Livia ra khỏi cửa tòa nhà và ngồi vào xe taxi. Lúc đó là hơn một giờ rưỡi, xe cộ bắt đầu thưa dần; vào giờ này nhiều người thích ngồi ăn hơn. “Đường Egidio Folli,” cô nói với lái xe.
Qua gương, cô thấy người lái xe nhăn nhó, tỏ vẻ khinh rẻ thường thấy: bất kể bạn báo địa chỉ nào cho tài xế taxi thì ông ta cũng nghĩ đó là một địa điểm ngớ ngẩn. Sao lại có người cần đi đến đường Egidio Folli trong đời chứ? Hoặc đường Borgogna, có gì quan trọng không? Và có thể ông ta đúng.
Tài xế đi dọc đường Plinio, băng qua đường Eustachi, đại lộ Abruzzi, rẽ vào đường Noe và tới đường Pacini. Đến thời điểm này Livia cực kỳ ngưỡng mộ kỹ năng lái xe của Davide, tất nhiên là cô đã quá quen với điều đó: chiếc xe Giulietta có Davide và anh Lamberti ngồi trong đang đi phía trước, luôn nằm trong tầm mắt nhưng chưa bao giờ vượt trước mặt xe taxi hết. Theo dấu một chiếc xe bằng cách đi trước nó là một việc rất khó, đòi hỏi phải vô cùng khéo léo bởi đang lưu thông trong nội đô, luồng xe cộ rất phức tạp, và Davide đang biểu diễn như một tay lái nhà nghề.
Bất chấp hơi nóng và cảm giác căng thẳng lo lắng khiến cô hơi bối rối, Livia còn nhận thấy một điều nữa: xe taxi của cô đang bị bám theo. Phát hiện ra điều này không cần kỹ năng gì cả: cô đã để ý đến chiếc xe đó ngay lập tức trên đường Plinio bởi vì nó đã khởi hành cùng lúc với taxi của cô, và bởi vì nó là một chiếc xe hút mắt, một chiếc Mercedes 230, đúng màu cô thích, màu vàng đồng hơi ánh nâu xám, giống cà phê sữa. Cô lại nhìn thấy nó trên đường Noe, sau đó là ở quảng trường Pola và giờ trên con đường Pacini này nữa. Chiếc gương nhỏ mà cô cầm trong tay khi thỉnh thoảng tô lại son cho cô biết con Mercedes ấy đang nỗ lực theo dấu taxi của cô đến mức nào, và tài xế của nó có vẻ không quá quan tâm đến việc có thể bị phát hiện.
Những lời hướng dẫn mà Lamberti rỉ tai cô cũng đã tính đến chuyện đó: “Nếu cô nhận thấy mình đang bị bám theo thì hãy bảo tài xế taxi đỗ lại một quầy báo và mua một tờ báo.” Động thái đơn giản này sẽ cho Lamberti biết rằng có kẻ đang bám theo cô.
“Chú có thể dừng lại ở trạm bán báo tiếp theo được không?” Cô nói với tài xế, người mà giờ đây đã bớt dần vẻ nhăn nhó ban đầu, dừng xe trước quầy báo ở đường Teodosio. Livia ra khỏi xe và hài lòng khi thấy chiếc Mercedes dừng lại hơi quá một đoạn. Nhưng niềm vui cũng tắt ngấm sau đó, khi cô ý thức được rằng chiếc xe Giulietta nhanh chóng biến mất ở cuối đường Teodosio. Cô biết Lamberti và Davide vẫn đang bảo vệ mình, nhưng việc không còn nhìn thấy xe của họ khiến cô bất an. Cô mua một tờ tạp chí thời trang và ngay lập tức quay vào xe.
Đến đường Porpora, tài xế hỏi, “Số bao nhiêu đường Folli?”
“Cuối đường, quá trạm thu phí một chút.”
Tài xế lắc đầu. “Vậy thì cô sẽ phải trả vé chiều về của tôi.”
“Tất nhiên, ông đừng lo.” Không hề quay đầu ra sau để nhìn, chỉ dùng đúng chiếc gương nhỏ, cô vẫn có thể thấy chiếc Mercedes rõ mồn một, giờ nó đang bám sát ngay sau họ, sáng lóa trong nắng, màu đồng, thanh lịch và đầy mưu mô.
“Đường Folli đến đây là hết, chúng ta đang ra ngoại ô rồi,” tài xế nói. “Tôi phải đi đâu đây?” Có quá nhiều hành khách ngớ ngẩn khiến ông ta trở nên cục súc: họ thậm chí chẳng bao giờ biết mình muốn đi đến đâu.
“Đi thêm một đoạn nữa, có một tòa nhà lớn ở bên trái.” Con đường chạy dọc giữa các cánh đồng đầy hoa màu và suốt một đoạn dài không có bất kỳ ngôi nhà nào: cảm giác đúng là đang ở một vùng khỉ ho cò gáy.
“Chỗ đằng kia hả?” Tài xế hỏi, với vẻ như mình đang bị đày đọa.
Họ đã có thể nhìn thấy nó. Lamberti đã miêu tả con đường và chung cư Ulisse cho cô qua điện thoại, thuật lại những gì Davide đã miêu tả cho anh sau khi đạp xe tới đó.
“Đúng, chỗ đó đấy.” Cô liếc nhìn vào chiếc gương nhỏ, cô vẫn có thể nhìn thấy chiếc Mercedes sau lưng. Cô không còn sợ nữa, cô biết là Lamberti và Davide đang ở rất gần, gần hơn bao giờ hết. Cạnh tòa nhà màu xám nhạt mọc lên giữa các cánh đồng hoa màu, đơn độc, với chút kỳ vọng đất đai sẽ lên giá, có một nông trại cũ, cách đường chính hơn một trăm mét, ló ra khỏi một khu rừng nhỏ, và đó chính là nơi chiếc xe Giulietta đỗ lại, giữa rừng cây, ngoài trời, nhưng vẫn vô hình, đó là nơi bạn bè của cô đang đợi, họ cũng đang đứng ngoài trời giữa cái nóng cháy da thịt giờ này, mang theo một cái ống nhòm nhỏ khiêm tốn nhưng hữu dụng mà nhờ nó họ có thể quan sát trọn vẹn tòa nhà Ulisse, cả mười hai tầng của nó lẫn một chút không gian đồng quê xung quanh, xanh tốt và sáng rực rỡ, vậy nhưng trông vẫn thật khó chịu.
“Chỗ này à?” Tài xế hỏi khi dừng xe lại, dù chẳng còn gì nghi ngờ nữa: nó là tòa nhà duy nhất giữa các cánh đồng, một tòa tháp màu xám nhạt mười hai tầng, khổng lồ, trông như đến từ tương lai, sự biệt lập của nó dễ khiến người ta nhớ đến những ngôi đền Aztec thỉnh thoảng mọc lên giữa rừng hoang. Nó là một tòa nhà xây cho người ở, nhưng không có ai, hoặc hầu như chưa có ai sống trong đó cả, dù tất cả các căn hộ đều đã được bán hết: mọi người cần xoay vòng vốn nhanh và họ không muốn giấu tiền trong đệm như thời ông bà họ, vậy nên tòa nhà này được xây dựng xong, hoàn thiện, trang bị đầy đủ vật dụng. Bao quanh nó là một bãi đỗ xe bằng xi măng rộng, có các vạch kẻ trắng để chia chỗ đỗ xe, chỉ có điều không thấy một chiếc xe nào.
“Đúng, chính chỗ này,” Livia nói. Cô xuống xe và đưa cho ông ta một tờ năm nghìn lia, cô nhận tiền thối rồi đưa hết đống tiền xu cho ông ta, suốt lúc ấy cô nhìn xung quanh mà không hề ngoái đầu ra sau, nhưng chiếc xe Mercedes đã dừng lại từ xa, ngay khi qua chỗ rẽ. Một lối thận trọng quá đáng, thậm chí là quái gở.
Chung cư Ulisse không có người quản lý. Có một tấm bảng lớn có nút bấm, và sau mỗi ô vuông trong suốt có tên chủ nhà. Livia ấn nút có dòng chữ Publicity Photographic ở trên và gần như ngay lập tức nghe thấy tiếng điện thoại cổng đáp lại.
“Lên đi, tầng ba,” một giọng nói không chút cảm xúc vang lên, và tiếng rè rè dừng lại. Cửa kính click mở ra và vào khoảnh khắc ấy Livia Ussaro cảm thấy mình như một con cáo vừa sa chân vào bẫy.
Đến tầng ba, một thanh niên mặc áo khoác trắng mở cửa cho cô vào mà không nói một lời và chỉ vào một cánh cửa trong nhà, và cô thấy mình đứng trong một căn phòng vuông vức thường gặp trong rất nhiều căn hộ. Cánh cửa chớp trên hai ô cửa sổ được dính kín mít, hai ô cửa sổ cũng vậy, nhưng có điều hòa nên cũng không quá ngột ngạt. Nhưng không thể nói rằng căn hộ này được trang bị đầy đủ. Trong một góc phòng có ba cái đèn đứng, hiện đang tắt, sau ba cây đèn là một bức ảnh to chụp sóng biển xô cao vút, rất nghệ thuật, chắc là được dùng làm phông nền. Ở góc đối diện có một cái giá ba chân to với một thứ trông như bật lửa ở trên: Lamberti đã giải thích cho cô biết đó là một chiếc Minox. Trên một chiếc ghế, món đồ cuối cùng còn lại trong phòng, có vài cuốn tạp chí khổ nhỏ, và trên đống tạp chí là một bàn cờ vua, và trên bàn cờ là một hộp đựng quân cờ, một quân mã đen thòi ra khỏi hộp như đầu ngựa thòi ra khỏi chuồng trong chuồng ngựa.
Điều đầu tiên mà gã thanh niên mặc áo choàng trắng nói là, “Cô có thể cởi đồ trong phòng tắm, nếu muốn.”
Mặc dù Livia đang quan sát gã ta kĩ càng nhưng cô nhận ra rằng mình sẽ không thể miêu tả lại gã ta, hoặc giọng nói của gã ta: cô nhận ra rằng nỗ lực đó cũng giống như cố gắng miêu tả những gì trong một cái hộp rỗng vậy.
“Được, cảm ơn,” cô nói, nhưng cô không di chuyển chút nào, cô đang ôm chặt chiếc túi và tờ tạp chí thời trang vào chiếc váy cotton đỏ sậm của mình.
“Có vấn đề gì à?” Gã hỏi.
“Họ bảo rằng tôi sẽ được trả tiền,” cô nói, lịch sự nhưng kiên quyết.
“Tất nhiên, nhưng hãy chụp ảnh trước đã.”
“Tôi xin lỗi nhưng chúng ta có thể chụp ảnh sau.” Đây là một trong những điều Lamberti lưu ý với cô. Mục tiêu của nó là xóa bỏ mọi hoài nghi còn sót lại, trong trường hợp hắn nghi ngờ: một cô gái muốn nhận tiền trước là một người chỉ quan tâm đến bản thân và không chơi bắt cá hai tay.
Gã thanh niên mặc áo choàng trắng chẳng nói chẳng rằng, chỉ rời khỏi phòng và quay lại gần như ngay lập tức với năm tờ mười nghìn lia, đưa cho cô trong im lặng.
Livia cầm lấy tiền và đi vào phòng tắm. Cô nhanh chóng cởi đồ, thậm chí còn không đóng cửa. Rõ ràng là nơi này gần như không bao giờ được sử dụng, không có đồ vệ sinh, đến xà phòng cũng không, chỉ có hai cái khăn tắm sáng màu. Khi rời khỏi phòng tắm, cô nghe thấy tiếng gã thanh niên chửi thề, và từ cái cách gã thốt ra tiếng chửi thề, một từ cực kỳ thô tục, cô ngay lập tức nhận ra, không chút nghi ngờ, gã là một người đồng tính, một sinh vật lạ mới từ trên trời rơi xuống. Cô nghĩ rằng điều đó giải thích cho diện mạo không chút đặc sắc của gã, cũng giống như diện mạo nhợt nhạt kỳ quái của những kẻ đột biến được miêu tả trong các tiểu thuyết khoa học viễn tưởng, chính xác là qua quá trình đột biến gene, họ đã trở nên nửa này nửa kia, vẫn có vẻ ngoài của con người nhưng đầu óc và hệ thống thần kinh đã thuộc về một giống loài mới ghê rợn nào đó.
“Có chuyện gì thế?” Cô hỏi, hoài nghi, nhưng lịch sự.
“Nó cứ chớp lóe lên liên tục,” gã thợ ảnh nói. Trong tay gã cầm một đầu dây bóng đèn màu đen, nó đã bị vỡ và phích cắm rơi trên sàn. “Tôi phải sửa nó.”
Gã thậm chí còn chẳng thèm nhìn cô lấy một giây: cô rất muốn biết một người đồng tính nam nghĩ gì về phụ nữ khỏa thân. Cô thấy gã đi ra ngoài, biến mất vài phút, sau đó gã mang một cuộn băng dính trong quay lại cùng một cây kéo, và đứng đó, gã bắt đầu điều chỉnh đầu dây, nó đã rơi ra khỏi phích cắm ngay khi gã cắm phích vào ổ điện. Đứng cạnh ghế, cô quan sát gã trong im lặng, sau đó cô nhớ ra rằng theo chỉ đạo thì cô nên bắt chuyện và tán gẫu gì đó cho thật tự nhiên, không nói gì đồng nghĩa với thật đáng nghi.
“Anh chơi cờ vua à?” Cô hỏi.
“Một mình,” gã nói. Chỉ nội từ cờ vua thôi hẳn đã hé mở cánh cửa bí ẩn, dù miễn cưỡng, dẫn tới một thứ tạm xem như linh hồn của gã. “Ngày nay hầu như không còn ai chơi cờ vua nữa.”
“Tôi nghiên cứu các ván cờ thắng, hoặc tôi chơi với cha tôi.” Đó là sự thật, gần như thế, không phải cô miệt mài chơi cờ vua cả ngày lẫn đêm, chỉ là cha cô đã dạy cô bộ môn đó khi cô ở tuổi vị thành niên, và cờ vua rất thích hợp với cá tính của cô. Cô nhìn thấy gã thanh niên hơi ngẩng đầu lên và nhìn cô, không phải như nhìn một phụ nữ khỏa thân mà là nhìn một kẻ hiểu cờ vua. Nhưng gã không nói gì hết. Vậy nên cô tiếp tục, bởi vì cho kẻ thù của bạn thấy rằng bạn có chung đam mê với gã cũng hữu dụng, “Mới cách đây vài ngày tôi đã nhìn thấy một ván cờ rất đẹp với khai cuộc ba mã trên tờ Le Monde .”
“Không phải ba ngày trước, ván cờ đó cách đây hơn một tháng rồi, nó là ván cờ mà Neukirch ở Leipzig chơi quân trắng còn Zinn ở Berlin chơi quân đen.”
“Đúng, chính là ván đó, cha tôi mua Le Monde vì có mục cờ vua và ông giữ lại mọi số báo, chắc có thể là cách đây một tháng thật, còn tôi mới chơi thử thứ Hai hay thứ Ba vừa rồi thôi.”
“Tôi cũng mua tờ Le Monde vì mục cờ vua.” Khi gã sửa phích cắm, gã có vẻ đang cân nhắc xem có nên rủ cô chơi một ván cờ vua không.
“Anh có nhớ các nước cuối cùng không? Bên đen phải di chuyển vua, sau đó trắng di chuyển mã, dọa ăn tượng, đen bị ép phải dùng xe bảo vệ mình, nhưng sau đó trắng đẩy tốt lên một ô và không còn gì để cứu vãn nữa, nước tiếp theo là chiếu hết.”
“Có, tôi nhớ rất rõ,” và một lần nữa gã lại ngẩng đầu lên, mắt ánh lên chút gì đó vui vẻ, gần giống với ánh mắt của một người yêu âm nhạc cổ điển đột nhiên nghe thấy bản nhạc mà mình ưa thích vang lên, và đồng thời cũng thấy ngạc nhiên khi một người phụ nữ lại hiểu biết nhiều như vậy về thế giới kỳ diệu của cờ vua. “Nhưng tôi không thích bắt đầu ván với mã, chúng có nhiều hạn chế lắm.”
“Quá cẩn trọng,” cô trả lời, “nhưng người ta nói rằng đó chỉ là bề mặt thôi, đến một thời điểm nào đó sẽ luôn có xung đột ở giữa bàn cờ”, cô nói thêm vài điều nữa để trình bày hết ý tưởng, nhưng phải hết sức kiềm chế bản thân, vì thực tế thì cô chỉ muốn cười phá lên: họ ở đây, một người phụ nữ khỏa thân trong phòng với một gã đồng tính đang sửa dây chì, và nói chuyện về cờ vua.
“Xong ngay đây,” gã thợ ảnh nói. Gã vừa sửa xong dây chì nhưng rồi có việc khác xảy ra: họ nghe thấy tiếng chuông rè rè vang lên. Gã thả sợi dây xuống sàn, rời khỏi phòng, đóng cửa lại và ra hành lang, cầm điện thoại cổng lên và áp vào tai.
“Mở cửa đi,” một giọng nói ra lệnh.
Vậy nên gã ấn nút mở cửa tòa nhà và đợi, sau một phút cửa mở và trong hành lang gã nhìn thấy một người đàn ông ra khỏi thang máy, mặc một bộ vest màu nâu sáng, một tông nâu hơi sáng hơn tóc hắn một chút. Gã đóng cửa lại.
“Thế nào rồi?” Người đàn ông hỏi. Hắn ta cũng trẻ, nhưng vẻ hung hãn là lý do khiến hắn không trẻ trung bằng tay thợ ảnh.
“Tôi không thích cô ta,” gã thợ ảnh nói.
“Vì sao?” Người đàn ông nói bằng giọng nhỏ nhưng cực kỳ hung hãn.
“Tôi không rõ, chỉ là tôi không thích cô ta.”
“Tôi không hề thấy ai hết. Cô ta đã đi thẳng tới đây mà không hề nói chuyện với bất kỳ ai.”
“Tôi vẫn không thích cô ta.”
“Phải có lý do chứ.”
“Tôi không biết. Cô ta muốn nhận tiền trước.” Tay thợ ảnh giờ hơi nhăn nhó.
“Lạ thật, tôi không nghĩ là cô ta lại như vậy. Sol nói rằng cô ta khá tinh tế.” Giờ đến cả hắn cũng bắt đầu thấy hoài nghi.
“Thêm vào đó, cô ta biết chơi cờ, giống con ả năm ngoái,” gã ta nói, thú nhận lý do thật sự. Năm ngoái, con ả tóc nâu chết tiệt đó đã lừa gã đến mức họ phải chuyển tất cả mọi người đi, tất cả chỉ vì điểm yếu của gã đối với cờ vua. Và giờ thì cô ả này cũng là chuyên gia cờ vua, thậm chí còn suýt quyến rũ được gã, cô ta thậm chí còn nhớ rõ ván cờ Neukirch, nhưng đồng thời cô ta cũng khiến gã hoài nghi, lấy đâu ra mà lắm nữ kỳ thủ cờ vua đến vậy, khi mà ngày nay phần lớn mọi người chỉ biết cá cược bóng đá hoặc thu thập mô hình phần thưởng trong các hộp nước giặt và phô mai?
“Để tôi đi xem.”
Khi chúng bước vào phòng, Livia đang đứng trong góc, nơi có bức ảnh chụp sóng biển, giả bộ đang nhìn các bóng đèn, nhưng chỉ để cô có thể đứng gần cửa hơn và nghe được những gì đang diễn ra trong hành lang, mặc dù cô không thể nghe thấy gì hết. Cô hài lòng khi nhìn thấy gã mới đến, khá trẻ, chắc là hơi cận. Gã cùng một giuộc với tên thợ ảnh, cả hai tên này sẽ bị tóm gọn trong bẫy, nhưng cô vẫn giả vờ lo sợ. “Tôi không biết là lại có người nhìn,” cô nói, “tôi không muốn có bất kỳ ai ở đây ngoài thợ ảnh hết.”
“Tất nhiên, cô nói đúng, giờ tôi đi ngay đây,” gã ta nói bằng giọng mềm mỏng, “nhưng trước hết tôi muốn hỏi cô vài câu.” Gã dùng tay quét sạch mọi thứ đi trong sự hung hãn, quét sạch tất cả mọi thứ trên ghế, bàn cờ, quân cờ, tạp chí, và ngồi xuống.
“Anh say rồi, tôi chưa từng gặp anh trước đây và tôi cũng không muốn trả lời câu hỏi từ người say.”
“Nhưng cô sẽ trả lời thôi, vì cô là một cô gái dễ thương. Luigi, kiếm một cái ghế cho cô đây đi.” Hắn quay về phía cô khi tên còn lại ra ngoài. “Tôi đã được nghe đôi điều dễ chịu về cô, tôi nghe nói cô đã tốt nghiệp đại học. Có đúng không?”
“Đúng!” Chỉ dẫn quan trọng nhất mà Lamberti đưa ra cho cô là đừng gây rắc rối, phải bảo đảm mọi chuyện diễn ra đơn giản và êm đềm. Nếu cô kiên quyết không trả lời thì sẽ vô cùng nguy hiểm.
“Tốt nghiệp ngành gì?”
Gã thợ ảnh mang một cái ghế quay lại, nhưng cô ra dấu không cần, cô sẽ không bao giờ đặt chỗ kín của mình lên bất cứ thứ gì thuộc về những gã này, dù trần truồng đứng lù lù ra đó trước hai gã này cũng không dễ chịu gì cho lắm. “Lịch sử và triết học.”
“Cô có dạy học không?”
“Không, tôi chỉ tốt nghiệp đại học thôi.”
“Thế cô kiếm sống bằng cách nào?”
“Tôi dịch.”
“Từ ngôn ngữ nào?”
“Tôi thích dịch từ tiếng Anh, nhưng tôi cũng có thể dịch từ tiếng Đức và tiếng Pháp.”
“Dịch thuật có thù lao hậu hĩnh không?”
“Không hẳn.”
“Nói cách khác, không đủ sống.”
“Không. Không thì tôi đã chẳng ở đây.”
Gã đàn ông nở một nụ cười đen tối. “Đúng thế. Cha cô làm gì?”
Việc cha cô bị nhắc đến, ở nơi này, trong tình huống này, không chút khỏa lấp trước ánh mắt mà may mắn thay cũng không có vẻ dâm dật của hai gã đàn ông này, như một cái roi quất cô đau điếng, nhưng cô vẫn kiềm chế bản thân. Rõ ràng là chúng nghi ngờ cô, và cô phải thuyết phục chúng là chúng đã nhầm. “Ông ấy là thợ đồng hồ, ông ấy sửa đồng hồ đeo tay, đặc biệt là loại cổ,” cô bình tĩnh trả lời.
“Ông ta hẳn đã bỏ rất nhiều tiền vào cô, với bằng cấp như thế.”
“Tôi nghĩ vậy.”
Gã đàn ông chạm vào dái tai phải của mình. “Nhưng điều tôi không hiểu là sao một người ở tầng lớp như cô lại muốn làm một việc như thế này.” Gã dường như chỉ đang tán gẫu, giả bộ như thể đang ở trong một phòng khách thời thượng để khỏa lấp cuộc thẩm vấn hung bạo. “Ý tôi là, cô đến từ một gia đình cơ bản, cha cô đã phải hy sinh cho cô học hành, cô có văn hóa và có giáo dục tốt, cô biết bốn ngôn ngữ, cô dịch sách, hẳn là một công việc đòi hỏi trí tuệ, tôi thậm chí còn nghe nói rằng cô là một kỳ thủ cờ vua tài ba. Cô không thấy lạ khi, chỉ vì một ít tiền, một người phụ nữ như cô lại đứng đường lúc đêm muộn ở đại lộ Buenos Aires à?”
Có lẽ thời cơ đã đến, dù cô đang không hề có khả năng tự vệ, hoàn toàn lõa lồ và không còn tâm trí đâu mà suy nghĩ. “Có thể anh chưa bao giờ gạ được mấy cô nàng mặc áo khoác da đứng cạnh máy phát nhạc, lũ gái điếm từ những năm 60 với mái tóc dài rối tinh rối mù như thể vừa ngụp lặn về: anh cứ làm như chỉ mình họ mới có thể đứng đường ở đại lộ Buenos Aires hàng đêm. Tôi nghĩ anh lạc hậu rồi đấy.”
Gã lại cười nhẹ. “Có thể thế, tôi chưa bao giờ nghĩ đến những người tốt nghiệp ngành lịch sử và triết học làm việc đó. Và nói thật, cử nhân lịch sử và triết học mà lại kiếm thêm thu nhập với loại công việc này khiến tôi hoài nghi.”
Giọng gã, dù lịch sự đến đâu đi nữa, cũng đậm mùi đe dọa. Livia nhún vai. “Tôi cũng chẳng biết làm thế nào về điều đó,” cô nói. “Nếu anh thẩm vấn xong rồi thì tôi muốn chụp ảnh rồi về.”
“Đúng, cô nói đúng. Luigi, bật đèn chiếu lên và bắt đầu đi.” Gã lại quay về phía cô. “Quý cô cất túi ở đâu thế?”
“Để làm gì?”
“Vì khi tôi có nghi ngờ, tôi muốn kiểm tra.”
“Anh không được phép lục lọi túi của tôi,” cô nói bật ra, nhưng chỉ vì cô phải tỏ ra như thế, nó là một phần trong vở kịch.
“À, nhưng tôi nghĩ là mình có thể đấy,” gã đáp trả, đứng dậy. “Cái túi đó ở đâu?”
“Nó ở trong phòng tắm, đi mà kiểm tra, hoặc anh cứ lấy tiền đi nếu muốn, đáng ra tôi phải biết mình đang giao dịch với lũ lừa đảo.”
“Đúng, cô nói đúng, đáng lẽ cô phải tự dặn mình rằng chúng tôi không đến từ một hội hướng đạo sinh hay gì hết. Nhưng nếu cô chụp ảnh thì tôi sẽ không lấy tiền của cô. Luigi, bắt đầu đi,” và gã đi vào phòng tắm. Chiếc túi vải màu đỏ nằm chình ình trên cái giá nhỏ trên bồn rửa mặt, gã lôi tiền ra, trong đó có năm mươi nghìn mà cô được gã tên Luigi đưa cho, cộng thêm hai tờ một nghìn lia và khoảng một tá đồng xu năm trăm lia. Có một thỏi son đại trà, một chiếc gương thông thường, một chùm chìa khóa chỉ treo hai chìa khóa, bằng lái xe, một chiếc khăn tay nhỏ xíu, tinh tươm, được gấp gọn thành hình tam giác, và cuối cùng có cả một cuốn sổ địa chỉ nhỏ xíu nữa, sổ của một người phụ nữ, được ghi chép gọn gàng, chữ viết tay nhỏ nhưng cực kỳ rõ ràng. Đó là món đồ hơi cũ duy nhất, bìa hơi sờn mép, hẳn đã được vài năm tuổi.
Và không còn gì khác. Gã thò đầu ra khỏi cửa phòng tắm nhìn ra căn phòng được trưng dụng làm studio. Gã có thể nhìn thấy tay thợ ảnh di chuyển vòng quanh máy Minox. “Di chuyển, đúng rồi, dừng lại, sáu, di chuyển, đó, dừng lại, bảy, di chuyển, được đấy, dừng lại, tám,” nhưng gã không thể nhìn thấy Livia. Vẫn còn thời gian trước khi họ chụp đủ năm mươi bức ảnh. Gã trả mọi thứ lại trong túi, trừ cuốn sổ địa chỉ, và từ túi áo ngực gã lôi ra một cặp kính hết sức bình thường, gọng đồi mồi, nó khiến gã trông như một thanh niên yêu nhạc jazz chuẩn ngầu và bắt đầu đọc những gì ghi trong cuốn sổ. Ban đầu gã chỉ đọc lướt qua, chỉ để xem một cử nhân đại học lưu giữ những loại địa chỉ như thế nào, sau đó gã nghĩ rằng mình sẽ xử lý có phương pháp hơn và bắt đầu đọc từ chữ A. Không cái tên nào có ý nghĩa gì với gã hết, nhưng dưới chữ E gã tìm được địa chỉ của ba nhà xuất bản, Editions này, Editions kia, vậy là cô gái này có dịch thuật thật. Dưới chữ cái I gã tìm thấy địa chỉ của một Viện Văn hóa Ý – Anh, dưới chữ cái M là một người theo phong trào vô chính phủ mới khiến gã phải tạm dừng lại để suy nghĩ, cô gái này là người theo chủ nghĩa vô chính phủ à? Sau đó đến chữ R gã tìm được cái tên đó.
Thợ ảnh đã chuẩn xác khi đánh hơi ra một con chuột cống. Gã quay vào phòng, lại ngồi xuống, hơi quay lưng về phía Livia. Họ đã đến bức ảnh thứ ba mươi chín, vẫn còn hơn chục bức nữa, nhưng gã nói với Luigi, “Thế là đủ rồi.” Và nói với cô ta, “Mời cô lại đây, tôi có thêm vài câu hỏi cho cô đây.”
“Tôi muốn mặc đồ vào,” cô nói. Giờ cô chắc chắn là gã đã phát hiện ra cái gì đó và cuộc chiến sắp bùng nổ, cô không sợ, cô chỉ muốn biết thứ bị gã phát hiện trong túi là gì. Câu trả lời không phải chờ lâu.
“Lại đây, con khốn, không thì tao sẽ vặn gãy chân mày ra, nói cho tao nghe xem làm sao mày lại quen Alberta Radelli.”
Vậy ra đó là thứ mà gã phát hiện ra, nhưng làm sao mà cô nhớ được là tên của Alberta vẫn nằm trong quyển sổ địa chỉ cũ của mình chứ? Giờ mọi chuyện đang dần trở nên khó khăn và cô thì thích như vậy. Cô ngay lập tức nghe lời và tới ngồi xuống trước mặt gã, tay thợ ảnh canh chừng sau lưng cô, nhưng cô vẫn nghe lời với vẻ của một người đang chạm trán một thằng điên.
“Cô ấy từng là bạn tôi.”
“Ý mày là gì, sao lại từng? Chúng mày đã cãi nhau à?” Gã đang giăng bẫy, cố ép cô nói dối.
“Không, cô gái tội nghiệp đó đã chết, cô ấy đã tự tử.” Cô không mắc bẫy. Trí thông minh của cô giờ như một chiếc máy tính được lập trình sẵn, sẵn sàng đối phó với mọi mưu mô của kẻ thù.
“Khi nào?”
“Cách đây một năm.”
“Như thế nào?”
“Cô ấy đã cắt cổ tay. Nó đăng đầy trên báo đấy.”
“Hai bọn mày có phải bạn thân không?”
“Cũng khá thân.”
“Có phải cô ta cũng là một kẻ thỉnh thoảng ra đứng đường, giống mày không?”
Gã nghĩ là mình thông minh lắm, đúng là đầu gã cũng có tí sỏi, gã chỉ đang chờ cô nói dối, để lao bổ vào xử lý cô. “Đúng thế. Có thể đó là lý do chúng tôi kết bạn với nhau.”
Gã thanh niên chẳng còn mấy trẻ trung nhìn cô một lúc lâu, gã có vẻ hứng thú với ngực cô hơn là khuôn mặt cô, trong khi cân nhắc về nước đi kế tiếp. Sau đó gã nói với tay thợ ảnh, “Đưa cho tao một cuộn phim.”
Luigi có một hộp phim trong túi áo choàng và ngay lập tức đưa một cuộn cho gã ta.
“Mày đã bao giờ nhìn thấy một cuộn phim như thế này chưa?” Và một lần nữa gã lại nhìn vào mắt cô, mắt nhắm hờ, như thể để tập trung hơn.
“Rồi, đó là một cuộn phim Minox.”
“Thế mày từng nhìn thấy cuộn này ở đâu?”
“Ở trường đại học, một người bạn của tôi có một chiếc máy ảnh Minox.”
“Có người nào khác cũng từng cho mày xem một cuộn phim như thế này chưa?”
“Tôi không nhớ. Cũng có thể, một thợ ảnh nào đó.”
“Thế còn cô bạn Alberta của mày thì sao? Cô ta chưa bao giờ cho mày xem một cuộn phim kiểu này à?”
“Chưa.”
“Mày chắc không?”
“Chắc.”
“Thế bạn mày chưa bao giờ kể cho mày nghe chuyện cô ta được mời chụp một bộ ảnh giống như những gì mày đang làm à?”
Lời nói dối phải được thốt ra ngay tức khắc để có vẻ thuyết phục. “Chưa.”
“Nghĩ mà xem: mày và cô ta là bạn rất thân, chúng mày kể cho nhau tất cả mọi chuyện, kể cả số tiền chúng mày kiếm được nhờ việc đứng đường, và rồi cô ta lại không kể cho mày việc cô ta đã làm mẫu chụp một bộ ảnh nghệ thuật, hay việc cô ta chuẩn bị làm vậy. Kỳ lạ đấy.”
“Chúng tôi từng là bạn thân nhưng không gặp nhau thường xuyên lắm, thỉnh thoảng phải một đến hai tháng trôi qua mà chúng tôi không gặp nhau.” Cô bắt đầu thấy lạnh, nhưng chỉ vì điều hòa phả lên làn da trần của cô chứ không phải vì cái gì khác.
Gã im lặng một lúc lâu, đầu cúi gằm xuống, gã đang nhìn chân cô, đếm số ngón chân, như thể lo lắng muốn biết tổng cộng có bao nhiêu ngón, để giúp gã suy nghĩ. Sau đó, vẫn nguyên tư thế ấy, gã nói, “Mày không nói thật với bọn tao. Tao nghĩ mày biết điều gì đó. Có thể là mày biết rất nhiều điều.”
“Nhưng tôi thậm chí còn không biết các anh muốn gì ở tôi, tôi chỉ biết mình vừa rơi vào sào huyệt của một lũ trộm. Hãy để tôi mặc đồ vào và ra về, anh có thể giữ lại số tiền đó nếu muốn, nhưng tôi muốn ra về.” Cô đang diễn khá tròn vai.
“Luigi,” gã nói, “mang bông và cồn lại đây cho tao, cả ô-xy già nữa.”
“Tôi không chắc là mình có ô-xy già.”
“Đừng lo, nó chỉ để giúp máu ngừng chảy thôi.” Gã ta lôi kính ra và đeo vào. Cuối cùng gã cũng nhìn thẳng vào cô. “Nếu mày kể toàn bộ sự thật cho tao nghe thì tao sẽ không làm gì mày cả.” Gã rút một con dao nhíp ra khỏi túi, một con dao nhíp kiểu cũ, nhỏ gọn, loại mà đến cả học sinh mẫu giáo cũng không còn dùng nữa.
“Anh điên rồi! Anh muốn tôi nói gì với anh? Cứ thử chạm vào tôi xem và tôi sẽ cho anh thấy tôi có thể làm gì.” Cô đang đóng vai ngây thơ, chắc cũng khá thành công.
“Tao không quan tâm mày có thể làm được gì, nhưng cố gắng nói sự thật đi và mày sẽ thấy mày không phải làm gì hết.”
Luigi quay lại với vài lọ nhỏ trong tay. “Sau cùng tôi cũng tìm được ô-xy già rồi.”
Gã ta cầm mấy cái lọ lại và đặt xuống cạnh chân trên sàn. “Mày vẫn còn thời gian để khai ra tất cả những gì mày biết đấy.”
Cô không biết đóng kịch, nhưng cô đang cố gắng làm tốt nhất có thể, gào to nhất có thể, hét ầm hét ĩ là phản ứng tự nhiên của một người phụ nữ sợ hãi không biết gì hết. Trên thực tế, cô biết tất cả những gì mà gã muốn biết, và cũng không sợ. Cảm giác khinh bỉ đối với gã lấn lướt suy nghĩ: cô sẽ không bao giờ hạ thấp mình đến mức sợ một thứ bẩn thỉu như gã.
Hay phải nói, cô cố gắng gào lên, nhưng trước khi kịp gào lên cô thấy miệng mình bị nhồi kín bông cotton, sau đó gã thợ ảnh ép cô ngồi xuống và ghìm chặt cô vào ghế từ phía sau.
“Mày vẫn còn thời gian để nói sự thật đấy.” Gã tì lên đầu gối của cô để ngăn cô đá chân. Cuối cùng cô cũng hiểu ánh mắt của gã cận này hàm chứa điều gì: gã là kẻ bạo dâm, theo đúng nghĩa đen. “Tao có thể đấm mày bất tỉnh, sau đó trong khi mày ngất tao có thể rạch cổ tay mày. Điều đó có thể khiến cảnh sát thấy thú vị đấy: Xem này, chúng ta liên tục tìm thấy phụ nữ rạch cổ tay, điều đó có nghĩa là gì nhỉ?” Giọng gã đã trở nên êm ái và ngọt xớt, nhưng nó không khiến cô sợ, chỉ khiến cô càng ghê tởm và muốn phỉ nhổ vào gã. “Nhưng tao cần mày còn sống, tao cần mày phải nói. Tao nói nốt một lần cuối thôi đấy, nếu mày muốn nói sự thật cho tạo thì tao sẽ rút bông ra.”
Cô nhún vai và dùng mắt nói cho gã biết rằng gã bị điên rồi, cô đã nói tất cả những gì mình biết.
“Vậy thì tao sẽ bắt đầu rạch từ trán mày, tao rất rộng lượng và tao sẽ rạch lên cao, như thế thì mày có thể dễ dàng dùng tóc che nó lại.” Gã xoa cồn lên trán cô, như một y tá tận tâm. “Tao không muốn làm mày đau, tao chỉ muốn làm mày biến dạng, ít nhất nếu mày không chịu khai.”
Cô hầu như không cảm thấy bị rạch, cũng không có chút máu nào tràn xuống mặt cô cả, vì gã đã tỉ mỉ chấm ô-xy già lên vết thương trong khi tay thợ ảnh tạm buông lỏng đầu cô ra.
“Nếu mày có gì mới để khai cho tao thì gật đầu, tao sẽ bỏ bông ra, nhưng nếu mày lại nói với tao rằng mày không biết gì cả thì hãy quên đi, tao sẽ chỉ điên lên thôi.”
Có thể âm thanh đó chỉ xuất hiện trong đầu cô, ảo giác âm thanh mà cô nghe thấy chỉ vì cô hy vọng âm thanh đó có thật, nhưng theo bản năng cô quay đầu ra cửa bởi vì cô đã nghe thấy tiếng chuông.
“Có người vừa bấm chuông à?” Gã ta hỏi.
“Không,” gã thợ ảnh nói. “Chắc cô ta đang chờ ai đó và nghĩ chúng vừa bấm chuông.”
Gã ta ngẫm nghĩ, tay vẫn cầm con dao nhíp, để sát mặt cô đến mức cô có thể thấy nó là vật phẩm tặng kèm và đọc được trên tay cầm tên của một hãng rượu nổi tiếng. “Nếu cô ta đang chờ người thì giờ chúng đã lên đến đây rồi, vậy nên hãy cố gắng giữ bình tĩnh. Con ả này biết cuộn phim năm ngoái đang ở đâu, có thể cô ta còn giữ nó, và cuối cùng cô ta sẽ khai hết cho chúng ta biết thôi.” Gã dùng cồn xoa lên má trái của cô. “Nếu mày nói,” gã nói với cô, “mày sẽ tránh được một vết rạch trên má mà không một cuộc phẫu thuật thẩm mỹ nào có thể cứu vãn nổi.” Gã nhìn cô và chờ đợi, sau đó đưa dao, mắt nhắm hờ sau kính, gã nhìn chằm chằm vào má cô như một học sinh chăm chỉ nhìn vào một trang vở mà gã đang cẩn thận viết một câu văn đẹp đẽ. “Bất kể mày biết gì thì mày cũng không thể dùng nó để chống lại bọn tao đâu. Khai đồng bọn của mày ra, nếu có, nếu mày khai thì sẽ tao sẽ dừng lại ngay đây.” Gã bắt đầu chấm ô-xy già lên vết rạch nhưng không đủ, máu bắt đầu chảy xuống cổ, xuống ngực, xuống tận bụng cô. “Mày có khai không hay để tao tiếp tục?”