Thứ bảy sắp tới là ngày sinh nhật của thầy tôi.
Từ nửa tháng nay mẹ tôi nói với tôi có đến sáu mươi lần.
“Hôm ấy là sinh nhật của - thầy - mày.”
Mẹ tôi nhắc đi nhắc lại, giọng hơi cáu; có lẽ vì tôi không có vẻ động lòng mấy, hình như thế.
“Thầy mày tên là Ăngtoan.” (Antoine)
Điều đó tôi biết, nhưng tôi không thấy rùng mình: việc đó chẳng có gì là bí mật và xúc động kịch liệt của một sự phát hiện thần kỳ. Thầy tôi tên là Ăngtoan, có vậy thôi.
Chắc hẳn tôi là một đứa con hư.
Nếu tôi có hiếu, nếu tôi yêu thầy tôi, điều mẹ tôi nói có lẽ sẽ tác động đến tôi nhiều hơn. Tôi nặn óc, tôi đấm ngực, tôi sờ nắn mình và tự cào gãi; nhưng tôi thấy chẳng hề thay đổi chút nào, nhìn vào gương tôi vẫn nhận ra tôi, vẫn xấu xí và bẩn thỉu như thế. Vậy mà thứ bảy này là ngày sinh nhật của thầy tôi.
“Mày đã học thuộc lời chúc mừng thầy mày chưa?”
Tôi cũng đã hơi lớn để có thể học một lời chúc mừng - tôi không biết tôi sẽ đánh bạo bước vào phòng như thế nào, phải nói cái gì, nên cười hay nên khóc, có cần nhẩy tới rúc mũi vào râu thầy tôi mà cọ không, - mũi đã lau sạch rồi, hẳn thế! - và nếu tôi tựa đầu vào bộ râu đó một lát thì có phải là hiếu tử không, hay tốt hơn là nên buông ra ngay rồi đi giật lùi ra ngoài, với những biểu hiện của sự cảm động, miệng lẩm bẩm: “Một ngày đẹp làm sao!” Đến lúc ấy, tôi sẽ nhắc lại:
“Vâng, thưa thầy yêu quý...”
Nghĩ đến tôi đã run. Tôi sợ mình có vẻ ngốc nghếch quá... - Không, tôi sợ là sợ người ta đoán được tôi muốn không phải là ngày sinh nhật thầy tôi...
Ngày sinh nhật của thầy tôi!
Tôi càng lo lắng gấp bội, khi mẹ tôi báo cho biết là tôi sẽ phải tặng một lọ hoa.
Việc khó làm sao!
Nhưng mẹ tôi biết cách người ta phải biểu lộ cảm xúc và niềm vui mừng như thế nào khi được chúc tụng cha mình đã có tên là Ăngtoan!
Hai mẹ con diễn tập thử.
Thoạt tiên, tôi phí mất ba tờ giấy để làm lời chúc: tôi ra công lè lưỡi, uốn lưỡi, cong lưỡi, lúc viết các chữ hoa, tôi làm méo những chữ O, tôi tuôn đầy mực vào đuôi chữ G, và mỗi lần đến chữ “vui mừng” tôi lại đánh rớt mực. Tôi bị bạt tai liên tiếp. Ôi chao! Tôi phải trả giá quá đắt, cái ngày sinh nhật của thầy tôi ấy!
Cuối cùng, giữa những đường chỉ vàng phớt tím ngậm ở mở những con chim bồ câu, tôi đã có thể viết được vài câu siêu vẹo như những gã say rượu, vì hình dáng các chữ khác nhau quá, do tôi đã dừng lại ở từng âm một đểnắn nót cho đẹp!
Mẹ tôi đành chịu và quyết định là không thể khuynh gia bại sản vì tốn nhiều giấy quá được; tôi ký - lại rớt mực - lại một cái tát - Thế là xong!
Còn việc qui định nghi tiết nữa.
“Tờ giấy cầm thế này, lọ hoa cầm thế này, mày bước lên ...”
Tôi bước lên, và đánh vỡ hai chiếc bình giả làm lọ hoa; - thế là bốn cái tát, mỗi bình hai tát.
Đã đến lúc cái ngày tốt đẹp ấy tới: ban đêm tôi nằm mê thấy mình đi chân đất trên các mảnh bình vỡ, và người ta lấy những cuộn giấy chúc mừng đóng cọc vào đít tôi, làm tôi đau!
Việc mua lọ hoa đã gây nên một cảnh đại náo ở chợ. Mẹ tôi cầm lấy các lọ và ngửi như ngửi cá, thịt; mẹ tôi nhấc lên đặt xuống đến hàng trăm chiếc mà vẫn chưa quyết định, thế là các bác trồng hoa nổi cáu! - mẹ tôi đã làm lộn xộn chỗ bày hàng, lung tung sự sắp đặt, rối hết sự phân loại đến một nhà thực vật học cũng không còn biết đằng nào mà lần nữa!
Người ta chửi mẹ tôi, văng ra những lời tục tĩu - và chửi cả thằng con trai mẹ tôi - gọi nó là thằng mọi, thằng oắt cọn, chẳng kiêng sợ gì hết. Đã đến lúc phải bỏ chạy. Ra tới đầu bãi, mẹ tôi dừng lại, bảo tôi:
“Jắc, mày đến hỏi cái nhà ông béo xù - ngồi ở đầu dẫy ấy, mày biết đấy - xem có bán chậu phong lữ thảo mười một xu không.”
Tôi lại phải quay về chỗ cãi lộn ấy, tới chỗ ông béo nọ; chính ông ta đã gọi tôi là “thằng oắt con”.
Tôi sởn gai ốc. Nhưng dù sao tôi vẫn đến đó: tôi có vẻ như anh chàng đi tìm một chiếc đinh ghim dưới đất; tôi bước đi mặt cúi gằm xuống, hai đùi khép chặt, như chiếc lò-xo gỉ khó căng và tôi đưa ra mười một xu.
Cái nhà ông béo có vẻ thương hại, đưa cho tôi chậu phong lữ thảo mà chẳng chế nhạo gì. Những người khác cũng không ác gì, và tôi trở lại chỗ mẹ tôi với chậu hoa đó, biểu tượng cho nỗi vui mừng của mẹ con tôi:
Hãy nhận bông hoa này...
Mọc trong trái tim con.
Tối thứ sáu.
Tối thứ sáu, tổng diễn tập, trong bí mật và trong bóng tối.
Thầy tôi - Ăngtoan - coi như không biết chuyện gì xảy ra. Nhưng thầy tôi biết hết, thậm chi tối hôm qua thầy tôi còn làm đổ chậu phong lữ thảo giấu không kỹ, và tôi trông thấy thầy tôi lẳng lặng dựng nó lại và lén vuốt cho lá loăn xoăn như cũ.
Thầy tôi suýt nữa dẫm phải tờ chúc từ cứng đờ, có bôi cồn, và vết gẫy vẫn còn lại. Vậy mà tôi đã cất kỹ nó trong bàn ngủ.
Thầy tôi biết hết, nhưng vờ như không hay, ngây thơ như đứa trẻ và hiền lành như bậc già lão. Chuyện này phải là một sự bất ngời kia mà!
Buổi sáng cái ngày long trọng ấy, tôi đến; thầy tôi còn nằm ở giường.
“Sao! hôm ay sinh nhật tôi à?”
Rồi mỉm cười, đưa con mắt âu yếm về phía mẹ tôi:
“Già thế rồi đấy! Nào, để tôi hôn bà nào!”
Thầy tôi ôm hôn mẹ tôi, mà mẹ tôi thì cầm tay tôi như Cornèli dắt anh em Grắckơ[15], như Mari Ăngtoanét[16] dắt đứa con trai. Mẹ tôi buông tôi ra để ngã vào tay chồng.
Đến lượt tôi; tôi tưởng phải đọc lời chúc mừng trước và tặng chậu hoa rồi mọi người mới hôn nhau. Nhưng hình như phải hôn nhau trước mới đúng.
Tôi bước lên.
Tôi cầm chậu phong lữ thảo giá mười một xu và cuộn giấy làm tôi trèo lên bị vướng.
Thầy tôi đỡ tôi, nhưng tôi nặng quá; tôi leo một chân lên, - nhưng trượt. Thầy tôi cố giữ tôi lại, bắt buộc phải túm lấy đũng quần tôi, và tôi lủng lẳng trong không khí.
Trước mắt thầy tôi không phải là mặt tôi; bản thân tôi cũng không nhìn thấy mặt thầy tôi. Một tư thế thật kỳ quái!
Rồi tôi cảm thấy chậu phong lữ thảo tuột đi; nó tuột đi; nó tuột đi thật và bao nhiêu đất mủn rơi cả vào giường. Chiếc chăn hơi bị xô đi một chút.
Người ta đá đít tôi, đuổi tôi ra khỏi buồng, và tôi không được hưởng niềm vui trong sáng hôn thầy tôi và được thầy tôi hôn vào ngày sinh nhật của thầy; nhưng tôi cũng không phải đọc lời chúc mừng nữa. Dĩ nhiên như thế là xong, chấm dứt. Trên giường, vãi một ít phân.
Ngày sinh nhật của mẹ tôi không gây cho tôi những xúc động như thế: Câu chuyện dứt khoát hơn.
Từ bao năm nay, mẹ tôi đã tuyên bố rõ ràng là mẹ tôi không muốn gia đình phải tiêu pha tốn kém vì mình. Hai mươi xu là hai mươi xu. Với số tiền mua chậu hoa, mẹ tôi có thể mua xúc-xích. Lại còn tiền mua giấy viết lời chúc mừng nữa chứ! Tội gì tiêu pha vô ích như vậy? Anh sẽ nói: nào có là bao nhiêu. Nhưng ai không giữ việc chi tiêu trong nhà thì tha hồ nói vậy; chứ mẹ tôi giữ việc đó, phải lo bếp nước, lo việc nội trợ, mẹ tôi biết đó cũng là tiền. Cứ thêm bốn xu vào một phơrăng, thì ở đâu cũng thành hăm bốn xu cả.
Mặc dù tôi không nghĩ tới việc cãi lại mẹ tôi, quả là không một chút nào (tôi nghĩ tới việc khác, và đúng lúc ấy tôi đang đau bụng), mẹ tôi vẫn vừa nói vừa nhìn tôi, và mẹ tôi tỏ vẻ cương quyết, rất cương quyết.
Với lại cây cối mà không chăm bón thì chỉ có chết lụi.
Mẹ tôi có vẻ như nói: không thể lấy roi mà quát chúng được!
Giải trí lớn nhất mẹ tôi dành cho tôi là buổi lễ mi-xa nửa đêm, vì không mất tiền.
Lễ mi-xa nửa đêm!
Tuyết phủ trên các mái nhà và đỉnh tường.
Tuyết tan dưới chân người qua lại trong phố, và mọi người lội trong bùn.
Trên trời thì buồn bã, dưới đất thì bẩn thỉu!
Ở các cửa hàng thịt, người đông vô kể.
Người ta đặt dồi lợn để ăn đêm: và tối hôm nọ, bác bán thực phẩm của chúng tôi đã giết một con lợn nhằm việc đó.
Nổi nhất trong các kỷ niệm của tôi về đêm Nôen là mùi hăng nồng của những thức ăn muối.
Ở khắp mọi nơi, cả ở nhà thờ một cái đuôi lợn bé nhỏ quái quỷ lúc nào cũng hiện ra trước mắt tôi.
Sợi dây sáp ở đầu sào của người thắp nến, dải băng hồng dùng để đánh dấu trang sách cho đến chùm tóc của một ông trợ tế, loăn xoăn, trơ trọi và nhạt nhẽo, bên vành tai tím bầm, cả ngọn lửa nến, làn khói từ lỗ bình hương uốn éo bốc lên, hết thảy đều là ngần ấy cái đuôi lợn nhỏ mà tôi muốn giật, véo, hoặc gỡ ra; nó gọi cho tôi tưởng thấy mòng một con lợn nhỏ, béo hồng và ủn ỉn, làm tôi quên mất cả sự sống lại của Chúa, Chúa lòng lành, Cha, Con, Đức mẹ và đồng bọn.
Tôi hít vào mùi muối như ở bờ biển, và trong tưởng tượng, tôi nạo sáp vàng để giả làm vỏ bánh mì vụn hoặc làm tương cải!
Tôi rời mẹ tôi để đi với bà con hàng xóm sang hiệu thực phẩm ở bên cạch nhà tôi.
Những khách tới hàng bà bán thực phẩm này là những người không ngoan đạo.
Họ chén xúc-xích trên quầy hàng, vừa ăn vừa uống một chai vang trắng.
Tôi cũng được uống một ngụm, và rượu vang cay với mùi cửa hàng thịt làm tôi vui lên.
Chuyện trò của họ cũng mặn mà như mọi thức khác.
Tôi chẳng hiểu gì cả, nhưng tôi thấy họ nói xấu Trời và Nhà thờ, và dù vậy họ vẫn ăn uống ngon lành và vui vẻ.
“Cho thêm một khoanh xúc-xích, một chiếc bánh thánh nhồi tỏi! - Cứ rót nữa đi bà Pôtanh! - Chúng mình sẽ lại gặp nhau dưới hỏa ngục phải không? Đàn bà đẹp đều ở đấy cả. Bà có tin thánh Jôdép bị mọc sừng không?”
HIỆU MÓNG - NGỰA
Hiệu Móng-Ngựa...
Tôi tới đó với cô chị họ Hăngriét.(Henriette)
Chị đến đây để gặp Pie Ăngđrè (Pierre Andr), người làm yên ngựa ngoại ô.
Anh ta cũng quê ở Farâyron (Farreyrolles) như chị và chắc chị cần báo cho anh biết tin tức gia đình, nhưng tin tức riêng tư mà tôi không thể biết được vì thấy họ kéo nhau ra một chỗ để nói riêng với nhau, và chị tôi thì thầm vào tai anh ta.
Tôi thấy anh ta cúi xuống kia kìa, và má họ chạm vào nhau.
Lúc Hăngriét quay về, chị có vẻ tư lự và không nói gì cả.
Lại có con đường Eghi để dạo chơi, hai bên trồng toàn những cây bạch dương to. Nghe xa, tiếng bạch dương rì rào như suối chảy.
Trời đang thu; cây bạch dương rụng những chiếc lá vàng ối, cuống lá vẫn tươi và mặt lá mịn như vỏ lê.
Tôi lấy chân khua nghịch những đống lá ấy.
Xa nữa là những cây dẻ cao, với những hạt dẻ rụng.
Tôi nhặt hạt dẻ đầy các túi để làm tràng hạt; nhưng lúc xâu hạt dẻ tôi không hề nghĩ tới Chúa lòng lành!
Tôi tưởng tượng là tôi xiên những quả bồ dục những quả bồ dục xinh tươi ấy, mầu tím, bóng nhẫy, mà tôi đã thoáng trông thấy ở các hàng thịt.
Cái mà tôi thích là ánh nắng lọt qua cành cây và hình thành những mảng ánh sáng như những vệt vàng trên một tấm thảm; và những con chim, chân nhún nhẩy như có lò xo, đầu lúc nào cũng ngọ ngoạy; - và nhất là khi trời mát mẻ, cảnh im lặng này!
Chỉ còn nghe thấy tiếng chuông tu viện Xanh-Mari và tiếng nhạc ngựa của cỗ xe chạy trên con đường trắng xóa đằng xa...
“Cô Balăngđrô (Balandreau), nghe này, chỉ thấy có tiếng cháu thôi...”
Và tôi hét lên một tiếng, hoặc ném một hòn đá thật cao, nó như choán hết chân trời rồi rơi xuống.
Nghe như một đòn đánh vào ngực.
Thỉnh thoảng, trên ghế dài đằng cuối đường, một ông và một bà ngồi, nói chuyện thì thầm với nhau.
Cô Balăngđrô kéo tôi đi ra xa, nhưng tôi cứ ngoảnh lại.
Họ hôn nhau đấy!
CHỢ PƠLÔ (Le plot)
Các dì tôi tới đó ngày thứ bảy để bán phó-mát, gà và bơ.
Tôi tới chợ để gặp các dì tôi, và lần nào cũng cứ như một ngày hội.
Vì ở đó luôn luôn ầm ầm tiếng kêu, tiếng động, tiếng cười!
Có những cảnh ôm hôn nhau, và có những cuộc cãi lộn nhau.
Có những trận chửi rủa nhau làm mắt đỏ ngầu, má tím bầm, tay nắm lại, tóc bị đứt, trứng bị vỡ, quầy hàng đổ, áo rách toang phanh ngực các bà to béo, và làm người tôi tràn ngập một niềm vui trong trắng.
Tôi vẫy vùng trong cuộc sống quen thuộc, đậm đà, phong phú và lành mạnh.
Tôi căng mũi hít những mùi của thiên nhiên: thủy triều, chuồng bò, vườn quả, rừng cây...
Có những mùi hắc và những mùi dịu, bốc lên từ các thúng cá hoặc thúng quả, từ những đống táo hoặc đống hoa, từ tảng bơ hoặc hũ mật ong.
Và quần áo thì thật đúng là quần áo thôn quê!
Tà áo đàn ông vểnh lên như đuôi chim, nếp váy của phụ nữ cứng đờ tựa hồ có gọng đỡ bên trong.
Cổ áo sơ-mi như mảnh da che mắt ngựa, quần chẽn cao màu da bò, cúc to bằng cái đĩa, áo sơ-mi vải lông màu vàng như da lợn, giầy xù xì như thân cây...
Những cái ô to tướng, bằng vải bông màu huyết dụ, ba-toong dài núm như củ hành, những con gà giò đen chen chúc trong lồng, những con gà trống ngạo nghễ, giậm chân một cách ngông nghênh hùng hổ...
Đấy là con tàu của Nôê (Noé)[17] lộng gió, đổ hàng lên một ổ phân, rơm và lá.
Qua mõm những con sư tử xây, bể nước trong trẻo phun ra từng làn nước mát.
Một người, đầu cầy hương, sắc mặt buồn, không có vẻ nông dân, công nhân cũng không, mà như một người ăn mày mặc áo đẹp, hoặc một người tù mới được thả ra, bày một cái bồ trong có những con chó sói con còn sống.
Tù nhân! Hành khất!
Chắc chắn anh ta thuộc hạng người ấy.
Người ta không muốn thuê anh làm ở các ấp trại, vì trong đời anh đã có chuyện gì đó.
Anh là con một kẻ chết chém hoặc một tên tội đồ; hoặc chính anh đã có chuyện lôi thôi với cảnh sát.
Anh rình mò bên bìa rừng, trên bờ sông, trong núi.
Khi nào anh bắt được một con cáo, một con sói, - thỉnh thoảng anh làm bị thương một con chim ưng, - anh đem con vật hay ổ chim non cho mọi người xem lấy hai xu ở tỉnh, hoặc lấy một miếng mỡ ở các làng.
Tôi sợ anh mãi cho tới ngày chú Jôdép tôi cho anh mười xu và nói:
“Có khỏe không, Đêxốtxê?”
Và vừa bỏ đi chú tôi vừa nói: “Tội nghiệp thằng cha! Bữa có bữa không!”
TRÊN BÃI BRƠI
Tôi đã có nhiều xúc động ở bãi Brơi.
Người ta đã dựng rạp bằng vải, nom như một con quay to tướng lộn ngược, và lúc chạy một việc vặt, tôi trông thấy một người da đen to lớn ở đó.
Đấy là rạp xiếc Buto, vừa mới tới thành phố.
Họ có một con voi và một con lạc đà, một ban nhạc đội mũ sa-kô[18] và vận áo chùng đỏ, nẹp vàng và ngù vai trông như những miếng pa-tê.
Họ diễu quanh thành phố, đánh trống cái; nữ cưỡi ngựa mặc áo quần kiểu nữ kỵ-sĩ, và nam cưỡi ngựa bận theo kiểu các võ tướng.
Nông dân há hốc miệng nhìn; trẻ con lốc nhốc chạy theo sau.
Một nữ kỵ-sĩ đánh rơi chiếc roi ngựa.
Chúng tôi có đến mười đứa nhẩy vào nhặt, và đánh nhau để giành phần đưa chiếc roi trả cô ta. Cô nữ kỵ-sĩ cười; con mắt cô gặp mắt tôi; và tôi cảm thấy như khi người dì ở Boócđô ôm hôn tôi...
Tôi muốn gặp lại cô ta người đàn bà ấy!
Và cũng là xem lại con lạc đà và con voi.
Trên áp-phích người ta vẽ chúng quì gối, đứng hai chân nhảy múa, mở nút chai - với một thằng hề ăn vận lòe loẹt nhào lộn ở trên.
Tôi đã gặp lại tất cả; hơn nữa, thằng hề, lúc làm trò, nhẩy đại vào khách xem, đã húc đầu vào bụng tôi.
“Chính nó ngã lên người tao!
- Không đúng, ngã vào tao chứ!
- Chứng cớ là trên áo tao có phấn trắng đây!
- Nó có làm mày xầy da đâu nào - tao bị chảy máu ở má là chính nó húc phải đấy!”
Và thế là cãi nhau xem ai bị thằng hề xô ngã, bôi trắng, làm chảy máu!
Đến lượt cô kỵ-sĩ!
Cô ta ra kia rồi! - Tôi không còn nhìn thấy gì nữa! Tôi thấy hình như cô nhìn tôi...
Cô lao qua các vòng, miệng kêu: Hốp! Hốp!
Cô trùm đầu trong chiếc khăn hồng, cô uốn mình, cong lưng, lấy điệu: ngực cô núng nính trong coóc-xê, và tim tôi đánh nhịp dưới áo gi-lê.
“Mày làm sao thế, Jắc, mặt mày trắng bệch như thằng hề ấy!”
Tôi mê cô Paola! - Paola là tên cô cưỡi ngựa.
Tôi muốn xem lại cô lần nữa. Nhất định thế! Nhưng tôi không có một hào để mua vé hạng ba.
Dù sao tôi cũng sẽ tìm cách đi bằng được.
Tôi ăn vận đẹp, tôi lấy trộm trong tủ chiếc áo gi-lê ngày lễ, tôi đeo cổ tay áo giả của mẹ tôi rồi đi tới bãi Brơi, nói dối là đến chơi nhà thằng Grêlanh.
Trời đã tối. Tôi đi qua cái bãi tối mò tới lúc nhìn thấy những chiếc đèn xếp đỏ rực trong sương mù. Ban nhạc đã rút vào trong; buổi diễn đã bắt đầu. Tôi nghe tiếng roi ngựa quất vọng qua tấm vải căng làm tường.
Đúng cô ta đấy rồi!
Tôi không có một hào, chẳng có gì hết ngoài tình yêu của tôi!
Tôi đi vòng quanh rạp xiếc, dán mắt vào các kẽ hở, kiễng cân, tưởng đến gẫy cả móng; không có lấy một lỗ thủng nào cho con mắt ngụt lửa của tôi!
Ở chỗ này này...
Ở chỗ này vải rạp bị hụt, rách ở gần chỗ cắm cọc, và nếu xé rộng thêm ra chút nữa...
Tôi xé rộng thêm chỗ rách, đặt chân vào - tôi muốn nói là chui đầu vào - con đường dẫn tới chuồng ngựa.
Tôi nằm phệt bụng xuống đất, trong bùn, và trườn đi như thằng ăn cắp, như tên sát nhân, giữa đêm tối, trong một rạp xiếc có người!
Tới nơi rồi! Tôi bò dưới ván gỗ, và phải cọc, xây xát cả hai bàn tay; mũi tôi vập phải một tấm ván dầy, tê điếng; tôi cảm thấy như không còn mũi nữa, tôi sợ đánh rơi mất nó ở dọc đường; cái mẩu thịt tôi còn sờ thấy chẳng giống mũi tí nào; nhưng cố gắng chút nữa, thêm một vết thương nữa, là tôi có thể nhìn thấy cô ta sau khi bò qua sau lưng chị hầu gái béo xù này.
Tôi sắp trèo lên!... Tôi trèo, - tôi bị hẫng mất chỗ tựa... tôi vội bíu chặt lấy cái gì đó tôi túm được...
Một tiếng thét! ... lộn xộn!
Một người đàn bà khép chặt váy, kêu cứu!
Người ta tưởng rạp xiếc đổ!
Tôi đã bíu vào người chị hầu gái béo, vào chỗ nào tôi cũng không rõ; chị ta ngỡ là con khỉ hoặc cái vòi voi quờ phải mình.
Bản thân tôi cũng bị người ta túm, vớ đâu túm đấy, rồi quẳng tôi như một hòn phân vào chuồng ngưa; người ta tra hỏi tôi nhưng tôi không đáp!
Mọi người quấn lấy tôi. Cô ta cũng có mặt, ngay cạnh tôi. Cô ấy! Tôi nghe thấy tiếng cô ấy, nhưng không trông thấy vì mũi tôi sưng vù.
Tôi về nhà vừa kịp để thu xếp với bà Grêlanh tránh cho tôi khỏi bị đòn, - (ôi chao! Paola!) và tôi nói hết với bà, - nói hết, trừ mối tình bí mật của tôi! Chẳng là phạm danh giá của một phụ nữ! Tôi đổ tất cả tội lên con lạc đà, lưng nó vốn quen mang nặng, và lên con voi mà người ta đã nghi ngờ cái vòi.
Và đôi khi cố nhớ lại bãi Brơi (Breuil), bao giờ tôi cũng nhớ ngay đến Paola, và bắp thịt núng nính của chị hầu gái. Bãi Brơi thu gọn trong rạp xiếc ấy, dưới chiếc áo may-ô ấy và chiếc váy ấy...
Chú thích:
[17] Nhân vật hoang đường, theo kinh thánh Gia-tô giáo, được Chúa Trời báo cho biết nạn Hồng thủy, làm một chiếc thuyền lớn cho gia đình nên sống sót và trở thành cội rễ của loài người.
[18] Mũ lông, hình ống, cao, vốn là mũ lính Hungari thời xưa.