ăn vào buồng cho tôi, như đem cho một người đi trốn.

“Ôi chao! con không muốn sống thế này nữa! Con muốn trở lại Paris.

- Với quần áo như thế kia ư?” Mẹ tôi vừa nói, vừa nhìn bộ đồ tã của tôi.

Vậy là bao giờ tôi cũng bị chết dụi vì quần áo!

Chà! dù sao tôi cũng cứ đi!

Thầy tôi phong phanh biết chuyện.

“Nếu nó đi, bà bảo nó là tôi sẽ nhờ cảnh sát bắt nó lại.”

Lão Lơnhanha cũng đã lấy cảnh sát ra dọa tôi...

Thầy, thầy muốn cho con trở thành kẻ tù tội sao?

Vậy là thầy tôi có quyền sai người bắt tôi, có quyền đối xử với tôi như một thằng ăn cắp, thầy tôi làm chủ con người tôi như làm chủ một con chó...

“Cho tới khi mày đến tuổi thành niên, con ạ!”

Thầy tôi đã giận dữ nói vậy, vừa đập tay lên một quyển sách gọi là Bộ luật; quyển sách cũ kỹ ấy, tôi lại thấy nó, một buổi tối, trong một xó nhà. Tôi đọc trộm, dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn chiếu vào buồng tôi.

“Có thể bị nhốt giam, theo lệnh của bố mẹ v.v...”

Cho bắt tôi? - Vì sao?

Vì tôi không muốn thầy tôi nói rằng tôi không kiếm được miếng mà ăn, - vì tôi không muốn thầy tôi đánh tôi cho hả dạ mà sức tôi thì có thể đánh gục thầy tôi được, - vì tôi muốn có một nghề, thầy tôi lấy làm nhục thấy rằng mình đã vật lộn đến thế mới có được chiếc áo giáo sư sạm màu mà nay có thằng con trai lại sẽ mặc quần áo thợ!

Có lẽ thầy tôi sẽ cho người ta xích tay tôi lại, và cho cảnh sát siết chặt nếu tôi chống cự. Và như thế, chỉ vì tôi đã không muốn trở thành giáo sư như thầy tôi.

Tôi hiểu. Là vì tôi đã chửi rủa cả cuộc đời của thầy tôi, khi tôi tuyên bố rằng tôi muốn quay về nghề của ông bà tôi! Nói rằng tôi muốn vào xưởng, tức là nói thầy tôi đã lầm khi rời bỏ chiếc cầy và chuồng ngựa.

Vậy thầy tôi sẽ cho giải tôi từ đồn cảnh sát này sang đồn khác; nếu không phải tối nay, thì ngày mai, hoặc một tháng nữa. Cho tới khi tôi hăm mốt tuổi, thầy tôi có thể làm như vậy được.

Người ta đã nghĩ đến việc nhờ tôi dậy phụ đạo.

Những thành tích của tôi ở trường Trung học đã làm cho tôi có một chút tiếng tăm; và rồi một vài người nào đó, có lẽ đoán được tấn bi kịch câm lặng đang diễn ra trong gia đình chúng tôi, muốn tỏ thân thiện với tôi.

Một trong số những người đó đã tới ngỏ ý với mẹ tôi; đấy là một bà muốn nhờ tôi dậy một ít La-tinh cho con trai bà. Mẹ tôi đáp:

“Thưa bà, tôi sẽ rất hài lòng nếu nó kiếm được một ít tiền, vì như vậy hai bố con sẽ đỡ xích mích với nhau! Cả hai đều tốt cả, mẹ tôi nói, nhưng cứ gây lộn với nhau luôn. - Có lẽ bà cần nói chuyện với ông Vanhtrax nhà tôi chẳng hạn, để nhà tôi mua cho thằng Jắc một chiếc quần, nếu bà không muốn (thoáng một nụ cười trên miệng) - nói vô phép bà - nó cởi truồng mà tới nhà bà. Tôi nói vậy với bà như một người đàn bà quê mùa; là vì tôi xuất thân từ tầng lớp dưới mà lên. -Tôi đã đi chăn bò đấy, bà ạ!

Tôi ngồi trong buồng, nghe thấy nói vậy. Tội nghiệp mẹ tôi!

Người tới tìm thầy phụ đạo bỏ đi, sợ bị một chiếc bình ném vào đầu, một chiếc chai nào đó lạc khỏi đường bay của nó, - nếu thầy tôi về, và bố con tôi cãi nhau. Vả lại bà ta tự cảm thấy không có đủ can đảm để thương thuyết về việc chiếc quần của tôi. Tóm lại, trong gia đình chúng tôi có người đã đi chăn súc vật, và bà ta tới tìm một ông giáo chứ không tìm một kẻ chăn cừu.

Mẹ tôi chờ thư trả lời. (Người ta hẹn sẽ viết thư cho mẹ tôi).

“Thế mà, tao cũng chỉ nói với bà ta điều cần nói, - mẹ tôi vừa nói, vừa khoanh tay; - ôi chao; bọn nhà giàu ấy, bọn nhà giàu ấy!...”

Chà! người đàn bà nông dân ấy!

Tuy vậy vì tôi được tiếng là giỏi về dịch văn, nên tôi vẫn tìm được một chỗ dậy tư, nhưng thầy tôi, cốt để làm nhục tôi, thậm chí đã không cho tôi mượn một chiếc quần mới trong tủ áo của thầy tôi. Quần áo của tôi đã tơi tả cả rồi.

Tôi bắt buộc cứ phải ngồi nghiêng.

Tôi đã run bắn cả người, vì một hôm, người ta nói:

“Ông hãy dậy học ở ngoài vườn vậy, ông Vanhtrax ạ, và ông cởi áo choàng ra. Trời nóng nực thế này! Người ông đầm đìa mồ hôi đấy!

- Ồ! không, trái lại xin cảm ơn.”

Tôi chảy mồ hôi ròng ròng.

“Cậu con bà. Cậu ấy có vẻ bẽn lẽn, hơi e dè, người ta nói với mẹ tôi, vì mẹ tôi tuy người ta không mời đến đã tới để hỏi xem người ta có được ưng ý về tôi không và để nói vun vào cho tôi.

- Bà đừng ỷ vào điều đó! và nếu bà có những cô con gái mắt đẹp, bà chớ để các có ấy qua lại nhiều quá khi có mặt nó. Nó đã có nhiều chuyện lôi thôi rồi đấy! Về cái môn ấy thì nó đúng là dân Paris, bà ạ! Ngay cả trước khi đi Paris, nó cũng đã (mẹ tôi lấy ngón tay làm sừng trên trán), vâng, vâng đúng như tôi nói với bà đấy!...”

Ngay hôm sau, người ta đuổi tôi.

Nhưng tôi đã được thuê dậy học cả tháng, nên người ta trả tiền tôi cả tháng. “Năm mươi phơrăng “.

Với số tiền đó, tôi đi may quần áo. Mẹ tôi can thiệp vào việc ấy.

“Mẹ sẽ đích thân may cho con, hai mẹ con mình sẽ đi mua dạ.

- Ồ! không, lại thế nữa, không!

- Con trai tôi nó không thương tôi nữa, tối hôm ấy mẹ tôi kể chuyện lại với bà hàng xóm được mẹ tôi tin cẩn. - Giả thử nó còn để tôi chọn dạ cho nó!.”

Tôi mua một bộ quần áo may sẵn.

Mẹ tôi lẻn đi theo tôi, và trong lúc tôi mặc cả, mẹ tôi xin gặp riêng ông chủ hiệu, và trình bày câu chuyện của tôi.

“Ông bán thứ hàng bền cho nó”, mẹ tôi lẩm bẩm, nước mắt vòng quanh!

Bây giờ ăn vận đã tươm tất, tôi mới giao thiệp rộng hơn một chút. Mẹ tôi yêu cầu tôi đi với mẹ tôi tới nhà những người quen biết.

Mẹ tôi hài lòng và hãnh diện làm sao!

Nhưng giữa chừng một câu chuyện, đột nhiên mẹ tôi nói:

“Trông mới nhăn nhúm làm sao chứ! Và người ta nhìn thấy rõ là chỉ lót có một nửa! Nếu con ngồi như thế này thì ít nhất cũng còn che đi được!” (và mẹ tôi kéo gi-lê của tôi cho ngay ngắn, vả nắn nót lại chiếc ca-vát).

Mẹ tôi buồn rầu, chặc lưỡi nói thêm:

“Con có thể khoe là đã chọn được thứ hàng dễ bắt bẩn đấy! Và nó cũng không buồn hỏi xin mụn để vá nữa!”

Thầy tôi cảm thấy là tôi có một niềm oán hận trong lòng, và một hôm thấy sắc mặt tôi nhợt nhạt, thầy tôi đâm lo sợ về nỗi tuyệt vọng của tôi:

- Con trai bà đã định uống thuốc độc tự tử đấy, thầy tôi bảo mẹ tôi.

Thầy tôi đến mức tin là có thật.

Người đàn bà tội nghiệp đứng chết lặng, lạnh giá.

Vả lại chính thầy tôi cũng đã mệt mỏi vì cuộc sống của hai cha con tôi dưới cùng một mái nhà. Căn nhà có vẻ như một căn nhà bị nguyền rủa.

Bà bảo nó viết cho tôi mấy chữ xem nó định làm gì.

Đấy là những lời cuối cùng mà thầy tôi nói với mẹ tôi, sau lần sợ tôi tự vẫn ấy.

Thật đau đớn phải lấy tờ giấy trắng to ấy đề viết cho cha mình. Phải dùng chữ “ông”.

Lần đầu tiên tôi gọi thầy tôi bằng ông.

Dưới ánh sáng cây nến mỡ bò tôi không nhìn được rõ.

“Mẹ ơi, cho con cây nến sáp vậy.

- Nến sáp cũng không sáng hơn đâu, nó chỉ sạch hơn một chút, nhưng không sáng bằng, và lại đắt hơn nhiều, con thấy không!”

Tôi viết cho thầy tôi! tôi xóa, và tôi xóa!

Trong lúc viết, tôi đâm ra xúc động, tôi sợ tỏ ra mình yếu đuối.

Tôi viết lại; thật là khó khăn, và đau đớn.

Chà! không được! và tôi lại xé...

Tôi sẽ chỉ viết hai dòng thôi, - không đến hai dòng,- bốn chữ thôi. Như thế tôi sẽ tránh không phải dùng chữ “ông”, và những điều tôi muốn nói vẫn đây đủ. Tôi viết đơn giản thế này:

CON MUỐN LÀM THỢ

“ Bố mày giận lắm đấy “, mẹ tôi, vừa đưa mẩu giấy cho thầy tôi xong, khẽ rỉ tai tôi.

Thầy tôi gặp tôi trong một hành lang.

- Mày bất chấp tao đấy hả?...

Thầy tôi giơ tay, và tôi tưởng là thầy tôi sắp nện tôi.

Hố sâu đã đào, - tai họa xảy ra đến nơi rồi.

Chú thích:

[98] Thành phố cổ ở La-mã có đền thờ nữ thần mùa màng Xêrex

[99] Sách đã in ra. Trong sách này, ông Sanma công khai thừa nhận linh hồn có “tám” năng tính, chứ không phải “bảy”. Phát minh đó đã làm dư luận rất xôn xao hồi ấy. (Chú thích của Valex)

[100] Thi hào thời La-mã cổ.

[101] Nhà toán học lớn thời Hy-lạp cổ.

[102] Tên la-tinh của sông Seine chảy qua Paris.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của jules vallès

Truyện bạn đang đọc dở dang