Đêm xuống, chúng tôi vẫn còn đạp xe. Chúng tôi đã rời thành phố từ lâu và đang đi qua vùng nông thôn, nơi cây cối đã trở nên tối sẫm.
Cha Pons chưa kiệt sức nhưng không nói gì nhiều, chỉ hỏi:
“Con có ổn không?”
“Con vẫn gắng được chứ?”
“Con không mệt quá chứ Joseph?”
Tuy nhiên, càng đi xa, tôi càng có cảm giác là chúng tôi gần gũi hơn, có lẽ bởi vì tôi quàng tay qua thắt lưng ông, đầu tôi dựa vào lưng ông và tôi cảm nhận qua tấm vải rộng hơi ấm từ cơ thể gầy gò đó chầm chậm truyền sang tôi. Cuối cùng, có một tấm biển ghi chữ Chemlay, ngôi làng của cha Pons, và ông phanh lại. Chiếc xe đạp rít lên còn tôi rơi xuống hố.
“Hoan hô Joseph, con đã đạp xe rất cừ! Ba mươi lăm ki lô mét! Khởi đầu như thế là quá tuyệt!”
Tôi bò dậy không dám cãi lời cha Pons. Thật vậy, tôi cảm thấy rất xấu hổ, tôi không hề đạp xe trong suốt hành trình, tôi toàn để thõng chân sang hai bên. Hay là có chiếc pêđan nào mà tôi không nhìn ra nhỉ?
Ông dựng xe mà không để tôi kịp kiểm tra lại rồi nắm lấy tay tôi. Chúng tôi đi tắt qua cánh đồng đến tận ngôi nhà đầu tiên nằm ở rìa Chemlay, một khối nhà thấp lùn. Ở đó, ông ra hiệu cho tôi im lặng, tránh lối đi chính rồi gõ cửa một hầm rượu.
Một khuôn mặt xuất hiện.
“Vào nhanh lên.”
Cô Marcelle dược sĩ, nhanh tay đóng cửa và đưa chúng tôi xuống vài bậc cầu thang dẫn tới một căn hầm được chiếu sáng bằng ánh đèn dầu leo lét.
Cô Marcelle khiến trẻ con sự hãi và khi cúi xuống phía tôi, cô không đánh mất hiệu ứng thường thấy đó: tôi suýt hét lên. Có phải là do thiếu ánh sáng? Hay do ánh sáng chiếu hắt từ dưới lên? Cô Marcelle giống bất cứ thứ gì trừ một người phụ nữ; nom cô giống củ khoai tây đặt trên thân một con chim. Các nét trên mặt cô rất thô, móp méo, mí mắt nhăn nheo, da nâu, sần sùi, xám xịt, xù xì, giống như một cái củ người nông dân vừa nhổ lên: một nhát cuốc đã làm nên cái miệng nhỏ và hai cục u nhỏ lồi lên là đôi mắt; vài sợi tóc lưa thưa, trắng nơi chân tóc, đỏ hung ở ngọn, cho thấy có thể sẽ mọc lại vào mùa xuân. Đứng trên hai cái chân mảnh khảnh, nghiêng về phía trước, toàn thân cô trông giống một con chim cổ đỏ bụng tròn xoe, cong phồng từ đến chân, tay chống nạnh, khuỷu tay chếch về sau trông như sắp bay, cô nhìn tôi chằm chằm trước khi mổ.
“Người Do Thái phải không?” cô hỏi.
“Đúng vậy,” cha Pons đáp.
“Cháu tên là gì?”
“Joseph ạ.”
“Tốt. Không cần phải thay tên: Do Thái hay Công Giáo đều như nhau. Thế còn bố mẹ?”
“Mẹ cháu là Léa. Bố cháu là Michaël.”
“Cô hỏi họ cơ.”
“Bernstein.”
“Ái chà, họ thế thì tai họa rồi! Bernstein... Chúng ta sẽ đổi thành Bertin. Cô sẽ làm giấy tờ cho cháu với tên Joseph Bertin. Đến đây nào, đi theo cô để chụp ảnh.”
Trong góc phòng có cái ghê đẩu chờ sẵn, đặt trước tranh nền vẽ hình bầu trời phía trên một cánh rừng.
Cha Pons chải tóc và chỉnh lại quần áo cho tôi rồi bảo tôi nhìn vào chiếc máy - một cái hộp to bằng gỗ, phía trước có bộ phận xếp nếp, đặt trên chiếc giá cao gần bằng đầu người lớn.
Đúng lúc đó, một ánh chớp sáng khắp phòng, chói lóa và bất ngờ đến mức tôi cứ ngỡ mình đang nằm mơ.
Trong lúc tôi dụi mắt, cô Marcelle đặt một tấm bảng nữa vào trong cái đống xếp nếp kia và hiện tượng ánh sáng ấy lặp lại.
“Nữa đi ạ! tôi kêu lên thích thú.”
“Không, hai cái là đủ. Cô sẽ phóng ảnh tối nay. Cháu không có chấy đấy chứ? Dù gì, cô vẫn cho cháu dung dịch này. Cháu cũng không bị ghẻ đấy chứ? Kiểu gì thì cô cũng sẽ chải cho cháu bằng bàn chải và lưu huỳnh. Còn gì nữa nhỉ? Ông Pons này, ông để cháu ở đây vài ngày rồi tôi sẽ trả lại cho ông, thế có được không?”
“Được.”
Nhưng tôi thì không thấy được chút nào: ý nghĩ phải ở lại một mình với cô làm tôi sợ. Không dám nói ra đều ấy, tôi hỏi câu khác:
“Tại sao cô lại gọi là ông? Phải gọi là cha chứ?”
“Cô thích gì thì nói đấy. Ông Pons biết thừa là cô rất ghét các cha xứ, những người mà cô phải chịu đựng từ khi mới sinh ra, cô còn nhè cả bánh thánh ra cơ. Cô là dược sĩ, nữ dược sĩ đầu tiên của nước Bỉ! Cô gái đầu tiên đã tốt nghiệp! Cô đã học và hiểu về khoa học. Vì thế thưa cha ... chỉ dành cho người khác! Vả lại, ông Pons không giận cô vì điều ấy.
“Không hề,” cha Pons nói, “tôi biết cô là người tốt.”
Cô bắt đầu lẩm bẩm như thể từ “tốt” gợi nhớ đến nhà thờ.
“Tôi không tốt, tôi chỉ công bằng. Tôi không thích các cha xứ, tôi không thích Do Thái, tôi không thích người Đức, nhưng tôi không chịu được việc tấn công lủ trẻ.”
“Tôi biết là cô yêu lũ trẻ mà.”
“Không, tôi cũng không yêu lũ trẻ. Nhưng dù gì chúng cũng là người.”
“Vậy thì cô yêu loài người!”
“Này ông Pons, hãy dừng việc muốn tôi yêu cái gì đó đi! Đúng là miệng lưỡi của các cha xứ. Tôi không yêu ai, cũng không yêu cái gì cả. Nghề của tôi là dược sĩ: có nghĩa là giúp người ta sống được. Tôi làm việc của mình, chỉ đơn giản vậy thôi. Nhanh lên, đi đi, ra khỏi cái sàn này cho tôi. Tôi sẽ trả lại cho ông thằng bé này, khỏe mạnh, tươm tất, sạch sẽ, với những giấy tờ giúp nó được yên thân, mẹ kiếp!”
Cô quay người để khỏi phải nói chuyện tiếp. Cha Pons cúi xuống, vừa cười vừa nói nhanh với tôi:
“ Mẹ kiếp đã trở thành biệt hiệu của cô ấy trong làng. Cô ấy chửi thề còn nhiều hơn ông đại tá bố cô ấy.”
Mẹ kiếp cho tôi ăn, chuẩn bị giường và ra lệnh, giọng kiểu cấm cãi, cho tôi đi ngủ. Khi đi ngủ tối hôm ấy, tôi không ngăn nổi mình dành phần nào tình cảm mến mộ cho người phụ nữ nói mẹ kiếp tự nhiên đến thế.