.Thậm chí chính như vậy ta mới biết mình đang sống: khi ta phạm sai lầm. Có lẽ tốt nhất ta nên từ bỏ chuyện đúng sai nơi người khác, và chỉ tiếp tục dạo chơi thôi. Nhưng nếu làm được thì bạn... bạn là người may mắn.
Philip ROTH
1.
Xác định chính xác điểm khởi đầu câu chuyện không phải khó. Thời điểm mọi thứ bắt đầu trật bánh. Đó là một sáng thứ Bảy tháng Mười, cách đây chừng hơn hai năm. Khi ấy, bố tôi vẫn sống trong căn nhà ở Moret-sur-Loing, tỉnh Seine-et-Marne, cách Paris một giờ chạy xe. 10 giờ sáng. Tôi bấm chuông cổng ngoài một hồi lâu, nhưng không ai trả lời. Thấy ô tô của bố vẫn trong vườn, tôi bèn trèo qua cổng và vào nhà qua lối ga ra.
Bố tôi, Marc Batailley, nằm say bí tỉ giữa căn bếp. Tôi đã quen với bức tranh ấy. Từ năm tôi lên mười, kể từ sau cái chết của Vera, em gái tôi, cảnh tượng ấy thường xuyên tái diễn, gần như theo cùng kịch bản. Cứ một thời gian, ít nhiều thường xuyên, bố tôi lại lôi đống album ảnh và thú bông của em tôi ra, những thứ ông còn giữ. Ông đẩy tấn bi kịch đi xa tới nỗi còn đặt trước mặt mình cái ghế ăn bằng gỗ mà em tôi hay ngồi, nói chuyện với bóng ma của nó trong cơn say ngà ngà, xin lỗi nó và tua lại thước phim cuộc đời gia đình tôi. Cũng có lúc ông lôi khẩu Manurhin 73 từ bao đựng ra và có suy nghĩ tự bắn vào đầu để đến với em tôi.
Như mọi khi, tôi làm theo nghi thức đã được tinh chỉnh sẵn: tôi cởi quần áo cho ông, lôi ông đi tắm - nước ấm rồi chuyển sang tia lạnh - sau đó đặt ông lên giường cùng một tách trà Phổ Nhĩ nóng và một cốc nước chanh gừng lớn, tất cả để trên bàn đầu giường.
Tôi chưa bao giờ giận ông. Trái lại là đằng khác. Tôi biết những cú lặn xuống vực thẳm nỗi buồn này là cái van an toàn. Là những cơn giải tỏa cần thiết giúp ông sống được đến ngày hôm nay. Hơn nữa, chính tôi cũng có những lúc buông xuôi, những giờ phút chẳng có gì huy hoàng, những con quỷ quen thuộc trong lòng. Và những khi ấy, bố tôi luôn có mặt, không hề rao giảng đạo lý. Nhiều lần ông đến đón tôi ở đồn cảnh sát sau trận xô xát; đã hai lần ông đồng hành cùng tôi lúc tôi phải nhập viện ở Bệnh viện Paris, khi đến lượt tôi bị tiếng gọi từ hư vô kéo vào cửa tử. Chúng tôi luôn ở cạnh nhau. Chúng tôi luôn tựa vào nhau qua những giai đoạn khó khăn khắc nghiệt. Bố là người đàn ông của đời tôi. Và tôi cũng là người quan trọng trong đời ông.
Tôi trở xuống phòng khách dọn dẹp một chút. Tôi xếp gọn cái ghế ăn, đống thú nhồi bông, trong đó có chú “Bébéléfan” lừng danh mà Vera mang theo khắp nơi và là nhân chứng chứng kiến khoảnh khắc con bé hấp hối trong ô tô của mẹ. Là người bạn đồng hành cuối cùng. Là hình ảnh sau cùng mà con bé hẳn đã mang theo sang thế giới bên kia. Chắc chắn thế, mỗi khi nhìn thấy con thú bông, chính tôi cũng khóc và muốn tự kết liễu. Đến lượt mình, tôi mân mê khẩu MR 73 và có ý định bắn nổ đầu mình để đi gặp con bé trên trời. Tôi biết rất có thể một ngày nào đó chuyện sẽ kết thúc như vậy. Một phần trong tôi chuẩn bị cho điều ấy từ rất lâu về trước. Nhưng không phải hôm nay và cũng không phải bằng cách này.
Cuối cùng, tôi cất khẩu súng về chỗ của nó, trong bao da. Tôi và bố có điểm chung: chúng tôi là những kẻ lý trí một cách phi lý. Những kẻ biết chừng mực trong vô độ. Chúng tôi thường xuyên rơi vào điên cuồng và hỗn loạn mà không bị nhấn chìm hoàn toàn trong đó. Khát khao sống cuối cùng vẫn luôn dẫn chúng tôi về ánh sáng.
Tôi hoàn thành việc dọn dẹp bằng cách xếp đống ảnh về đúng chỗ trong album rồi chẳng ngạc nhiên khi chính mình nổi da gà. Thật tiếc là mẹ có mặt trong hầu hết các bức ảnh. Say sưa hình ảnh của chính mình, bà luôn tìm cách chui vào khung hình, ngược lại với bố, người đảm nhiệm vai trò chụp ảnh. Lật giở các trang ảnh, tôi chỉ tìm thấy đúng bốn tấm anh em tôi chụp riêng với bố. Bốn bức ảnh nhắc tôi nhớ mình từng có thời thơ ấu hạnh phúc, cho đến năm lên mười. Sự ngây thơ chẳng kéo dài lâu, nhưng mười năm ấy đã cho tôi một khung sườn và nền tảng để tôi có thể dựa vào và là thứ, cuối cùng, bảo vệ tôi khỏi rất nhiều điều. Nhưng không phải tất cả.
2.
Trong một quyển album, tôi đọc lại những mẩu báo cắt ra mà đã lâu tôi không thấy. Những bài viết của tờ La Provence và tờ Phụ nữ Marseille xuất bản những ngày sau vụ bắt giữ Raynald Pfefferkorn, Gã làm vườn. Đó là thời kỳ đỉnh cao trong sự nghiệp của bố tôi. Chỉ vài tháng trước cái chết của Vera, nhóm điều tra của Đội Hình sự Mareille do ông chỉ huy đã xác định và bắt giữ một trong những sát nhân hàng loạt đầu tiên của nước Pháp thời hiện đại. Biệt danh Gã làm vườn, Pfefferkorn là một tên tâm thần bệnh hoạn đã giam hãm và giết hại tám người - sáu phụ nữ và hai nam giới - trong khu vực Marseille từ năm 1987 đến 1989. Tháng Hai năm 1990, biết mình đã bị vạch trần, Gã làm vườn tìm cách bắt tàu chạy về hướng Bỉ. Bố tôi cùng hai cảnh sát trong nhóm, Nucerra và Albertini, đuổi riết hắn theo cách “Kinh điển”, trên cầu thang lớn nhà ga Saint-Charles. Gần giống Belmondo thời phim Nỗi sợ bao trùm thành phố.
Bài báo của La Provence có so sánh với Bébel. Ba mươi năm sau, nó tiếp tục làm tôi tràn ngập tự hào. Đó chính là hình ảnh về bố mà tôi giữ trong tim. Không thể xóa nhòa. Nó cho phép chống đỡ mọi hình ảnh khác. Sau chiến công oanh liệt ấy và việc ông được thuyên chuyển lên Paris, sự nghiệp của ông lên bổng xuống trầm tùy thuộc vào tình trạng tâm lý và vị trí bổ nhiệm của ông. Nhiều lần ông bị IGPN, Tổng Thanh tra Cảnh sát Quốc gia, gây khó dễ. Tôi rất lo lắng mỗi khi họ cố kéo ông ngã ngựa, tuy nhiên nghịch cảnh lại có tác dụng giúp ông phấn chấn. Ba năm trước, ông suýt bị cách chức sau khi lấy hai bánh cần sa thưởng cho người chỉ điểm. May mà vị luật sư kỳ cựu tôi tìm cho ông đã ngăn được việc tố tụng xảy ra.
Hiện giờ ông sắp đến tuổi nghỉ hưu. Tôi biết ông đã bị đẩy ra khỏi ngành từ lâu. Các cơ quan đùn đẩy cho nhau cái thân nhếch nhác của ông như một con mèo lạc và những người ủng hộ ông gần như đã biến mất hết. Chuyện ấy khiến tôi đau lòng. Tôi thường xuyên nghĩ về nó, đau đáu cảm xúc giận dữ lẫn đau lòng, điều mà chính ông không ngờ tới.
Đầu tiên nỗi tức giận ấy chĩa về mẹ tôi, Élise Batailley. Sau cái chết của em gái, khi cả bố lẫn mẹ đều đòi quyền nuôi con, bà thẩm phán tòa gia đình đã quyết định giao quyền ấy cho mẹ tôi! Chúng tôi chỉ ở chung được hai tháng. Tôi không nói với mẹ câu nào ngoài những lời chửi rủa. Tôi bỏ nhà đi hết lân này đến lần khác để gặp bố và, để bôi nhọ uy tín của mẹ, tôi kể ở trường rằng bà nhốt tôi trần truồng dưới hầm và mang đàn ông về nhà ngủ qua đêm. Thế rồi, một sáng nọ, tôi biết tin tình nhân của bà, nha sĩ Joël Esposito, kẻ bết bát vì tai tiếng sau cái chết của em tôi, đã treo cổ tự vẫn trên cái cây trong vườn nhà. Cái chết của Esposito khiến mẹ tôi nhanh chóng đầu hàng. Bà đồng ý chia sẻ quyền nuôi con, nhưng ít lâu sau, bố tôi đến Paris làm việc và bà không phản đối tôi đi theo ông.
Suốt nhiều năm, Élise liên tục gọi điện và viết thư cho tôi, nhưng tôi không bao giờ nghe máy hay mở thư của bà. Năm tôi mười lăm tuổi, bà bỏ cuộc và tôi không còn nghe tin về bà nữa. Khi tiểu thuyết đầu tay của tôi được xuất bản, bà lại tìm cách liên lạc với tôi thông qua nhà xuất bản, nhưng tôi yêu cầu họ hoàn trả thư bà. Lần cuối bà cố gặp tôi là khoảng mười năm trước, trong buổi ký tặng tại cửa hàng Virgin Megastore trên đường Champs-Élysées. Tôi nhận ra bà từ xa, và giơ ngón giữa khiến bà không dám lại gần.
Tôi đặt các cuốn album ảnh lên giá sách ở thư phòng, cạnh hàng trăm đĩa nhạc cổ điển. Là người có tinh thần tự học, bố tôi luôn nuôi dưỡng niềm đam mê với dương cầm. Tôi đặt bừa một đĩa nhạc lên máy hát, chỉ vì thích cái vỏ - bản Gymnopédies của Erik Satie do Milena Bergman trình bày - trong lúc rửa bát và quét qua nhà cửa. Dọn dẹp xong, tôi tự pha một cốc cà phê rồi mang ra ngoài uống. Trên mặt bàn gồ tếch ngoài sân hiên, bố tôi để quên bao thuốc lá và cái bật lửa Zippo khắc hình đầu sư tử với chiếc bờm rực lửa. Tôi châm một điều dù không hút bao giờ. Một hành động thảm hại để được gần gũi với ông. Để bắt đầu tự kết liễu từng chút một với mục đích cùng ông đi vào cõi chết. Để ông bớt cô đơn. Lý do là mấy ngày nay sức khỏe ông dần nguy kịch. Đầu tuần, phim chụp cắt lớp phổi và kết quả sinh thiết đã phát hiện một khối u ở giai đoạn nguy hiểm đang phát triển trong phổi của vị sư tử già.
Tôi dẫn bố đi làm xét nghiệm. Ở bệnh viện, bác sĩ đề nghị ông lập tức sử dụng phác đồ hóa trị, phương pháp duy nhất kìm hãm sự phát triển của căn bệnh. Cảm ơn bác sĩ xong, bố tôi đáp ông không muốn làm hóa trị. Ông đứng dậy khỏi ghế rồi, để chế nhạo hơn là thách thức, ông châm điếu thuốc trước khi rời phòng.
3.
– Chào nhà vô địch.
Cha tôi xuất hiện trở lại lúc 1 giờ chiều, không quá suy sụp trước hoàn cảnh. Ông vò tóc tôi rối bù như thường làm khi tôi còn nhỏ. Ông đã cạo râu, mặc sơ mi trắng, quần bò và chiếc áo khoác Kenzo chắc cũng phải mươi mười lăm năm tuổi, nhưng vẫn có khí chất.
– Ta đi ăn gì nhé? ông hỏi tôi như thể chẳng có gì xảy ra.
– Đồng ý.
– La Belle Équipe được không?
– Đi thôi.
La Belle Équipe là một quán rượu ven sông ông thường xuyên đến. Dù trong người vẫn còn men say nhưng ông nhất quyết đòi lái chiếc Caterham mui trần của mình. Tôi là người tặng ông con xe hai chỗ của Anh năm năm trước, vì đó là mẫu xe Belmondo lái trong phim Cảnh sát hay lưu manh. Đến nhà hàng, ông bắn tín hiệu cho bà chủ quán để được ngồi bàn “sát biển”.
Chúng tôi gọi hàu và một món chiên nhỏ. Tôi uống rượu Pessac-Léognan, ông uống Coca không đường cho tỉnh táo. Hôm đó là cuối tuần. Quán ăn trang trí xấu hoắc, nhưng nhìn chung có không khí đồng quê: khăn trải bàn kẻ ca rô đỏ trắng cùng các bồn hoa. Một anh chàng ăn mặc như người lái xuồng chơi phong cầm... Xung quanh chúng tôi, dường như mọi người rất vui vẻ. Nơi này không hẳn là gu của tôi, nhưng nó khá hấp dẫn nếu bạn thích món vẹm kèm khoai tây chiên với giá 19,90 euro cùng một ly vang trắng nhỏ uống dưới vòm cây.
– Con nghĩ thế này: sẽ tiện hơn nhiều nếu bố đến nhà con ở, trên phố Assas, trong quá trình hóa trị.
– Bố không làm hóa trị đâu, bố đã nói rồi mà, Rapha.
– Rõ ngớ ngẩn: bố không được để mặc mình chết dần mà không cố làm gì!
– Không, bố mệt rồi. Bố chán ngấy tất cả chuyện này.
– Con biết bố từng kiên cường hơn thế.
– Nghe này, “chiến đấu chống lại bệnh tật”, “trở nên mạnh mẽ”, “tinh thần tích cực”, chỉ là nói suông thôi. Nó chả có tác dụng gì trước quá trình lây lan của tế bào ung thư hết.
– Thế bố không sợ chết à?
– Chẳng hơn gì chuyện đó. (Ông nhìn vào mắt tôi.) Và hai ta đều biết rõ một phần trong bố đã chết từ lâu.
– “Một phần trong bố đã chết từ lâu” cũng chỉ là nói mồm.
Ông không nén nổi nụ cười.
– Bố thừa nhận, kể cả đó là sự thật.
– Thế bố định để mặc mình chết à?
Ông gãi chòm râu, mặt nhăn nhó.
– Chắc sẽ không lâu lắm đâu.
– Còn con thì sao?
– Gì, con á?
– Bố mặc kệ bỏ con lại một mình à?
– Bố không thể đem lại gì cho con nữa, Rapha à.
Ông không tìm cách trốn ánh mắt tôi và những gì tôi thấy trong mắt ông khiến tôi sụp đổ. Quả thực, ông đã đầu hàng.
– Bố cảm thấy trống rỗng, ông thừa nhận.
Rồi ông đứng dậy, miệng làu bàu gì đó như: “Lại buồn tiểu. Tuyến tiền liệt chết tiệt. Khốn kiếp.”
Tôi vẫn ngồi tại chỗ, tâm trí hoang mang, bối rối. Suốt cuộc nói chuyện vừa rồi, tôi cố không quay đầu, nhưng tôi biết rõ con bé đã ở đó được một lúc và nó theo dõi câu chuyện của chúng tôi. Vera, em gái tôi. Hay đúng hơn là hồn ma của nó. Hoặc hình ảnh bóng ma tôi tự tưởng tượng trong đầu. Tôi quay đầu về phía nó, quyết định đối mặt. Hôm nay, con bé khoảng bảy, tám tuổi. Nó đeo kính râm hình trái tim, tết tóc thành hai đuôi sam dài và hút một ly Mr. Freeze vị bạc hà.
– Lần này thì được rồi, nó nói với tôi, bố sẽ sớm đến gặp em.
– Không, anh không tin.
– Bố rõ ràng thế rồi còn gì?
– Anh sẽ không để bố đi.
Con bé kéo thấp cặp kính xuống cái mũi hếch.
– Còn anh, sao anh không đến cùng bố và em? Ta sẽ hạnh phúc ở trên kia, cả ba chúng ta.
– Không, chuyện không phải như thế.
– Có cái bạt nhún khổng lồ và cả ngựa nữa. Trên đó vui lắm.
– Đi chỗ khác đi, ngay bây giờ.
Con bé lè lưỡi, nhưng nó tan biến khi bố tôi quay lại. Vẫn gương mặt khó gần, ông gọi một ly vang hồng và châm điếu xì gà loại nhỏ.
– Còn con, con thế nào rồi? Cuộc sống, sách vở, phụ nữ...
Chính vào khoảnh khắc ấy kịch bản đã thành hình. Giống như một dàn ý tiểu thuyết: một sáng kiến lóe lên, các ý tưởng từ đó kết hợp với nhau để tạo thành cốt truyện mạch lạc. Sáng kiến ấy từ đâu mà có? Có lẽ là từ cảm giác tội lỗi tôi luôn mang trong người vì đã không cho bố mình một thứ có thể giúp ông vui vẻ trở lại. Một cô con dâu và các cháu nội, những người sẽ gây dựng lại gia đình mà mẹ tôi đã phá hủy. Suốt nhiều năm, ông nói với tôi về mong muốn được lên chức ông nội, nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện có con. Vì tôi sẽ phải sống với nỗi sợ mất con thường trực. Như lúc chúng tôi mất Vera.
– Suôn sẻ lắm. Con đã gặp một cô gái tuyệt vời!
– Ở Paris à?
– Không, ở Thụy Sĩ, tháng trước. Bọn con thuê cùng khách sạn ở Lausanne.
– Con làm gì ở đấy? Tìm thông tin cho tiểu thuyết à?
– Không, con đến buổi ký tặng ở hiệu sách Payot.
– Con bé đó là ai? Làm ngân hàng à?
Vỏ đĩa nhạc tôi nhìn thấy ở nhà ông hiện lên trong đầu.
– Một nghệ sĩ dương cầm người Đức. Có khi bố biết đấy: Milena Bergman.
Đúng như tôi hy vọng, một tia sáng lóe lên trong mắt ông.
– Đương nhiên bố biết người đó! Bố có gần hết đĩa nhạc của con bé. Schubert, Debussy, Satie...
Tôi thích sự hoài nghi trộn lẫn tò mò và thích thú mà tôi đọc được trong mắt ông.
– Nhưng, hai đứa... đang hẹn hò thật à?
– Vâng, được một tháng rồi.
– Tuyệt vời quá! Kể cho bố đi! Con bé ngoài đời thế nào?
Quả bom được thả xuống như vậy đấy. Một câu nói vô thưởng vô phạt trong bữa trưa bên bờ sông nhằm thu hút sự chú ý của bố tôi. Để nhỏ vài giọt xăng cho động cơ của ông. Và cỗ máy đã vận hành. Chúng tôi gọi nhiều tách cà phê trong lúc buôn chuyện suốt hơn một giờ. Tôi sa lầy vào thứ mình giỏi làm nhất: bịa chuyện, lừa phỉnh, dối trá. Và tôi đang có một ngày trọng đại. Nụ cười của ông tiếp thêm cho tôi thật nhiều chi tiết mới. Dần dần, tôi bị cuốn vào trò chơi. Câu chuyện tôi kể ngày càng nhất quán và chi tiết. Tôi vẽ nên nhân vật Milena Bergman đúng theo cách mà tôi biết sẽ làm ông hài lòng: pha trộn giữa một cô nàng tóc vàng Scandinavia và nét nhiệt tình Địa Trung Hải. Một người kín đáo, phụ nữ của gia đình, luôn san sẻ và ủng hộ. Phiên bản trái ngược với mẹ. Càng nói, tôi càng thấy ông thay đổi. Tôi đẩy mạnh lợi thế của mình: tôi phác ra khả năng về một cuộc hôn nhân và có lẽ không lâu nữa là một gia đình. Chỉ trong một giờ, tôi đưa được ông trở lại cuộc đời. Cuối bữa, lúc lên xe, vấn đề đã giải quyết xong: ông sẽ bán căn nhà, đến nhà tôi ở và bắt đầu làm hóa trị càng sớm càng tốt.
4.
Năm 1971, thị trấn nhỏ Illiers, tỉnh Eure-et-Loir, yêu cầu đổi tên thành Combray, tên địa danh được Proust mô tả và trở nên nổi tiếng trong cuốn Đi tìm thời gian đã mất. Tôi thích câu chuyện ấy. Nó chứng minh cho sức mạnh của sự hư cấu: tạo ra được một vũ trụ đôi khi thay thế thực tại.
Tôi tự bịa ra mối quan hệ với Milena Bergman và bây giờ, tôi phải biến nó thành sự thật. Với một quy mô hạn chế: vì bố tôi là cảnh sát. Tôi sẽ chẳng thể đánh lừa ông được lâu nếu không hiện thực hóa lời nói dối.
Tôi quả thực rất may mắn khi lựa chọn Milena Bergman, người mà tôi chẳng biết được mấy điều: cô ấy hoàn toàn kín tiếng về đời tư. Cô ấy có tài khoản Instagram, nhưng thông tin trên đó rất hạn chế và có lẽ chỉ mỗi nhà phát hành đĩa là đăng bài. Những bài phỏng vấn hiếm hoi tôi đọc được cho phép tôi trích một vài thông tin hữu ích để đưa vào cuộc nói chuyện với bố.
Hiểu rõ mình cần thêm vũ khí đạn dược, tôi đến tìm Julien Hoarau, tay thiết kế đồ họa hành nghề tự do, chuyên thiết kế bìa tiểu thuyết cho tôi. Là người đam mê hình ảnh, Hoarau từng làm đủ thứ nghề: từ quảng cáo, anh chuyển sang thiết kế trang web, dựng phim ngắn và làm clip quảng bá sách. Không nói rõ chi tiết, tôi nhờ anh làm giả vài cảnh có tôi đứng cùng Milena, dùng mấy tấm hình cô nghệ sĩ lấy được trên mạng. Thành quả rất ấn tượng và đáng giá với tôi vì có thể kéo dài thêm vài tuần, nhưng bấy giờ bố tôi lại muốn một điều: gặp mặt cô ấy.
Ở vào tình thế không thể quay đầu, tôi tìm một phương án thoát khỏi hậu quả của những lời nói dối. Không có giải pháp nào. Tôi quyết định tiết lộ mọi chuyện với bố nhưng khi đứng trước ông, quyết tâm ấy lại xẹp lép. Phác đồ điều trị khiến ông kiệt quệ. Tôi cảm tưởng việc thú nhận sự thật sẽ đẩy ông xuống mồ nhanh hơn. Người duy nhất tôi yêu thương trên đời và người có ánh mắt mà tôi vô cùng trân trọng sẽ chết đi, mang theo hình ảnh thằng con trai phản trắc thảm hại. Tôi phải bảo toàn cái vỏ bọc ấy đến cùng. Chính Hoarau, người mà tôi đành phải kể toàn bộ câu chuyện, đã đưa ra ý tưởng quyết định dưới dạng một câu đùa cợt: “Anh chỉ việc thuê một cô diễn viên đóng vai Milena trước mặt bố anh là được mà?” Cái kịch bản phi lý ấy luẩn quẩn trong đầu tôi vài ngày. Tôi có một người đại diện chuyên quản lý vấn đề sở hữu trí tuệ đối với các tác phẩm nghe nhìn cho các cuốn sách của mình. Tôi nhờ cậu ta giúp tôi gặp một đạo diễn tuyển vai. Cậu ta đề xuất Adrienne Koterski, người được cậu ta cho là một trong những người giỏi nhất Paris.
– Tôi biết một người phù hợp với anh đây, Koterski cam đoan với tôi trong điện thoại.
Bà sắp xếp cho tôi gặp một cô Garance de Karadec nào đó vào buổi xế chiều tại sân hiên quán Zimmer, cạnh nhà hát Châtelet. Tôi đến muộn và mất năm phút tìm cô ta vì cô ta không hề giống Milena. Tóc không vàng cũng chẳng nâu, Garance de Karadec mờ nhạt trong đám đông. Chiều cao trung bình, khuôn mặt góc cạnh, đường nét chẳng sắc sảo, đôi mắt nhạt màu nhưng lơ đãng, tóc dài quá vai đã xơ còn rối. Về mặt trang phục, cô ta nửa giống tranh biếm họa sinh viên khoa xã hội, vừa giống bà giáo tiểu học theo cánh tả hồi tôi còn bé. Tất cả đều ở đó: quần ống túm nhàu nhĩ, khăn choàng Palestine, áo gi lê da cừu và giày Pataugas kaki.
Tôi khó giấu nổi vẻ thất vọng, nhưng vì phép lịch sự, ít nhất tôi cũng bắt chuyện. Cô ta giới thiệu ngắn gọn hoàn cảnh bản thân: cô ta đang dạy lớp ứng biến diễn xuất tại các trường, đã đóng một vài vai nhỏ, từng phụ trách trang phục cho các dự án nghiệp dư và tham gia biểu diễn với một đoàn kịch. Sau ba phút đầu, tôi những muốn bỏ đi. Với cái túi len đan của cô ta, tôi dễ dàng hình dung cảnh Garance de Karadec phát truyền đơn kêu gọi “quy tụ đấu tranh” ở cửa các giảng đường. Nhưng chưa một khắc nào tôi thấy cô ta có thể hóa thân thành Milena Bergman.
– Tôi sẽ không làm mất thì giờ của cô, tôi vừa nói vừa giơ tay gọi thanh toán. Tôi nghĩ Adrienne Koterski không hiểu người tôi cần tìm.
– Ít nhất ta có thể thử!
– Không, chẳng ích gì đầu. Không muốn cô phật lòng chứ giữa cô với nhân vật của tôi không có điểm chung.
Tôi đặt một tờ tiền lên bàn và bỏ cô ta lại với nơi sân hiên lồi ra đầy ghê tởm. Những ngày sau đó, tôi quên tiệt cái kế hoạch gàn dở này. Sức khỏe của bố tôi ngày càng suy sụp. Liệu pháp hóa trị đúng là một thất bại và cái chết đang vững vàng thắng thế. Nhưng một tuần sau đó, một tối lúc về nhà, tôi thấy bố tươi cười vui vẻ đang uống rượu khai vị ngoài sân hiên cùng cô gái ông tưởng là... Milena Bergman. Đó không phải bắt chước. Mà là hóa thân thực sự. Tài biến hóa của Garance de Karadec quả thực đáng sợ. Cô ta có mọi thứ: âm sắc nhẹ nhàng, giọng nói uyển chuyển, tư thế đầu, mái tóc vàng óng ả, vẻ sang chảnh của những tiểu thư trâm anh thế phiệt pha thêm nét thu hút người khác. Ngay cả quần áo cũng ăn rơ: vòng tay tráng men, áo len cashmere hiệu Loro Piana, nước hoa thoang thoảng kín đáo, áo khoác dài Heritage. Làm sao một cô diễn viên quèn có thể biến hóa đến vậy? Cô ta lấy tiền đâu để mua đống quần áo ấy? Tôi hết sức kinh ngạc - và hạnh phúc khi thấy bố mình sung sướng - nên bèn cất đi những thắc mắc.
Thấy tôi về, bố tôi đề xuất chuẩn bị bữa tối. Chúng tôi trải qua một buổi tối tuyệt vời giúp ông vực lại tinh thần. Những tuần sau tình huống lặp lại nhiều lân. Garance hoàn toàn nhập tâm vào vai diễn. Chúng tôi đã thỏa thuận tiền nong, song cô diễn viên vẫn là một bí ẩn đối với tôi. Tháng Chín, bị căn bệnh hành hạ, bố tôi nhập viện và bác sĩ lạnh lùng cam đoan rằng “ông sẽ không trụ được quá mười ngày”. Thế rồi, để ông được ra đi nhẹ nhàng, tôi lại chìm sâu hơn vào những lời nói dối. Nên tôi vờ rằng Milena và tôi sắp có con.
5.
Mười ngày sau, bố tôi vẫn sống. Hai tháng sau lời tiên tri báo tử, ông trở về nhà, bám trụ lấy cuộc sống nhờ một phương pháp điều trị mới dựa trên liệu pháp miễn dịch và ông đã có phản ứng tốt.
– Lão sư tử già vẫn còn gầm được, ông nhận xét. Bố sẽ có cơ hội nhìn mặt cháu gái.
Ông tự huyễn hoặc rằng “Milena” đang mang thai một bé gái và chỉ chờ xác nhận của kết quả siêu âm giai đoạn tam cá nguyệt thứ hai. Một lần nữa, tôi cảm thấy giằng xé. Vừa hạnh phúc và nhẹ nhõm khi thấy bố bám lấy sự sống, nhưng cũng kinh hãi khi nghĩ đến hậu quả của lời nói dối này. Tôi không tài nào chợp mắt. Bị dồn vào chân tường. Dao kề cổ. Tôi biết rằng không những không có bất cứ giải pháp nào giúp tôi thoát khỏi mớ rắc rối này, mà chuyện mang thai bịa đặt còn thêm vào những lời dối trá một hạn chót không thể đẩy lùi.
Tuy nhiên, lần này cũng vậy, có một chuyện đã cứu vãn tôi. Một sự kiện bi thảm. Một trong những thảm kịch lớn nhất trong lịch sử hàng không hiện đại. Ngày 8 tháng Mười một, chuyến bay AF 229 gặp tai nạn trên Đại Tây Dương, toàn bộ hành khách tử vong, trong đó có nghệ sĩ dương cầm Milena Bergman. Chỉ trong vài giờ, tình cảnh của tôi đã được giải quyết nhờ một tai nạn máy bay tàn khốc.
Tôi cho Garance de Karadec nghỉ việc và, trước mặt bố, tôi miễn cưỡng vào vai cậu con trai mà ông phải bảo vệ. Tôi trở thành một kẻ “u ám, góa vợ, cần được an ủi”. Hồi phục nhờ liệu pháp miễn dịch, vị trưởng lão không chịu gục ngã. Bố trở lại vai trò trụ cột gia đình và coi sóc tôi như khi tôi lên mười. Căn bệnh của ông thuyên giảm đầy ngoạn mục. Nhiều tháng trôi qua, thời gian cho phép tôi cởi dần vỏ bọc của một người mới góa vợ. Bố con tôi vô cùng hòa hợp. Cuộc sống tiếp diễn. Bố tôi trở lại làm việc; tôi lao vào viết tiểu thuyết mới.
Tôi không bao giờ nghe nói đến Garance de Karadec nữa. Tôi gần như quên bẵng sự tồn tại của cô ta. Cho đến khi một nữ cảnh sát đến sào huyệt bí mật tìm tôi để trả tôi cái đồng hồ Garance từng đeo.
Chú thích:
[1]Tên khác của nam diễn viên người Pháp Jean-Paul Belmondo.