Bạn là nhà văn bởi chỉ làm chính bạn thì không đủ. Tôi cần làm diễn viên bởi chỉ là mình thì không đủ cho tôi.
Joyce Carol OATES
ROXANE
1.
Văn phòng của Adrienne Koterski tọa ở đường Lincoln, quận 8, trên tầng bốn của một tòa nhà nhìn được ra phố lẫn một khoảnh sân nhỏ trải thảm tuyết đang tan dần. Mặt trời thình lình trở lại để chấm dứt những mộng tưởng về một kỳ “Giáng sinh trắng”. Roxane sắp sửa nhấn chuông thì một phụ nữ trẻ - dáng người mẫu, đeo kính râm và tai nghe dính vào tai - đã đẩy cửa văn phòng, nói qua điện thoại về chuyện thử vai bằng chất giọng pha giữa tiếng Anh và Do Thái. Nữ cảnh sát lợi dụng lúc cửa mở để lách vào trong.
Vào giờ ăn trưa của cái ngày 24 tháng Mười hai này, chẳng có ai ở quầy tiếp tân. Trong tầng nhà hoang vắng, Roxane men theo hành lang lát gỗ vàng với hai bức tường treo đầy áp phích phim nghệ thuật. Ở cuối hành lang ngoằn ngoèo là phòng chụp ảnh nơi để lọt vài giọng nói bập bõm. Roxane đẩy cánh cửa đang hé. Căn phòng rộng thênh thang, xung quanh là các vách màu ghi sáng, là nơi để đèn chiếu, tấm hắt sáng và một bàn trộn âm thanh. Một ê kíp nhỏ đang thử vai cho một vai nữ. Ngồi trên ghế đẩu giữa phòng, Adrienne Koterski với mái tóc dài vàng rực đang đọc thoại với một nữ diễn viên. Hai kỹ thuật viên hỗ trợ, một người cầm máy quay, người kia đứng sau một chiếc bàn chân quỳ.
– Cảnh sát đây, các vị! Tạm dừng chút nào! Roxane hướng về hai người đàn ông và hô lên.
Cô hất cằm với nữ diễn viên để bảo cô ta cũng ra ngoài. Khó chịu trước bầu không khí tù túng và ánh đèn tù mù, cô kéo tấm rèm cuốn tự động lên để đưa ánh nắng vào rồi cướp chỗ của cô nàng thử vai, ngồi đối diện với bà đạo diễn, người nãy giờ nhìn cô chằm chằm mà không cất tiếng nào.
– Cô đến thử vai à? cuối cùng bà cũng hỏi.
– Không, hôm nay người thử vai là bà mới đúng, Roxane đáp rồi chìa thẻ cảnh sát. Tôi muốn bà cho tôi biết về Garance de Karadec.
– À, Garance, chắc chắn rồi... bà thở dài, trầm ngâm. Ít nhất thì không có chuyện đáng tiếc gì xảy ra với cô ấy chứ?
Adrienne Koterski nhuộm tóc vàng bạch kim và có làn da khô queo đang bong tróc như một ngày 15 tháng Tám đầy nắng. Bà giấu ánh mắt sau cặp kính ánh xanh gọng bát giác. Dáng cao lòng khòng, bà đi đôi xăng đan cao gót, mặc váy và áo khoác bò ôm sát người.
– Bà quen cô ta lâu rồi à?
– Được bốn, năm năm. Cô chưa trả lời tôi: có chuyện gì với cô ấy à?
Khuôn mặt bà để lộ vẻ lo lắng không giấu giếm.
– Trả lời câu hỏi của tôi trước.
– Đúng là cảnh sát..., Koterski thở dài.
Roxane bắt đầu vở diễn.
– Tôi chỉ nghĩ công việc của tôi không khác việc của bà cho lắm.
– Tức là sao?
– Tìm kiếm người tài, cũng gần giống truy bắt tội phạm đấy nhỉ? Có nét giống các tay thợ săn. Ta đều thám thính địa điểm để tiếp xúc với con mồi.
– Tùy cô nghĩ. Dù sao tôi chính là người đã phát hiện Garance, chắc chắn thế.
– Kể tôi nghe đi. Ở đâu?
– Trong một nhà hát khá bẩn thỉu. Một phòng biểu diễn ở ngoại ô.
Koterski châm một điếu thuốc, đủ thời gian để khơi lại những hồi ức.
– Ngày nay rất nhiều thứ đang chuyển sang dạng kỹ thuật số, nhưng tôi thì không, tôi theo trường phái xưa cũ. Tôi chẳng ngại cáng đáng những buổi diễn nghiệp dư ở ngoại ô, kể cả những màn tệ hại nhất, vì mong muốn khai quật được một viên đá quý. Khi tôi nhìn thấy Garance biểu diễn lần đầu, cô ấy là thành viên của đoàn diễn viên ứng diễn không chút tiếng tăm, chịu ảnh hưởng của Living Theatre.
– Tôi chẳng biết gì về những thứ đó đâu, Roxane vừa thừa nhận vừa ngồi thẳng người dậy trên chiếc ghế đẩu không thoải mái.
– Công ty Living Theatre được một cặp vợ chồng theo chủ nghĩa vô chính phủ thành lập ở New York, có thời hoàng kim vào những năm 1960. Phương châm của họ là cho phép khán giả tham gia vào tạo dựng bối cảnh sân khấu. Phá bỏ ranh giới giữa diễn viên và khán giả...
– Nói cho rõ ra thì là thế nào? Khán giả có thể trở thành diễn viên và tự ứng biến vào vở kịch ư?
– Chính thế. Sẽ có những lệch lạc mà ta có thể hình dung, gắn với tư tưởng tự do thời bấy giờ. Các diễn viên đôi khi có hành vi quan hệ tình dục ngay trên sân khấu và mời khán giả tham gia cùng. Họ còn đưa cả dân nghiện ma túy đến tham gia vở kịch. Tóm lại là khá cấp tiến và ghê tởm...
Roxane tập trung vào cuộc điều tra, cô cố gắng liên kết trong đầu những gì bà đạo diễn nói với các yếu tố đã biết nhưng chẳng ích gì.
– Mục đích là gì?
– Chất vấn mối quan hệ giữa thực tại và hư cấu. Sử dụng vở kịch như một lối thoát cho những ham muốn bị xã hội đè nén.
Koterski căng thẳng rít liền hai hơi thuốc rồi trở lại câu chuyện về Garance.
– Tóm lại, ngay cả trong một buổi diễn ngớ ngẩn như thế, tôi vẫn lập tức cảm nhận được điều gì đó trong cô gái này. Một nét diễn độc đáo, tràn đầy sức sống với sức hút quyến rũ. Tôi đến gặp cô ấy để đề xuất thử vai và mời về công ty. Cô ấy đáp “sao lại không chứ”, nhưng không bao giờ đến!
Bà đứng dậy lấy cốc giấy làm gạt tàn. Bà hé cửa sổ và hút tiếp trong ánh sáng lợt lạt của mặt trời ngày đông.
– Tôi mới là người phải chạy theo cô ấy. Dần dần, tôi tìm hiểu và nhận ra mình đã nhầm to: Garance không chỉ có “điều gì đó”, mà đích thị là một diễn viên xuất chúng.
Roxane thở dài. Cô vắt óc cố hiểu một diễn viên xuất chúng thì có nghĩa lý gì. Với cô, tất cả những thứ ấy chỉ là sáo rỗng. Nảy sinh từ cái óc tự sướng của đám trí thức học đòi. Nhưng giờ không phải lúc công kích người đối thoại.
– Điểm đặc biệt của cô ta là gì? cô hỏi. Với bà, cô ta có gì nổi bật?
– Trước hết, cô ấy là một nhân tài hiếm có: có khả năng diễn mọi vai. Garance là diễn viên hoàn hảo. Cô biết Meryl Streep hay Dustin Hoffman những năm 1980 không? Họ xuất sắc trong cả vai trò biểu tượng tình dục lẫn một người vô danh bình thường. Những người như thế sẽ không yên phận nhốt mình trong rương. Họ có khả năng biến hóa khôn lường.
Roxane bíu môi nghi ngờ.
– Tôi khó mà hình dung cụ thể được điều bà nói. Ngoài những câu từ có sẵn được thổi phồng.
– Tôi hiểu, Koterski vừa đáp vừa dập tắt điếu thuốc. Lại đây xem này.
Bà di chuyển đến chỗ chiếc bàn chân quỳ nơi có đặt một máy tính xách tay.
– Suốt một thời gian dài, các diễn viên tham vọng từng luôn cắp nách một cuốn sách ảnh. Ngày nay, mỗi người đều có bản giới thiệu của mình trên các trang web lưu trữ video.
Vài giây sau, màn hình máy tính chiếu một clip gồm các đoạn cắt từ phim ngắn và kịch. Những hình ảnh chứng tỏ khả năng diễn xuất đáng kinh ngạc của Garance de Karadec. Điểm ấn tượng nhất trong đoạn clip là những nhân vật đa dạng mà cô diễn viên hóa thân, đa dạng tới mức qua từng cảnh quay, ta khó mà tin được đây là cùng một người.
– Nhìn thì đơn giản bởi cô ấy có thiên phú, nhưng để thể hiện được trọn vẹn những vai diễn khác nhau đến vậy thì vô cùng khó, Adrienne Koterski chỉ rõ. Một mặt là nhờ bản năng và năng khiếu, nhưng cũng phải tìm tòi nghiên cứu và vất vả nhiều mới có thể tiếp cận được bản chất của nhân vật. Máy quay và sân khấu đều ưu ái cô ấy. Ngay khi cô ấy xuất hiện, điều gì đó sẽ xảy ra.
Trong giọng của bà vừa có sự ngưỡng mộ lẫn dịu dàng.
– Tôi hiểu những gì bà nói, Roxane tán thành, nhưng có một điều tôi băn khoăn: nếu Garance sở hữu tài năng vượt trội đến vậy, tại sao cô ta không tìm một vai diễn xứng tầm trên sân khấu hoặc điện ảnh?
Vị đạo diễn tuyển vai thở dài thườn thượt.
– Cô đã chỉ ra điểm đặc biệt thứ hai của cô gái, điểm khác biệt so với mọi diễn viên tôi biết: Garance không thực sự đòi hỏi đi diễn.
2.
– Cô biết ở Pháp có bao nhiêu người làm việc trong ngành điện ảnh không? Adrienne Koterski hỏi.
Roxane - người không thích bị bắt bẻ - nói bừa một con số.
– Ba mươi nghìn?
Hai người phụ nữ đã di chuyển sang gian bếp nhỏ ngay sát phòng chụp. Bà đạo diễn rót nước nóng vào hai cái cốc trên bàn: trà cho bà, cà phê hòa tan cho Roxane.
– Ba trăm nghìn, Koterski thông báo, trong đó có hơn năm mươi nghìn diễn viên. Chưa kể mấy cô nàng chơi trò công chúa trên Instagram, vô vàn người chơi truyền hình thực tế, người mẫu đủ kiểu tìm cách chen chân bằng mọi giá, v.v. Tóm lại, ở Pháp ai cũng nghĩ mình có thể làm diễn viên.
Roxane đã thấy thứ mình cần. Cô mớm lời bà bằng cách nhận xét.
– Trong khi số lượng vai diễn rất hạn chế...
Koterski gật đầu đồng tình.
– Công ty tôi chuyên làm phim nghệ thuật. Tôi phải ráo riết tuyển cho được một trăm rưỡi đến hai trăm vai diễn mỗi năm. Vì thế, nghề của tôi là nói “không”. Là dập tắt mộng tưởng của cái tôi quá cao và mong manh. Và không một ai từ chối khi được tôi mời diễn. Kể cả khi đó chỉ là một vai phụ trên phim truyền hình, tôi cũng có đến năm mươi nữ diễn viên cạnh tranh nhau. KHÔNG MỘT AI từ chối, trừ... Garance de Karadec.
Roxane nhận thấy ở Koterski có một cảm xúc gần như trách yêu. Bà trầm ngâm mở gói bột tạo ngọt rồi đổ vào cốc trà nóng. Cầm cốc của mình, Roxane phân tích câu nói được cho là của Marlon Brando: “Diễn viên là người không lắng nghe bạn nếu bạn không nói về anh ta.”
– Ba năm trước, Garance thẳng thừng từ chối Jacques Audiard, bà đạo diễn nói tiếp với giọng cáu bẳn. Năm ngoái, chính tôi đã mở buổi tuyển vai diễn người Pháp cho phim tiếp theo của David Fincher, khoảng một trăm cô gái đến ứng tuyển và đoán xem người duy nhất ông ấy chọn là ai? Tất nhiên là Garance! Phải tội quý cô Karadec không hứng thú với bộ phim. Cô ấy đến thử vai vì thấy thích, nhưng chỉ dừng lại ở đó. Thật phí phạm khi sở hữu một tài năng như thế mà không sử dụng!
Giờ đây, sự ngưỡng mộ đã biến thành tức tối rồi phẫn nộ.
– Thế cô ta tìm kiếm điều gì? Roxane hỏi.
– Thứ cô ấy quan tâm chính là trải nghiệm và thử thách của vai diễn. Diễn xuất. Chứ không phải danh vọng. Không phải trở thành ngôi sao mới. Garance đam mê sân khấu kịch. Cô ấy thông thạo văn học cổ điển và hiểu biết về những cuốn sách nổi tiếng, nhưng với cô ấy, chỉ có diễn xuất mới đạt được hiệu suất toàn diện. Cô ấy sẽ nói đi nói lại với cô rằng cô ấy chỉ cảm thấy mình đang sống trong lúc diễn. Rằng sân khấu thật thần kỳ, bởi mọi thứ đều sụp đổ trong nháy mắt. Một cô nàng lập dị thực sự.
Roxane đổi chủ đề.
– Cái họ Karadec gốc ở đâu? Tôi đoán là Bretagne.
– Đúng. Garance xuất thân trong một gia đình quý tộc lâu đời. Bố cô ấy, Abel Toussaint de Karadec, là một nhà ngoại giao khá xuất chúng, từng giữ chức vụ quan trọng thời tổng thống Mitterrand. Mẹ cô ấy, Tiphaine de Karadec, là nhà tâm lý học ủng hộ Mao Trạch Đông. Vợ chồng họ nghiện thuốc phiện và cuối cùng lao vào heroin. Bị sa sút trí tuệ trong thời gian ở bệnh viện tâm thần, cả hai qua đời vì kiệt quệ, tại biệt thự của họ trên đảo Finistère.
– Khi đó Garance bao nhiêu tuổi?
– Tôi đoán là mười bảy, mười tám. Học xong, cô ấy sang Anh theo một chương trình trao đổi vừa học vừa làm. Ở đó, cô ấy gặp một gã kỳ quặc, Amyas Langford, diễn viên ngườ Anh, kẻ lập ra đoàn diễn viên. Hắn là một tên bất lương, vô cùng điên rồ.
Một tín hiệu vang lên trong đầu Roxane.
– Nói thêm đi.
Koterski châm điếu thuốc mới, như thể cần thêm một liều nicotin nữa để kích hoạt trí nhớ.
– Amyas là cựu sinh viên của Học viện Nghệ thuật Sân khấu Hoàng gia, trường sân khấu lâu đời và danh giá nhất Anh quốc. Lẽ ra hắn cũng phải có một sự nghiệp tuyệt vời. Hắn đóng nhiều vai trong các phim của đài BBC. Việc hắn là một huyền thoại ngắn ngủi, tôi tin là có cơ sở. Vài năm trước, khi đóng vai chiến sĩ kháng chiến trong phim truyền hình về Thế chiến thứ hai, hắn đã đẩy độ chân thực đến mức tự cấy một cái răng rỗng với viên xyanua thật bên trong! Đấy là một chút về con người hắn...
– Ồ, hắn cũng thuộc trường phái nghệ thuật vị nghệ thuật à?
– Còn triệt để hơn thế. Amyas Langford là một gã cực đoan, gần với giới theo chủ nghĩa chống tư bản và vô chính phủ. Hắn ủng hộ loại hình sân khấu tổng thể, có tính xung đột và cách mạng.
– Thực tế thì đó là gì ?
– Là thứ vớ vẩn. Những vở kịch trữ tình sến sẩm to tát - gạt bỏ giới hạn của sân khấu, đưa kịch nghệ vào cuộc đời, làm lu mờ ranh giới giữa nghệ thuật và cuộc sống - nhưng đặc biệt là rất nhiều chi tiết kích động rẻ tiền. Tôi vẫn nhớ vở kịch tôi từng xem. Amyas muốn tái hiện khoảnh khắc happening do Peter Brook nghĩ ra. Cuối vở diễn, các diễn viên thả những con bướm thật có đôi cánh bốc cháy về phía khán giả. Đó là mánh của họ: khiến khán giả khó chịu và đưa sự khó chịu ấy vào vở diễn.
Roxane đặt điện thoại lên bàn. Chiếc Iphone để ở chế độ im lặng nhưng cô luôn liếc nhìn màn hình mỗi khi có tin nhắn đến. Sau màn tẩu thoát thất bại của Batailley, Botsaris đã được cho lui và đi nghỉ với gia đình. Sorbier đích thân tiếp quản nhóm điều tra. Dù không thể chính thức phục chức cho Roxane, anh thừa nhận mình cũng không thể làm tốt hơn cô trong vụ này. Vì thế Liêm tiếp tục gửi tin tức cho cô, lần này có sự cho phép của big boss[1]. BNRF đã chuyển tên Garance de Karadec sang nhiều bộ phận khác, nhưng hiện tại chưa thu hoạch được gì nhiều. Chỗ ở cuối cùng Garance đăng ký đã được thuê lại kể từ khi cô ta chuyển nhà, cô ta không có trong hệ thống thuế và chỉ có vỏn vẹn vài giao dịch ngân hàng. Vừa nghe Koterski nói chuyện, Roxane vừa tìm hình của Amyas Langford trên Google Hình ảnh - cô chỉ tìm được một tấm và bắn qua tin nhắn cho Valentine, kèm theo câu hỏi: Hỏi anh chàng phóng viên của cô xem có phải gã này là người tuồn thông tin để hắn viết bài không.
– Theo bà, Garance có chịu ảnh hưởng của Langford không?
– Chắc chắn hắn đã ảnh hưởng không tốt đến cô ấy. Amyas ủng hộ cô ấy theo hình thức cực đoan, từ chối mọi loại hình biểu diễn sân khấu hay điện ảnh thương mại, phản đối mọi quy tắc đã có từ trước. Tôi sinh ra ở Ba Lan những năm 1970. Gia đình tôi hiểu cái ách toàn trị đến tận xương tủy và tôi không đồng cảm nổi với những người muốn làm cách mạng bằng những bài đăng trên Twitter với chiếc iPhone đời mới.
Roxane bật cười.
– Bà nghĩ hắn có thể đối xử hung bạo với cô ta không?
– Có thể lắm. Có điều này cô cần biết về Garance. Đám đàn ông như phát điên khi tiếp xúc với cô ấy. Như thể bị bỏ bùa mê thuốc lú. Còn Amyas lại thiên về dạng thích sở hữu. Nếu hắn có phát cuồng thì tôi cũng chẳng lấy làm kinh ngạc.
Bà im lặng vài giây rồi hoàn thiện bức chân dung tâm lý của cô gái được bà che chở.
– Garance là một cô gái phức tạp. Hơi kỳ quái nhưng rất cuốn hút. Một cô nàng lãng mạn đang tìm kiếm điều tuyệt đối. Cô ấy mang trên mình một vẻ sầu muộn tăm tối. Nhưng bây giờ thì tôi muốn biết: cô đến thẩm vấn tôi vì Garance bị tình nghi trong một cuộc điều tra hay cô ấy là nạn nhân của chuyện gì đó?
– Chúng tôi nghĩ cô ta đã bị bắt cóc.
– Ai bắt cóc? Amyas à?
– Có lẽ thế. Bà đã bao giờ nghe Garance nói về tín ngưỡng thờ Dionysus chưa?
– Chưa, nhưng đoàn diễn mà cô ấy cùng Amyas thành lập...
– Vâng..?
– Tên đầy đủ của nó là Gánh hát rong của Dionysus.
Roxane cảm thấy một lượng adrenaline tưới đẫm cả cơ thể. Không nghi ngờ gì nữa, cô đang tiếp cận kẻ chủ mưu giật dây đằng sau vụ án đen tối này.
– Và cô không phải người đầu tiên hỏi tôi những câu này, Koterski nói tiếp. Một đồng nghiệp của cô đã đến gặp tôi cách đây hai tuần.
– Sao cơ?
– Tên ông ấy giống một loại vang.
– Loại nào?
– Château Batailley.
Roxane gật đầu. Hẳn rồi, một cảnh sát như Marc Batailley sao để mình bị trò ngớ ngẩn của cậu con trai lừa được. Lúc rơi vào hôn mê, Batailley đang điều tra về Gánh hát rong của Dionysus và có thể đã lần ra được đường dây của chúng.
Một loạt tin nhắn mới của Liêm kết thúc bằng dấu chấm than. Một nhân viên phục vụ phòng của một khách sạn tại Orléans đã báo cho quản lý sau khi phát hiện trong phòng tắm tấm da thú dính máu và một mặt nạ có sừng dê. Máy quay an ninh đã ghi lại hình ảnh hành lang và cửa ra vào khách sạn.
Ảnh chụp màn hình từ máy quay hiện trên điện thoại cô. Chính là Amyas Langford!
Cô định gửi tin nhắn cho Liêm thì điện thoại rung lên. Sorbier himself.
– Sếp! cô nghe máy rồi nói, tôi biết gã trong đoạn dip của khách sạn là ai!
– Tôi cũng vậy, chỉ huy BNRF điềm đạm đáp. Amyas Langford, chúng tôi vừa xác định được danh tính hắn ta.
Cô khó giấu nổi vẻ thất vọng.
– Tôi có thể giúp gì anh?
– Tôi muốn biết cô đã sẵn sàng chưa.
– Sắn sàng cho chuyện gì?
– Cho một cuộc đi dạo nhỏ. Tôi đợi cô ở dưới.
– Dưới đâu cơ?
– Đường Lincoln.
Roxane mở cửa sổ nhìn xuống. Cô phát hiện con Peugeot của Sorbier đỗ ở góc đường François-I.
– Ta đi đâu vậy?
– Căn cứ quân sự Villacoublay. Tôi sẽ giải thích cho cô trên đường đi.
[1]
Tiếng Anh trong nguyên bản, nghĩa là: Sếp lớn.
.
MARC
3.
Tôi là Marc Batailley. Tôi sáu mươi hai tuổi. Thân xác tôi rã rời còn tâm hồn thì đau đớn. Lõm lồng ngực, gãy xương đòn, tổn thương cột sống, thủng phổi. Còn miệng, tôi thậm chí còn không nói nổi. Tâm trí mù mờ của tôi bơi trong trạng thái mơ hồ giả tạo vì hôn mê do thuốc. Cả đời tôi thường xuyên đổ bệnh. Tôi bị tấn công nhiều hơn đi tấn công, nhưng lần nào tôi cũng vực dậy được. Nhờ một chút nghị lực và rất nhiều may mắn. Mình đồng da sắt nhưng trái tim tôi rớm lệ. Tuy vậy lần này, tôi sợ. Không phải sợ cho tôi, mà cho những người khác, đầu tiên là con trai Raphaël của tôi. Tôi phẫn nộ vì nằm bất động trên giường bệnh, không thể động đậy một ngón tay hay nói được lời nào dù nhỏ nhất, trong khi tôi biết guồng máy hiểm họa sắp khởi chạy.
Như thường khi trong cuộc sống, một chủ ý đáng khen luôn là khúc dạo đầu cho thảm kịch. Lời nói dối của thằng bé... Tôi rùng mình khi nghĩ lại chuyện ấy. Và cả tức giận. Tôi những muốn tin câu chuyện của Raphaël, hẳn rồi, nhưng tôi không hiểu nổi sao mình có thể mù quáng đến mức ấy suốt một năm trời! Chính bài báo trên tờ Week’nd đã làm tôi tỉnh ngộ. Lễ Giáng sinh Chính thống giáo ở Courchevel, trong khi thời điểm đó Milena Bergman đang lưu diễn ở Nhật. Tôi tự trách mình cả tin, nhưng lời nói dối của Raphail khiến tim tôi thắt lại. Bởi tôi biết trong chuyện này mình có phần trách nhiệm lớn. Và bởi đó là minh chứng to lớn cho tình yêu.
Nhưng là cảnh sát, có một chuyện thu hút tôi. CÔ GÁI ĐÓ. Sao cô ta có thể qua mắt được tôi? Sao có thể diễn một cách thuyết phục không chút sơ hở như vậy? Vì ngại nên tôi kiềm chế không nói với Rapha. Nhưng để hiểu rõ ngọn ngành, tôi quyết định tự mình điều tra. Cô ta là ai? Lai lịch thế nào, động cơ là gì? Sao cô ta có khả năng thực hiện màn diễn xuất đòi hỏi nhiều công sức và nỗ lực như vậy?
Trên cuống tập séc của Raphaël, tôi tìm ra tên cô ta: Garance de Karadec. Nhưng chừng ấy chưa giải đáp được thắc mắc của tôi. Có rất ít thông tin về cô ta trên mạng, nhưng vẫn đủ để tôi phác ra được chân dung ban đầu. Một người làm trong ngành sân khấu kịch, diễn viên thời vụ trong một đoàn kịch không chút tên tuổi. Tôi cần biết thêm. Bằng phương pháp cổ điển với bột than chì, một cây cọ và một mẩu băng dính: tôi cố lấy dấu vân tay mà có thể cô ta đã để lại trên tập đĩa nhạc của Milena Bergman cô ta tặng tôi. Tôi lấy được hai mẫu có khả năng phân tích. Điều gì đó nói với tôi rằng không phải không có khả năng cô gái từng có tiền án tiền sự. Và giác quan thứ sáu của cảnh sát đã xui khiến tôi tiếp tục bí mật điều tra.
Để không bị phát hiện, tôi giao vân tay cho Vincent Tircelin, một tay cảnh sát dễ bị mua chuộc, tôi từng làm việc cùng cậu ta ở Sư đoàn Cảnh sát Tư pháp Versailles. Với bốn trăm euro, cậu ta đồng ý tra trên Cơ sở dữ liệu Vân tay Tự động. Khi trả kết quả, cậu ta trưng bộ mặt hoảng hốt của một người trót nhúng cả hai chân vào rắc rối sau khi tưởng đã yên ổn trong thế giới của mình.
– Ông lôi chúng ta vào chuyện quái gì thế, Batailley? cậu ta bực bội hỏi.
Dấu vân tay, dù không xác định được danh tính, nhưng có trong cơ sở dữ liệu vân tay, liên quan đến một án mạng từ năm 2017! Nó được lấy mẫu ở Avignon, trên thùng rác nơi phát hiện thi thể của một cựu quân nhân. Tôi đã cật lực khuyên Tircelin quên chuyện này đi và tôi bắt đầu điều tra một mình.
Garance de Karadec thuê lại một căn phòng nhỏ trên đường Monsieur-le-Prince, bên trên một nhà hàng sushi, cùng một gã người Anh Amyas Langford nào đó, cũng là diễn viên. Để tìm hiểu thêm, tôi bắt đầu theo dõi cô ta. Cùng lúc, tôi thu thập thông tin tìm được về án mạng ở Avignon.
Đây là một vụ án bí ẩn. Mùa thu năm 2017, một quân nhân về hưu, Jean-Louis Crémieux, được tìm thấy trong tình trạng bị cắt cổ, trong một thùng rác lớn trên đường Banasterie, gần Cung điện Giáo hoàng. Crémieux là cựu quân nhân thuộc Trung đoàn Thủy quân Lục chiến 21 đóng quân tại Fréjus, nơi ông không có mấy kỷ niệm đẹp. Với biệt danh “Sergeant Hartman”, lấy theo tên vị chỉ huy tàn bạo trong phim của Kubrick, ông là người “nghiêm khắc”, điều này khiến các điều tra viên nghĩ tới hướng điều tra về một vụ trả thù trong quân đội. Vụ án này có thể liên quan gì đến Garance de Karadec? Tôi quyết định dành một ngày ở Thành phố Giáo hoàng để gặp Gabriel Cathala, vị cảnh sát trưởng từng giám sát vụ án.
Tôi dễ dàng có được cuộc hẹn với ông. Lúc đó Cathala đã về hưu và, theo như tôi hiểu qua điện thoại, vụ án này có nhiều điều cần nói. Hôm đó tôi gặp ông đang chăm mấy cây ô liu trên khu đất bậc thang gần Gordes, nơi ông dựng một căn nhà nhỏ bằng đá. Ông là cảnh sát cùng thời tôi. Ông biết chuyện của tôi và “huyền thoại” Gã làm vườn. Chúng tôi bắt chuyện suôn sẻ và ông ấy không có vẻ gì tự hào khi kể tôi nghe cuộc điều tra bên ly rượu đào RinQuinQuin.
– Thi thể của cựu quân nhân bán khỏa thân, được hóa trang và cho mặc đồ như đàn bà, Cathala nhớ lại. Cùng với đồ lót, giày cao gót nhọn hoắt và một cái khăn choàng cổ bằng da hươu khâu thẳng vào da.
Hình ảnh chợt hiện lên trong đầu và khiến tôi ớn lạnh. Phấn khích lẫn ghê tởm, hai cảm xúc thường xuyên đan xen trong nghề này.
– Nhưng điều kỳ quặc nhất, đó là có rắn sống trong thùng rác, viên cựu cảnh sát nói tiếp.
Tin này không được đưa lên báo.
– Có độc không?
– Không. Loài rắn nước bình thường ở Montpellier thôi. Chúng tôi chưa bao giờ biết tại sao hung thủ lại để chúng ở đó.
Là người tỉ mỉ và thận trọng, Cathala đã lần theo từng manh mối nhưng tất cả đều dẫn vào ngõ cụt. Cuộc điều tra bị mắc kẹt. Cuối cùng nó được chuyển cho một thẩm phán điều tra khác, cùng một ê kíp mới. Vì thấy nhục nhã, Cathala lang thang trong tâm trạng suy sụp chờ về vườn. Ông âm thầm rời khỏi ngành cảnh sát sau thất bại. Vụ án lẽ ra sẽ đưa ông ấy vào hàng ngũ cảnh sát xuất chúng hóa ra lại kết thúc sự nghiệp của ông. Ba tháng sau đó, một cơn tai biến mạch máu não khiến sức khỏe ông suy yếu và làm ông già thêm mười tuổi. Hiện giờ, Cathala giống như một ông lão thôn quê bước ra từ tác phẩm của Marcel Pagnol, xa khỏi ngành cảnh sát và hoàn toàn nằm ngoài cuộc chơi.
– Tại sao anh lại đến gặp tôi, Batailley? ông hỏi tôi trong lúc rót thêm ly mới. Anh ở đây hôm nay tức là anh đã phát hiện được điều gì mới.
– Tôi biết một trong những dấu vân tay trên thùng rác là của ai.
– Chết tiệt... Là kẻ nào?
– Một nữ diễn viên hạng hai, Garance de Karadec. Ông có ấn tượng gì không ?
Viên cựu cảnh sát thất vọng lắc đầu.
– Không, không hề. Cái tên đó chưa từng xuất hiện trong cuộc điều tra.
– Cô ta là thành viên của một đoàn kịch tên là Gánh hát rong của Dionysus.
– Có rất nhiều đoàn kịch ở Avignon.
– Tôi sẽ đào sâu manh mối này. Tôi sẽ báo tin mới cho ông, nhưng ông phải cho tôi cách tiếp cận hồ sơ vụ án.
– Điều thú vị nhất trong chuyện này chính là không có hồ sơ, Cathala cười gượng. Vụ này điên rồ lắm. Tồi dám chắc nó vượt xa quy mô án mạng bình thường ở Crémieux.
– Tại sao?
– Anh có biết ai đã phát hiện cái xác không?
– Một người vô gia cư, lúc 6 giờ sáng. Tôi đọc ở đâu cũng nói vậy.
– Chính xác. Người của tôi đến nơi chỉ mười phút sau đó. Thi thể cựu quân nhân đó bị ngâm trong rượu cùng ba con rắn. Sau đám bò sát, thứ thu hút óc tò mò của tôi chính là rượu vang, ngoài ra không có chút rác rưởi nào bên trong.
– Tay vô gia cư đổ vào à?
– Không, chỗ rượu đã ở đó từ lâu, ngấm hẳn vào thi thể. Vì thế mà tôi mang nó đi phân tích.
– Gì cơ? Rượu vang ư? Ông tìm được gì trong đó? Ma túy? Thuốc độc?
– Điều tôi muốn biết là thứ rượu đó đến từ đâu. Nó trở thành nỗi ám ảnh. Tôi thậm chí còn đưa mẫu rượu cho các chuyên gia thử rượu, qua blind test, không đề cập nguồn gốc của mẫu rượu.
– Thất bại phải không?
– Không hề. Đó là loại vang Pauillac rất ngon. Hai chuyên gia thậm chí còn phát hiện chính xác là loại Château Mouton Rothschild năm 1973.
– Thật bất hợp lý. Tại sao lại đem đổ thứ rượu đắt tiền như vậy ?
– Chứng tỏ án mạng Crémieux là một vụ giết người theo nghỉ lễ. Một vụ án được dàn dựng tỉ mỉ và nghiên cứu kỹ càng. Trái ngược với giết người vô cớ. Và vì ta vẫn chưa bắt được thủ phạm...
– ... Ý ông là có thể có những vụ án khác.
4.
6 giờ tối. Trên tàu tốc hành TGV về Paris, tôi thử kết nối thông tin của Cathala với Garance de Karadec.
– Cho bác mượn máy tính bảng năm phút được không?
Cậu sinh viên ngồi kế tôi nhìn khá sáng sủa. Cậu đưa tôi iPad của mình với vẻ hơi cảnh giác nhưng nguôi ngay khi tôi giơ thẻ cảnh sát ra. Gõ vài từ khóa lên máy, tôi tìm được bài báo đáng quan tâm:
Thông tin Người Paris
Nhóm tội phạm đánh cắp rượu vang quý
tại một cửa hàng rượu cao cấp
Theo thông tin chúng tôi nhận được, một hay nhiều tên trộm đã cướp cửa hàng Hầm rượu Monceau, đường Courcelles, một cửa hàng rượu cao cấp ở quận 17, Paris.
Những tên trộm đã lợi dụng hai ngày cuối tuần của lễ Phục sinh để lẻn vào tòa nhà bên cạnh, nơi có một xưởng sửa quần áo không có hệ thống cảnh báo.
Ngay khi vào bên trong, những tên trộm khoan một lỗ rộng khoảng ba mươi xăng ti mét trên bức tường ngăn giữa hai tòa nhà, sau đó luồn một cái sào đến quầy trưng rượu.
Số tiền bị lấy cắp không lớn, nhưng cửa hàng vẫn rất tiếc nuối vì bị mất năm chai Château Mouton Rothschild. “Chúng chỉ lấy mỗi loại năm 1973, đấy không phải niên vụ tuyệt hảo nhất của dòng rượu này”, chủ cửa hàng tự an ủi.
Máy quay giám sát đã ghi lại toàn cảnh sự việc, nhưng không thấy được số lượng lẫn khuôn mặt của những tên trộm.
Việc điều tra được giao cho Cảnh sát Tư pháp quận 1, Paris.
Tôi tìm hiểu thêm và phát hiện loại rượu Cathala nhắc đến có một điểm đặc thù. Từ năm 1945, hằng năm Château Mouton Rothschild, xưởng rượu thượng phẩm, đều đặt một họa sĩ thiết kế nhãn rượu. Hầu hết các họa sĩ danh tiếng thế kỷ 20 đều được mời: Miró, Chagall, Warhol, Bacon, Hockney...
Nhãn vang năm 1973, do Picasso thiết kế, có điểm đặc biệt hơn vì được được vẽ vào đúng năm mất của vị họa sĩ người Tây Ban Nha. Để tri ân ông, nam tước Philippe de Rothschild, chủ xưởng rượu, đã chọn một bức tranh trong bộ sưu tập cá nhân của mình để in lên nhãn vang.
Tôi kéo xuống cuối trang web và nhấp vào để phóng to bức hình. Bức tranh của Pablo Picasso mang tên Huyên náo. Họa tiết trên bức tranh mang âm hưởng Hy Lạp cổ đại. Nó thể hiện một trong những điệu nhảy trong cơn say được thực hiện bởi các tín đồ của Dionysus, vị thần rượu vang và kịch nghệ.
Dionysus ư?
Đoàn kịch của Garance de Karadec tên là Gánh hát rong của Dionysus! Trong điều tra không có gì là ngẫu nhiên. Mỗi phát hiện đều như một nét cọ trên bức tranh trường phái ấn tượng. Tôi chuyển sang Wikipedia để trợ giúp cho trí nhớ. Chỉ cần đọc lướt là đủ cho tôi biết mình đã tìm thấy mối liên kết. Trong số rất nhiều biểu tượng của Dionysus đúng là có rắn và da hươu. Các Maenad, những người tôn thờ vị thần này, thường đội vòng dây thường xuân trên đầu. Họ đi theo Dionysus băng qua những khu rừng và nhiều ngọn đồi, cổ quàng một con rắn. Họ hộ tống vị thần, trên người giắt vũ khí, họ say sưa, tàn bạo, phá hủy và giết chóc những nơi họ đi qua.
Tắt máy tính bảng, tôi thấy toàn thân râm ran. Một cảm giác mà tôi không còn thấy từ nhiều năm nay. Tôi chắc chắn một điều rằng mình sẽ không bỏ lỡ lối thoát này. Ba mươi năm sau Gã làm vườn, cuộc đời vừa thả một kẻ thù mới trên con đường đời tôi.
Và còn gì ngây ngất hơn khi lùng bắt một vị thần trên đỉnh Olympus vào thời điểm xảy ra trận đánh cuối cùng?
.
RAPHAËL
5.
– Trà xanh của anh đây.
Tôi vồ lấy cốc trà bốc khói nghi ngút để sưởi ấm bàn tay. Quãng ngày tuyết rơi không kéo dài lâu. Mặt trời ngày đông nhợt nhạt và chán ngắt, tưới tắm khu vườn Luxembourg. 4 giờ chiều. Tôi ra công viên hít thở khí trời để khỏi phải ủ rũ một mình ở nhà. Tôi đã điện cho bệnh viện hỏi thăm tin tức của bố. Sức khỏe ông vẫn rất bấp bênh, và tiên lượng sống không mấy khả quan. Bệnh viện đã lui lại việc đưa ông vào giai đoạn hồi tỉnh từng bước vì xuất hiện hiện tượng viêm tĩnh mạch. Còn tôi, trái tim tôi tan nát, não quá tải còn tinh thần thì gần như về không.
Hình ảnh vụ tai nạn tiếp tục quấy nhiễu tôi. Tôi là một TÊN GIẾT NGƯỜI. Một tên giết người thực thụ. Vì những lời dối trá của tôi, Yukiko Takahashi đã phát điên và trong lúc cố giết tôi, cô ta đã cướp đi tính mạng của một bà mẹ trẻ mới hai mươi tám tuổi, với sai lầm duy nhất là có mặt ở đó không đúng thời điểm. Còn Garance de Karadec? Lúc này cô ấy đang ở đâu? Cô gái kỳ lạ ấy đã rơi vào nanh vuốt của kẻ săn mồi nào?
Một tay cầm cốc, tôi chộp lấy cái ghế kim loại màu xanh bạc hà và di chuyển nó để bắt lấy tia nắng xuyên qua giữa những tán lá. Tôi ngả người xuống và nhắm mắt. Được bao bọc trong cái nền âm thanh Luco[1] - tiếng hò hét của đảm trẻ chơi quanh bồn phun nước Medici, tiếng gió thổi qua hàng cây cao, tiếng bồ cầu vỗ cánh -; tôi cố tập trung suy nghĩ.
Bước chân dẫn lối tôi đến đây không phải tình cờ. Đây là nơi tôi gặp Garance de Karadec lần cuối, cách đây hơn một năm. Chúng tôi hẹn gặp ở Pavillon de la Fontaine, quán cà phê lịch sử của vườn Luxembourg. Mối hợp tác của chúng tôi đã đến hồi kết thúc. Cái chết của Milena Bergman giải thoát tôi khỏi lời nói dối và tôi không cần cô ấy nữa. Tôi đã hứa trả một khoản tiền chấm dứt hợp đồng. Chúng tôi ngồi bên bàn và gọi hai ly vang nóng. Sắc thu tràn ngập khung cảnh, nhuộm vàng bầu trời. Ban nhạc của một trường học đang chơi nhạc bên dưới quán. Tôi nhớ rất rõ dáng vẻ của Garance vào buổi chiều tà đó. Cô ấy đã dần thoát khỏi vai diễn nghệ sĩ dương cầm người Đức. Mái tóc cô bắt đầu gợn sóng và đậm dần. Nét mặt cũng giãn ra. Đôi mắt lấp lánh, kiểu cách bớt giống người Đức và nụ cười cũng bộc trực hơn.
Còn tôi, tôi ngồi đó mà lại như không. Như thường khi, tâm trí tôi xao lãng đi nơi khác. Tôi nghĩ đến bệnh tình của bố, đến cô em gái đang ngồi cạnh chúng tôi và không rời mắt khỏi tôi dù đang uống cốc sô cô la nóng. Đến mong muốn mãnh liệt là bắt mẹ tôi phải trả giá cho những đau khổ bà gây ra cho chúng tôi suốt hàng chục năm. Đến cái cảm giác luôn đeo bám tôi rằng cuộc sống trưởng thành của tôi chưa bao giờ bắt đầu và mọi ánh sáng tôi mang trong mình đã chết cùng Vera.
Garance vui vẻ và nói liến thoắng. Cô ấy thú nhận rằng vai diễn này là vai cô tâm đắc nhất cả cuộc đời, rằng cô ấy sẽ rất buồn khi không được gặp tôi nữa. Cô ấy nói đã đọc sách tôi viết. Rằng chúng tôi đều điên giống nhau. Rằng chỉ có kẻ điên mới cứu vớt được kẻ điên khác. Rằng chúng tôi có cùng ham muốn chạy trốn khỏi thực tại.
Đó là một trong những khoảnh khắc mà cuộc đời có thể xoay chuyển theo cách này hay cách khác. Cô ấy chìa ra chiếc phao cứu sinh, song tôi không nắm lấy. Trong tôi có quá nhiều vùng tối. Hành lý tôi mang đã quá nặng. Tôi mệt mỏi trước mọi điều. Mệt mỏi vì phải rong ruổi khắp nơi cùng nỗi lo âu này.
Nhất là, khi nhìn vào mắt cô ấy, đôi mắt chuyển từ xanh lục sang màu hạt dẻ dưới ánh mặt trời, tôi tự nhủ mình không được gắn bó với người con gái này. Dẫu từ cô ấy tỏa ra sức quyến rũ hiển hiện, trong đầu tôi vẫn phát tín hiệu cảnh báo. Nó thì thầm với tôi rằng, nếu tôi tiếp tục gặp cô ấy, Garance de Karadec sẽ khiến tôi đau khổ, rằng cô ấy sẽ kéo tôi vào những hầm tối của chính cô ấy và còn mang nguy hiểm đến cho những người xung quanh tôi.
Cô ấy xin tôi cho phép cô ấy giữ cái đồng hồ thay cho “quà chấm dứt hợp đồng” và tôi đã chấp thuận, dù món đồ có giá trị không hề nhỏ.
Tôi tiếp tục nhìn cô ấy tươi cười, vừa cố gắng chống lại sức quyến rũ của người phụ nữ lãng mạn khó nắm bắt này, người có khả năng thắp lên ngọn lửa đốt cháy nhân cách của mình để khoác lên lớp nhân cách mới. Tôi tự hỏi làm cách nào ta có thể tự do điều khiển năng lực ấy, ta phải lựa chọn nguyên nhân thế nào để vận dụng được năng lực ấy. Nhưng tôi không hỏi cô ấy câu nào. Garance de Karadec làm tôi sợ. Tôi hình dung cô ấy có quá khứ theo kiểu Milady de Winter[2]. Một chuỗi vai diễn, danh tính. Một cuộc đời toàn mưu mô và vẻ ngoài giả tạo.
Tôi đang hồi tưởng buổi hẹn tồi tệ ấy thì điện thoại đổ chuông, kéo tôi về khoảnh khắc hiện tại. Tôi không bao giờ nghe cuộc gọi từ số máy lạ, nhưng lần này, một linh cảm thôi thúc tôi nghe điện.
– ...phaël? Raphaël, phải anh đấy không?
Giọng nói khiến tôi rùng mình. Một tiếng dội càng khuếch trương ngữ điệu thân thuộc ấy. Bàng hoàng, tôi bật dậy khỏi ghế.
– Garance? Em đang ở đâu?
– Trong... cốp xe ô tô!... đã nhốt em lại.
– Ai? Kẻ nào nhốt em?
– Amyas.
Đường truyền kém. Tiếng lạo xạo và tạp âm khiến cuộc gọi ngắt quãng. Nhưng tôi nghe rõ phía sau là tiếng ù ù của động cơ.
– Em có biết mình đang ở đâu không? Gần thành phố nào?
– Không... trộm được điện thoại của hắn ở... đường cao tốc, nhưng hắn sẽ phát hiện thôi! Hãy làm gì đó đi!
Tôi day hai mắt và cố gắng suy nghĩ.
– Nói anh biết... cái... cái ô tô đó trông thế nào?
– ... loại 4x4... xanh cổ vịt ánh kim... cốp xe... gắn chữ Q7.
– Một chiếc Audi Q7. Hiểu rồi.
– Giúp em với, Raphaël... xin anh!
– Bình tĩnh nào. Anh sẽ báo cảnh sát. Họ sẽ xác định được vị trí của em, chắc chắn. Em có biết hắn đưa em đi đâu không?
– Có, em nghĩ là... biên giới... sang...
Đường truyền ngày càng lẫn nhiều tiếng nhiễu. Giọng cô ấy nhỏ dần rồi tịt hẳn.
– Anh không nghe thấy gì nữa.
Một khoảng lặng dài và âm thanh chồng chéo. Rồi tôi đoán thấy âm thanh đặc trưng của đèn nháy. Tiếng động cơ lúc này tắt hẳn rồi, vài giây sau, là tiếng mở cốp xe.
– Fucking bitch, you stole my phone[3]! Amyas quát ầm lên. Con K-H-Ố-N!
Garance hét lên một tiếng thất thanh.
Và kết nối bị ngắt.
Chú thích:
[1]Tên gọi khác của vườn Luxembourg.
[2]Nhân vật trong tiểu thuyết Ba người lính ngự lâm của Alexandre Dumas, một người có quá khứ đầy tội lỗi và sóng gió, đây cũng là một phụ nữ rất nham hiểm.
[3]Tiếng Anh trong nguyên bản, nghĩa là: Con khốn, mày lấy cắp điện thoại của tao!