Kể cả là như vậy nhưng khi ông bấm chuông và bước vào dinh thự nhà Sully, tôi đoán ngay ra là ông.
Người đàn ông này cao, gầy, khiến ta có cảm giác ông được tạo thành từ hai phần không có liên quan gì với nhau: cái đầu và phần còn lại. Thân hình ông như không hiện hữu, một tấm vải không nếp nhăn, một cái áo choàng đen phẳng như thể được treo trên mắc áo, từ đó thòi ra một đôi giày bóng loáng không thấy nối với cái mắt cá chân nào. Ngược lại, cái đầu hồng hào, tròn trĩnh, hoạt bát, tươi mới, ngây thơ, tựa như một đứa trẻ vừa tắm xong, mọc ra từ chiếc áo ấy. Người ta có cảm giác muốn hôn và vòng tay ôm lấy.
“Chào cha,” bá tước nói. “Đây là Joseph.”
Tôi ngắm ông hồi lâu và cố gắng hiểu xem tại sao khuôn mặt ông không những không khiến tôi ngạc nhiên lắm mà còn có vẻ đáng tin. Tin vào cái gì? Đôi mắt đen của ông nhìn tôi trìu mến sau tròng kính nhẹ.
Đột nhiên, ánh sáng lóe lên.
“Cha không có tóc!” tôi bật thành tiếng.
Ông mỉm cười và vào giây phút đó tôi bắt đầu thấy quý mến ông.
“Tóc ta đã rụng rất nhiều. Số ít mọc lại thì ta cạo đi.”
“Tại sao ạ?”
“Để không mất thời gian chải đầu.”
Tôi phì cười. Như vậy chính ông cũng không biết tại sao ông lại hói đầu? Buồn cười quá đi mất... Nhà Sully nhìn tôi, vẻ nghi hoặc. Họ cũng không biết tại sao ư? Tôi có nên nói cho họ hiểu không nhỉ? Nhưng rốt cuộc, điều ấy hóa ra quá hiển nhiên: cha Pons có cái đầu nhẵn như một viên đá bởi ông phải giống với tên mình: Pierre Ponceơ!*
Trong khi người lớn vẫn tiếp tục ngạc nhiên, tôi lại cảm thấy mình phải im lặng, cho dù có bị coi là thằng ngốc...
“Con có biết đi xe đạp không Joseph?”
“Không ạ.”
Tôi không dám thú nhận lý do của khiếm khuyết này: từ khi chiến tranh nổ ra, bố mẹ tôi, vốn thận trọng, đã cấm tôi chơi ngoài phố. Về khoản chơi đùa thì tôi rất chậm phát triển so với bọn trẻ cùng lứa.
“Thế thì ta sẽ dạy con,” cha xứ nói. “Con sẽ phải ngồi sau ta. Bám chắc vào.”
Trong sân dinh thự, tôi cố gắng để xứng đáng với niềm tự hào của nhà Sully, phải mất mấy lần tôi mới ngồi được lên cái gác ba ga.
“Bây giờ chúng ta sẽ thử ở ngoài phố nhé.”
Khi tôi đã ngồi được lên sau xe, ông bà bá tước tiến lại gần. Họ ôm hôn tôi rất nhanh.
“Hẹn sớm gặp lại cháu, Joseph. Chúng ta sẽ đến thăm cháu. Cha nhớ đề phòng tay Jacques Béo nhé.”
Tôi vừa kịp hiểu đó là một lời từ biệt thì cha xứ và tôi đã bon bon trên đường phố Bruxelles. Vì phải chăm chăm giữ thăng bằng trên xe, tôi không thể thả mình cho nỗi buồn cuốn đi.
Dưới làn mưa mỏng biến đường nhựa thành một tấm gương bóng nhẫy, chúng tôi tiến lên, nhanh chóng, run rẩy, lảo đảo trên bánh xe bé tí tẹo.
“Nếu chúng ta gặp Jacques Béo thì con phải ngồi sát vào ta và nói chuyện như thể chúng ta quen nhau từ lâu rồi nhé.”
“Jacques Béo là ai ạ, thưa cha?”
“Hắn là một tên Do Thái phản bội. Hắn ngồi trong xe của bọn Gestapo và chỉ cho bọn Quốc xã những người Do Thái mà hắn nhận ra để chúng bắt giam họ.”
Vừa khi ấy tôi nhận thấy một chiếc ô tô màu đen chạy chầm chậm theo chúng tôi. Tôi liếc ra phía sau lưng và nhận thấy đằng sau kính gạt nước, giữa đám người mặc măng tô tối màu, có một khuôn mặt nhợt nhạt và rịn mồ hôi, đang đảo đôi mắt như bi ve dò xét vỉa hè đại lộ Louise.
“Là Jacques Béo đó thưa cha!”
“Nhanh lên, kể cho ta nghe chuyện gì đó đi. Con chắc phải biết vài câu chuyện cười chứ Joseph nhỉ?”
Chẳng cần lục tìm những câu chuyện hay nhất, tôi bắt đầu dốc kho truyện của mình. Tôi chưa bao giờ nghĩ chúng hài hước đến mức khiến cha Pons cứ cười ngặt nghẽo như thế. Thành ra, càng phấn chấn, tôi cũng cười theo và khi chiếc xe chạy sát chúng tôi, tôi đã quá say sưa với thành công của mình nên không buồn để ý đến nó.
Jacques Béo vừa khó chịu nhìn chúng tôi vừa đập đập chiếc mùi soa trắng gấp vào má, rồi chán chường với vẻ yêu đời của chúng tôi, hắn ra hiệu cho lái xe tăng tốc.
Ngay sau đó, cha Pons rẽ vào con phố bên cạnh và chiếc xe ô tô biến mất khỏi tầm nhìn của chúng tôi. Tôi đang định tiếp tục sự nghiệp tấu hài của mình thì cha Pons thốt lên:
“Ta xin con đấy, Joseph, dừng lại đi. Con làm ta cười nhiều đến mức không đạp xe được nữa.”
“Tiếc quá. Thế thì cha không được biết chuyện ba giáo sĩ Do Thái tập đi xe máy rồi.”