Ngày hôm sau, từ rất sớm, cha Pons đã đến báo với chúng tôi:
“Có chuyện rồi cô Marcelle, tem thực phẩm ở trụ sở xã bị trộm khoắng sạch rồi!”
Cô Marcelle xoa tay vào nhau.
“Thế à? Trộm thế nào vậy?”
“Bọn trộm đã dùng móc mở khóa cửa chớp rồi đập vỡ kính cửa sổ.”
“Ái chà! Ông xã trưởng còn phá cả trụ sở làm việc của mình cơ à?”
“Ý cô là sao? Chính ông ấy đã ăn cắp...”
“Không, là tôi. Dùng chìa khóa của ông ấy. Nhưng khi trả lại chìa khóa vào hộp của ông ấy sáng nay, tôi đã chắc chắn ông ấy sẽ làm giả một vụ bẻ khóa để không bị nghi ngờ. Xem nào ông Pons, hãy cầm lấy đống tem này. Cả tập này là của ông.”
Dù có vẻ quàu quạu và không cười nổi, mắt cô Marcelle vẫn ánh lên niềm vui.
Cô hích vai tôi.
“Đi nào! Bây giờ, cháu đi theo ông cha xứ đi!”
Trong lúc mọi người chuẩn bị hành trang và thu thập giấy tờ giả cho tôi, tôi nhẩm lại câu chuyện về cuộc đời giả của mình, và đến trường vào đúng giờ học sinh ăn trưa.
Tu viện Villa Jaune như một con mèo khổng lồ nằm cuộn mình trên đỉnh đồi. Những cái chân bằng đá từ bậc thềm dẫn đến miệng là một lối vào trước kia được sơn màu hồng, trên đó mấy cái tràng kỷ cũ kỹ đang nằm thè lưỡi đầy đáng ngờ. Trên tầng có hai ô kính lớn hình ô van trông giống như hai con mắt choán cả mặt tiền tòa nhà, nhìn trừng trừng tất cả những ai đi vào khoảnh sân nằm giữa hàng rào và hàng cây tiêu huyền. Trên mái, hai cái ban công của phòng áp mái có lan can dựng đứng bằng sắt uốn trông giống hai cái tai và tòa nhà nơi có phòng ăn tập thể cuộn mình như một cái đuôi bên tay trái.
Chữ “jaune”* trong tên của tòa nhà chỉ mang tính tham khảo. Một thế kỷ bụi bẩn, mưa gió, hỏng hóc và những cú sút bóng của đám trẻ đập vào tường đã làm bong tróc và vạch nhằng nhịt lên lớp vữa giờ đã ngả sang màu vàng hung xỉn.
“Chào mừng con đến với Villa Jaune, Joseph,” cha Pons nói với tôi. “Từ giờ trở đi, đây sẽ là trường học và nơi ở của con. Có ba loại học sinh ở đây: học sinh ngoại trú về nhà ăn cơm trưa; học sinh bán trú ở lại ăn trưa và học sinh nội trú, sinh hoạt tại đây. Con sẽ là học sinh nội trú: ta sẽ chỉ giường và tủ của con ở nhà ngủ tập thể cho con.”
Tôi nghĩ đến những điểm khác biệt lần đầu được nghe thấy: ngoại trú, bán trú, nội trú. Tôi thấy thích thú vì đó không chỉ là thứ tự mà còn là thứ bậc: từ học sinh suông đến học sinh trọn vẹn, ở giữa là những học sinh nửa vời. Vậy là ngay lập tức tôi được vào tầng lớp trên. Bị mất tước vị quý tộc cách đây mấy hôm, tôi lại thấy hài lòng vì người ta đã bổ sung ưu đãi cho mình.
Ở nhà ngủ tập thể, tôi ngây ngất khi nhìn thấy tủ của mình - cả đời tôi chưa bao giờ có tủ riêng - và khi ngắm những cái giá trống huơ trống hoác này, tôi mơ về biết bao kho báu sẽ để ở đó, mà không nhận ra rằng, hiện tại, tôi chỉ có hai chiếc vé tàu điện cũ để trưng bày.
“Bây giờ, ta sẽ giới thiệu anh phụ trách của con. Học sinh nội trú nào ở Villa Jaune cũng được một anh lớn hơn bảo vệ. Này Rudy!”
Cha Pons gọi to tên “Rudy” nhiều lần mà chẳng ai trả lời. Các giám thị tiếp lời gọi. Rồi cả đám học sinh nữa. Cuối cùng, sau một lúc lâu đến mức tôi tưởng chừng không thể chịu được, cả trường nháo nhào cả lên thì cái người mang tên Rudy ấy mới xuất hiện.
Khi hứa sẽ cho một “anh lớn” làm anh phụ trách, cha Pons đã không nói dối tôi: Rudy cao lênh khênh. Anh ấy cao đến mức trông như được treo lên một sợi chỉ sau đôi vai xuôi, trong khi tay và chân anh lơ lửng trong không khí, thõng thượt, lòng thòng còn đầu anh đung đưa về phía trước, nặng nề, lù xù đầy những sợi tóc quá nâu, quá dày, quá xơ, không hiểu sao được cắm ở đó. Anh chầm chậm tiến đến để xin lỗi vì sự khổng lổ của mình như thể một con khủng long uể oải nói: “Đừng sợ: ta là người tốt, ta chỉ ăn cỏ thôi.”
“Thưa cha gọi con?” anh hỏi giọng trầm mà uể oải.
“Rudy, đây là Joseph, em đỡ đầu của con.”
“Ôi không thưa cha, đây không phải một ý hay.”
“Con không được cãi.”
“Thằng bé này có vẻ ngoan... nó không đáng phải chịu như vậy.”
“Ta giao cho con đưa em đi thăm trường và dạy em nội quy.”
“Con ấy à?”
“Sau từng ấy lần bị phạt, ta tin là con nắm rõ nội quy hơn ai hết. Đến hồi chuông thứ hai thì con dẫn em đỡ đầu sang lớp bé.”
Cha Pons đi khuất. Rudy nhìn tôi chằm chằm như nhìn một đống củi mà anh ấy phải gùi trên lưng rồi thở hắt ra.
“Mày tên là gì?”
“Joseph Bertin. Em sáu tuổi. Em sinh ra ở Anvers và bố mẹ em chết vì bệnh cúm Tây Ban Nha.”
Anh ngước mắt nhìn lên trời.
“Đừng có nói làu làu như thế, phải đợi người ta đặt câu hỏi đã, nếu mày muốn người ta tin.”
Phật lòng vì đã cư xử vụng về, tôi áp dụng lời khuyên của nữ bá tước De Sully và tấn công phủ đầu:
“Tại sao anh lại không muốn làm anh đỡ đầu của em?”
“Bởi số tao rất đen. Nếu có một cục sạn trong món đậu lăng, kiểu gì tao cũng cắn phải. Nếu có một cái ghế sắp gãy, thể nào tao cũng ngồi phải. Nếu một cái máy bay rơi, kiểu gì cũng xuống đầu tao. Tao đen đủi và tao mang đến sự đen đủi. Ngày tao sinh ra, bố tao mất việc và mẹ tao bắt đầu khóc. Nếu mày đưa tao trồng cây, cây sẽ chết. Nếu mày cho tao mượn xe đạp, xe sẽ thủng lốp. Tao có những ngón tay tử thần. Khi các ngôi sao nhìn tao, chúng run rẩy. Còn mặt trăng thì xoắn đít lại. Tao là thảm họa của vũ trụ, là sai lầm, là thiên tai, là hiện thân của sự đen đủi, một schlemazel thực thụ.”
Sau đó, anh càng tiếp tục phàn nàn, giọng lúc trầm lúc bổng tùy theo cảm xúc, tôi lại càng bò ra cười. Cuối cùng tôi hỏi:
“Có người Do Thái ở đây không anh?”
Anh đứng như trời trồng.
“Người Do Thái ấy hả? Ở Villa Jaune á! Không có ai cả! Không bao giờ! Tại sao mày hỏi tao câu này?”
Anh nắm lấy vai tôi rồi nhìn chằm chằm vào mặt tôi.
“Mày có phải người Do Thái không, Joseph?”
Anh vẫn nhìn tôi chòng chọc. Tôi biết là anh thử độ bình tĩnh của tôi. Ánh mắt anh nghiêm khắc, trong ấy hàm chứa một lời van xin: “Hãy nói dối cho tốt vào, anh xin em, hãy nói dối như thật ấy”.
“Không, em không phải người Do Thái.”
Anh buông vai tôi ra, yên tâm. Tôi tiếp tục:
“Với lại, thậm chí em còn không biết Do Thái nghĩa là thế nào.”
“Tao cũng không biết.”
“Anh Rudy, người Do Thái trông như thế nào?”
“Mũi khoằm, mắt lồi, môi trề, tai lòng thòng.”
“Hình như họ có móng guốc chứ không có chân và còn có đuôi ở mông nữa.”
“Phải xem mới biết được,” Rudy nói vẻ nghiêm túc. “Nói gì đi nữa thì người Do Thái cũng là những người đang bị truy đuổi và bắt giam hiện nay. May là mày không phải người Do Thái Joseph ạ.”
“Và anh nữa, cũng may anh không phải Do Thái Rudy ạ. Nhưng dù sao anh cũng phải tránh nói tiếng Yiddish và đừng nói schlemazel mà hãy nói là kẻ đen đủi.”
Anh giật bắn mình. Tôi mỉm cười. Người này đã chọc thủng bí mật của người kia, từ giờ chúng tôi có thể là đồng bọn của nhau. Để đánh dấu thỏa thuận giữa chúng tôi, anh bảo tôi thực hiện một trò rất phức tạp với các ngón tay, lòng bàn tay và khuỷu tay rồi nhổ nước bọt xuống đất.
“Tao sẽ dắt mày đi thăm Villa Jaune.”
Bằng cử chỉ rất tự nhiên, anh nhét bàn tay nhỏ của tôi vào bàn tay ấm áp khổng lồ của anh như thể chúng tôi là anh em tốt từ bao lâu nay, dẫn tôi đi khám phá thế giới nơi tôi sẽ ở nhiều năm tới.
“Dù thế nào,” anh thì thầm qua kẽ răng, “mày cũng không thấy tao có vẻ gì của một nạn nhân phải không?”
“Nếu anh học cách dùng lược thì tất cả sẽ thay đổi.”
“Thế còn bộ tịch lố lăng của tao? Mày nhìn cái bộ tịch của tao chưa? Chân thì như cái xuồng, tay thì như cái vồ.”
“Bởi vì chúng mọc ra trước các phần còn lại Rudy ạ.”
“Tao như ăn phải bột nở, cứ lớn phổng lên! Biến thành mục tiêu chẳng may mắn gì đâu!”
“Vóc dáng cao to khiến mọi người tin tưởng anh.”
“Hở?”
“Và đám con gái thích thế.”
“Hở... chú mày sẽ thừa nhận rằng cần phải là một thằng vô cùng schlemazel mới tự coi mình là schlemazel!”
“Anh không thiếu may mắn Rudy ạ, mà là thiếu não.”
Tình bạn của chúng tôi bắt đầu như thế: tôi đã ngay lập tức đưa anh đỡ đầu của tôi vào dưới sự bảo hộ của mình.