Công Lý Cho Ai

Lượt đọc: 8603 | 2 Đánh giá: 9/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10

Từ Portland đi theo quốc lộ I-5 tới nhà tù ở Salem, thủ phủ bang Oregon, mất một tiếng đồng hồ. Trong lúc lái xe, Brad Miller hết miên man nghĩ đến cuộc gặp sắp tới với Clarence Little rồi tới buổi nói chuyện với Bà Rồng Cái hai ngày trước. Ngay khi nghiên cứu toàn bộ hồ sơ, Brad đã bảo với Susan Tuchman rằng anh không tìm thấy tia hi vọng thắng kiện nào trong vụ của Clarence Little. Anh tưởng Tuchman sẽ yêu cầu anh nộp bản kiến nghị xin rút đơn kháng cáo sau khi viết thư giải thích cho Little biết hắn ta không có khả năng được xóa án. Như vậy, anh sẽ không phải đi chặng đường dài hơn 80 cây số tới gặp vị thân chủ từng “hành nghề” giết người. Nhưng ngược với suy đoán của anh, Tuchman lại lệnh cho anh lái xe tới nhà tù và trực tiếp giải thích với tên tử tù. Brad đã cố thuyết phục sếp mình rằng anh nên làm việc kiếm tiền cho hãng thay vì dành những giờ làm không công đằng sau bốn bức tường bê tông cùng kẻ có thú vui tao nhã - cắt ngón út của những người phụ nữ hắn giết. Tuchman đã nở nụ cười độc địa - theo đánh giá của Brad - trong lúc giải thích làm việc trực tiếp với thân chủ sẽ có lợi cho sự nghiệp luật sư của anh ra sao.

Kiến thức về nhà tù của Brad chỉ gói gọn trong mấy bộ phim. Ở đó, các tù nhân hung bạo hoặc là hiếp nhau trong nhà tắm, hoặc bắt cóc các công dân vô tội trong những cuộc trốn ngục. Kẻ tội phạm duy nhất Brad từng gặp là một đứa trẻ ngỗ nghịch học cùng môn thể dục với anh hồi cấp ba. Nghe đồn sau khi tốt nghiệp khoảng một năm, thằng nhóc đã đi tù vì tội ăn cắp ô-tô. Brad chẳng muốn ở cùng chỗ với bọn sát nhân bị thần kinh, bọn hiếp dâm bị loạn trí và các tay buôn ma túy thích thượng cẳng chân hạ cẳng tay, và cái ý nghĩ phải ngồi đối diện với một tên giết người hàng loạt làm anh vô cùng khó chịu. Viên quản giáo sắp xếp cuộc gặp cho anh và Clarence Little đã đảm bảo giữa hai người có một lớp kính chống đạn và tường bê tông. Tuy nhiên, Brad đã xem phim Sự im lặng của bầy cừu và không hoàn toàn tin tưởng vào khả năng canh giữ những tên giết người hàng loạt xảo quyệt của các lực lượng hành pháp.

Đêm trước khi tới nhà tù, Brad có một giấc mơ sống động như thật về cuộc khám nghiệm tử thi của Laurie Erickson. Trong giấc mơ, có lúc anh thấy Laurie nằm trên bàn, nhưng trong những cảnh kinh khủng kế tiếp, nằm dưới lưỡi dao mổ dính máu của bác sĩ lại là một người đàn ông hơi giống anh. Brad đã giật mình tỉnh dậy đến mấy lần trong đêm và lần nào cũng trong tình trạng tim đập thình thịch còn drap giường ướt đẫm mồ hôi. Anh một rã rời và trằn trọc không yên. Đến 5 giờ 45 phút sáng, anh chẳng còn muốn ngủ nghê gì nữa. Vào lúc tới được bãi đỗ xe cho khách của trại giam, người anh đã bải hoải hết cả.

Brad kiểm tra mình chắc chắn đã khóa xe rồi mới đi bộ trên con đường rợp bóng cây dẫn tới cổng nhà tù. Mặt trời ấm áp và gió hiu hiu thổi. Hai bên đường là những tòa nhà màu trắng xinh xẻo từng là tổ ấm của ai đó, nay được dùng làm văn phòng cho nhân viên nhà tù. Cảnh sắc nơi đây sẽ rất lí tưởng nếu không có những bức tường vàng ệch chằng chịt dây thép gai và các ụ súng canh gác của nhà tù không lừng lững đằng sau những ngôi nhà xinh đẹp.

Brad đi lên vài bậc cầu thang dẫn tới phòng chờ lát gạch màu xanh lá và có vài chiếc xô-pha rẻ tiền bọc nệm màu nâu nhạt được làm ngay tại nhà tù. Hai lính gác đứng sau một cái bàn tròn ở giữa phòng. Sau khi Brad giải thích mục đích chuyến thăm và chìa thẻ hành nghề cùng bằng lái xe, họ bảo anh ngồi đợi.

Hai người phụ nữ lớn tuổi đẫy đà, một gốc Phi, một da trắng, đã ngồi chiếm hết một chiếc xô-pha. Có vẻ họ biết nhau. Hẳn con trai họ đang ở tù và cả hai đã kết bạn với nhau trong những lần đến thăm nuôi trước. Một cô gái tuổi ngoài đôi mươi đang ngồi trên một chiếc xô-pha khác, bận bịu với cậu bé độ bốn năm tuổi. Cô gái khá quyến rũ nhưng trang điểm quá đậm. Cậu bé đang khóc nháo và vặn vẹo trong vòng tay giữ chặt của cô kia. Người mẹ có vẻ rất khó chịu và chắc sắp đánh đòn thằng bé để bắt nó nghe lời.

Brad ngồi xuống một chiếc xô-pha trống, cách xa hai mẹ con nhà kia hết mức có thể và đọc lại các ghi chú cho cuộc gặp hôm nay. Giờ, đứa bé bắt đầu gào lên và vì không tập trung nổi nên anh rất mừng khi một người lính gác đi tới cửa rà kim loại và gọi tên anh cùng vài người khác. Hai người phụ nữ lớn tuổi đã tiến lại gần cửa ngay khi lính gác rời vị trí đằng sau bàn. Người mẹ trẻ bế cậu con trai lên và đứng sau hai người kia. Brad nối đuôi. Đến lượt anh, anh được yêu cầu cởi giày và thắt lưng rồi bỏ hết vật dụng trong túi ra trước khi đi qua cửa. Khi Brad lấy lại giày và thắt lưng, lính gác đưa đoàn khách xuống một đoạn đường dốc. Ở cuối là một cánh cửa trượt có chấn song sát. Người hộ tống họ ra hiệu cho một lính gác khác đang ngôi trong phòng điều khiển trung tâm. Vài phút sau, cánh cửa từ từ trượt sang bên kèm theo tiếng ken két của kim loại và họ đi vào khu giữ phạm. Ngay sau khi cánh cửa thứ nhất đóng lại, cửa thứ hai đã mở ra và đoàn người đi theo lính gác tới một hành lang ngắn, chờ anh ta mở khóa cánh cửa kim loại dày cộp dẫn tới phòng thăm phạm.

Một viên quản giáo ngồi trên một cái bục ở cuối căn phòng rộng có bày nhiều ghế xô-pha và một cái bàn cà phê ọp ẹp cũng do phạm nhân làm. Những máy bán nước ngọt, cà phê và kẹo xếp dọc một bên tường. Một người đàn ông tóc bạc lê chân đến chỗ máy bán cà phê. Dễ dàng nhận thấy ông ta là một tù nhân nhờ chiếc áo xanh công nhân và quần bò mà ông ta đang mặc.

Brad chờ anh lính gác nói chuyện xong mới bảo anh ta rằng mình cần gặp Clarence Little. Brad trông đợi phản ứng ngạc nhiên hay sợ hãi của người lính gác khi nghe tên thân chủ của mình, nhưng anh ta chỉ có vẻ chán nản trong lúc gọi đến khu tử tù, yêu cầu đưa Little tới.

“Anh đi qua hành lang” người lính gác dập máy rồi nói. “Hắn sẽ tới sau khoảng mười lăm phút nữa. Anh muốn chờ ở đây hay trong phòng biệt lập?”

Brad liếc nhanh về phía những người đang ngồi trong phòng thăm phạm tập thể. Anh đã tưởng nơi đây sẽ đầy những gã xăm hình Thiên thần Địa ngục* và những kẻ điên loạn có đôi mắt man dại cạo đầu nhẵn thín, thế nhưng không phạm nhân nào có vẻ đáng sợ cả. Vài người ngồi trên sàn chơi với con. Những người khác cúi đầu bên bàn cà phê thì thầm trò chuyện với vợ hoặc bạn gái. Tuy nhiên, Brad vẫn thấy căng thẳng khi ở gần những kẻ đã làm việc xấu tới mức bị tống vào tù.

“Tôi sẽ chờ trong phòng biệt lập,” anh nói.

Đối diện với phòng thăm phạm tập thể là một khu vực thăm phạm khác. Các ô cửa sổ bằng kính chống đạn được lắp ở hai mặt tường. Đằng sau các cửa sổ này là những phạm nhân bị đánh giá quá nguy hiểm, không được phép ra phòng thăm tập thể. Khách viếng thăm ngồi trên những chiếc ghế gấp và nói chuyện với tù nhân qua điện thoại. Ở cuối phòng là hai buồng nhỏ chỉ để vừa một chiếc ghế gập.

Lính gác mở cửa một buồng và đưa Brad vào. Chiếc ghế đặt đối diện với một ô cửa kính nằm lọt thỏm trong tường bê tông sơn màu nâu. Một cái khe để trao đổi giấy tờ được khoét dưới cửa sổ và một miếng kim loại đúng bằng khổ giấy chìa ra khỏi bức tường bên dưới. Qua lớp kính, Brad thấy một chiếc điện thoại gắn trên tường giống hệt cái ở bên buồng mình.

Người lính gác bỏ đi và Brad lo lắng nhìn qua ô kính tới cánh cửa của căn buồng dối diện. Vì trong hồ sơ không cung cấp ảnh thân chủ của Brad nên trí tưởng tượng của anh được thể vẽ ra một tên sát nhân là tổng hòa của Hannibal Lecter*, Jason* và Freddy Krueger*. Người đàn ông được hai quản giáo dẫn vào căn buồng kia cao khoảng 1 mét 80, gầy gò và trông giống nhân viên kế toán. Mái tóc nâu của hắn được chải cẩn thận để lộ được đường ngôi rõ ràng. Da hắn nhẵn thín, mũi nhỏ và không có nét gì đặc biệt. Đôi mắt xanh xám của hắn ngắm nghía Brad qua tròng kính không gọng trong lúc quản giáo mở cùm chân và còng tay cho hắn. Một trong hai người quản giáo mang theo kẹp hồ sơ, mép giấy nham nhở và kín đặc chữ viết tay. Người quản giáo đưa nó cho Little.

Khi hai viên quản giáo vẫn còn trong phòng, cả Brad lẫn thân chủ của anh đều không nói gì. Ngay khi cánh cửa đóng lại, Little liền kéo ghế gập lại gần điện thoại và ngồi xuống. Hắn đặt tập hồ sơ lên miếng kim loại trước mặt mình và nhấc ống nghe lên. Bụng dạ Brad thắt lại.

“Chào ông Little, tôi là Brad Miller” anh nói, hi vọng thân chủ sẽ không để ý tới mức độ run rẩy trong giọng mình. “Tôi là luật sư tập sự đang làm việc cho hãng Reed, Briggs, Stephens, Stottlemeyer và Compton & Portland. Hãng chúng tôi được chỉ định xử lí vụ kháng cáo của ông tại Tòa Phúc thẩm Vùng chín.”

Little mỉm cười. “Hãng của anh có tiếng làm việc hiệu quả, anh Miller ạ. Tôi rất vinh hạnh được tòa chỉ định hãng Reed, Briggs cho. Và tôi đánh giá cao việc anh đã bớt chút thì giờ vàng ngọc tới thăm tôi.”

Brad thấy nhẹ nhõm vì Little cư xử khá lịch thiệp.

“Ông là thân chủ của chúng tôi,” anh hào sảng nói, “và vì hoàn cảnh, ông không thể đến tận văn phòng chúng tôi, đúng không nào?”

Brad nở nụ cười, hi vọng chút xíu hài hước này sẽ xua bớt không khí nặng nề xung quanh.

Little cũng cười. “Hẳn rồi.”

Brad bắt đầu thả lỏng. Có lẽ việc này cũng không đến nỗi nào. Sau đó, anh nhớ ra mình chưa thông báo tin xấu với kẻ giết người hàng loạt đang ngồi sau tấm kính kia.

“Tôi tới Salem để bàn bạc vài vấn đề trong vụ của ông” Brad thận trọng mào đầu.

“Vấn đề gì?”

“A, ông đã đệ đơn kháng cáo để khiếu nại sự thiếu trình độ của luật sư biện hộ.”

Little gật đầu đồng tình.

“Và vị thẩm phán trong phiên xét xử đã không đồng quan điểm với ông về năng lực của người luật sư này.”

“Ông ta đã sai.”

“A, phải, tôi biết đó là quan điểm của ông, nhưng chúng ta có một vấn đề. Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã viết trong vụ án Strickland ở Washington như sau, tôi trích nguyên văn nhé” Brad nói và lôi một bản sao quan điểm của tòa ra khỏi tập hồ sơ. “Trước một khiếu nại về hoạt động không hiệu quả của luật sư, phiên tòa sẽ phán quyết tính hợp lí của hành vi bị phản đối ấy dựa trên chuỗi sự việc trong từng trường hợp cụ thể, có xét đến thời điểm xảy ra hành vi đó. Bị cáo sau khi bị kết án, nếu tiến hành khiếu nại về tư vấn không hiệu quả của luật sư phải chỉ rõ hành động hay sự chểnh mảng của luật sư đó không phải là kết quả của sự suy xét hợp lí mang tính nghề nghiệp...”

“Tôi đã đọc vụ Strickland rồi,” Little nói.

“Tốt. Vậy ông hiểu rằng ông không thể khơi khơi buộc tội luật sư của mình vụng về được. Ông phải nói rõ với tòa rằng luật sư đã làm gì để dẫn đến việc hỗ trợ không hiệu quả.”

“Ồ có chứ. Tôi đã nói với luật sư của mình rằng tôi có bằng chứng ngoại phạm vào thời điểm tôi bị cho là đang bắt cóc và sát hại Laurie Erickson. Tuy nhiên, ông ta không điều tra theo hướng đó.”

“Được rồi, vấn đề là thế này. Chúng ta không bàn cãi gì về việc luật sư của ông có nghĩa vụ tuyệt đối phải tiến hành điều tra thích đáng về các sự kiện trong vụ việc của ông để có thể đưa ra một bằng chứng ngoại phạm - và ông ấy đã làm chứng trước tòa rằng ông nói mình có bằng chứng ngoại phạm - thế nhưng ông ấy cũng nói rằng ông không chịu cho ông ấy biết bất kì một chi tiết nào để điều tra. Tôi đã đọc biên bản phiên tòa nhận đơn kháng cáo của ông. Thẩm phán đã hỏi ông ở đâu vào lúc đó nhưng ông lảng tránh không trả lời. Vì vậy, tôi buộc phải kết luận rằng tôi không thấy cơ sở nào để chiến thắng trong lần kháng cáo này của ông, bởi vì Tòa Phúc thẩm Vùng chín cũng sẽ chỉ nói rằng ông đã không đưa ra được hồ sơ thích đáng chứng minh luật sư của mình làm sai điều gì.”

“Tôi vẫn muốn kháng cáo.”

“Có thể tôi nói chưa rõ, ông Little. Tôi đã đọc các biên bản các phiên xét xử vụ của ông. Rồi tôi đã tra cứu rất nhiều tài liệu về vấn đề này. Sau đó tôi còn tham vấn các luật sư khác trong hãng. Không ai nghĩ ông có thể thắng kiện. Với ông mà nói, kháng cáo chỉ tốn công vô ích.”

Little không cười nữa. “Cậu tốt nghiệp trường luật được bao lâu rồi, Miller?”

“Ờ, không lâu lắm.”

“Và cậu đã xử lí bao nhiêu vụ hình sự rồi?”

“A, thực ra đây là vụ đầu tiên.”

Little gật đầu. “Tôi cũng nghĩ vậy. Hãy cho tôi biết, vì cậu mới vào nghề chưa bao lâu nên chắc cậu còn niềm tin vào công lí chứ?”

“Chắc chắn rồi.”

“Vậy cậu sẽ không đành lòng để một người bị hàm oan, phải không?”

“Không ai muốn thế cả.”

“Kẻ đã giết Laurie Erickson muốn.”

Brad cau mày. “Ông đang nói mình không giết cô Erickson?”

Little nhìn thẳng vào mắt Brad và chậm rãi gật đầu.

“Và ông thực sự có bằng chứng ngoại phạm tại thời điểm cô bé mất tích?” Brad nói, mặc dù không tin lấy một lời của vị thân chủ này.

“Đúng vậy.”

“Sao phải ra vẻ bí mật thế? Nếu ông có bằng chứng chứng minh mình vô tội, tại sao ông không nói với luật sư tại tòa hay trình bày với thẩm phán.”

“Việc này hơi ngoắt ngoéo một tí.”

“Nghe này, tôi không muốn ra vẻ kẻ cả, nhưng ông đang lảng tránh các câu hỏi của tôi về bằng chứng ngoại phạm của ông, hệt như ông đã không chịu trả lời thẩm phán trong phiên xét xử. Nếu ông không thành thật với tôi, tôi sẽ không thể giúp ông.”

“Vấn đề thế này, cậu Miller ạ. Tôi có nhân chứng chứng minh tôi hoàn toàn vô tội trong vụ Erickson, nhưng đồng thời sẽ chỉ ra tôi phạm một tội khác.”

“Ông Little, ông còn gì để mất nào? Ông bị kết án tử hình không chỉ vì vụ Erickson. Tòa án Tối cao sẽ phê chuẩn các bản án của ông một tuần sau phiên tòa kháng cáo. Kể cả nếu tôi có thắng vụ này, ông vẫn bị xử tử.”

“Nhưng không phải vì một vụ tôi không làm. Đây là vấn đề danh dự đó, Miller ạ.”

“Thôi được, tôi hiểu ông không muốn kẻ khác nhởn nhơ ngoài kia trong khi ông phải thay hắn gánh tội. Nhưng tôi không hiểu tại sao ông không nói gì với luật sư của mình nếu cảm thấy bằng chứng ngoại phạm này chắc chắn đến thế. Bất kì điều gì ông nói với ông ta đều được giữ bí mật, kể cả khi ông thú nhận một tội ác khác.”

“Nguyên tắc đó giờ sẽ được áp dụng cho cậu.”

“Vâng. Tôi là luật sư của ông, cho nên mọi điều ông nói với tôi đều là bí mật. Nếu ông kể cho tôi nghe một tội ác ông đã làm, luật pháp ngăn cấm tôi tiết lộ thông tin ấy cho bất kì ai. Và tôi chắc chắn rằng vị luật sư từng bào chữa cho ông đã nói tương tự. Vậy tại sao ông không cho ông ấy biết tên của nhân chứng?”

“Bởi vì ông ta là tên ngốc. Tòa án chỉ định cho tôi một kẻ thiếu năng lực toàn diện. Tôi không tin ông ta sẽ tử tế theo đuổi sự việc nếu tôi kể hết. Và vì lúc đó tôi đang kháng cáo các vụ khác, nên tôi không muốn để lộ thêm một tội mới.”

Little do dự. Brad có thể thấy hắn đang đấu tranh tư tưởng ghê gớm lắm.

“Còn một điều nữa,” Little nói. “Để chứng minh sự vô tội, tôi sẽ phải chia lìa với những tài sản quý báu của mình. Tôi không nỡ gửi gắm chúng vào tay tên ngốc kia. Giờ trừ khi chúng được mang ra tòa làm bằng chứng, tôi sẽ chẳng còn cơ hội nào được ngắm chúng nữa. Vậy nên tôi không còn gì để mất khi kể cho cậu nghe về chúng.”

“Ông chỉ vừa mới gặp tôi thôi, ông Little. Tại sao ông nghĩ tôi thông minh hơn vị luật sư từng bào chữa cho ông?”

“Bởi vì hãng Reed, Briggs, Stephens, Stottlemeyer và Compton thấy cậu đủ năng lực làm việc cho họ, và bọn họ không thuê lũ ngốc.”

Brad thở dài. “Tôi đánh giá cao sự tin cậy của ông, nhưng có lẽ đã quá muộn để tôi giúp ông rồi. Tôi thụ lí đơn kháng cáo của ông. Một đơn kháng cáo dựa trên những hồ sơ của các phiên tòa trước đó. Chúng ta không thể đưa ra thêm bằng chứng mới cho Tòa Phúc thẩm Vùng chín.”

“Thế nếu cậu có thể chứng minh tôi vô tội thì sao? Các nhà chức trách sẽ phải lắng nghe một luật sư của hãng Reed, Briggs . Nếu cảnh sát tin tôi không giết Laurie Erickson, thống đốc sẽ đoái thương tôi, đúng không?”

“Tôi thực sự không biết. Tôi nghiên cứu hồ sơ tốt, vì thế tôi được giao giải quyết vụ của ông, nhưng tôi không có chuyên môn về án hình sự và các thủ tục liên quan. Có lẽ nếu ông đưa ra một bằng chứng cho thấy ông không thực hiện vụ giết người ấy, tôi sẽ giúp được ông.”

Little im lặng một lát. Brad gần như nghe được những phân tích thiệt hơn vang lên trong đầu hắn.

“Được rồi, tôi chấp nhận mạo hiểm. Đúng như cậu đã nói, tới thời điểm này, tôi chẳng còn gì để mất,” Little nhoài người tới. “Vào cái đêm Laurie Erickson bị bắt cóc và giết chết, tôi đang ở với người khác.”

“Ông đã nói điều đó rồi, tôi cần một cái tên và cách liên lạc với nhân chứng.”

“Tên cô ta là Peggy Farmer.

Brad viết vào sổ. “Ông có biết tôi phải tìm cô ấy như thế nào không?”

“Có. Cô ta đang ở trong rừng quốc gia Deschutes, cách khu đỗ xe của bãi cắm trại Reynolds khoảng tám cây số. Vào cái đêm cảnh sát cho rằng tôi bắt cóc Laurie Erickson, tôi đang mổ bụng Peggy.”

Dạ dày Brad quặn lại và anh cảm giác như sắp nôn. Little để ý thấy sự khó chịu của anh và mỉm cười.

“Cô ta đi cắm trại cùng bạn trai. Bọn họ ở sâu trong rừng; đúng là một đôi thích đi bộ đường dài. Tôi đã đi theo họ, xóa sổ gã bạn trai trong lúc gã ngủ và chơi Peggy đến chán mới thôi. Thiên hạ vẫn nhầm tưởng họ mất tích bởi không ai tìm thấy hai thi thể ấy. Người ta đã tổ chức tìm kiếm, nhưng tôi giấu xác họ khéo lắm nhé.”

“Ông Little,” Brad cố giữ giọng vững vàng. “Nếu cô Farmer đã chết, làm sao cô ta có thể làm chứng cho ông?”

“Anh biết về bộ sưu tập ngón út của tôi chứ?”

Brad gật đầu, không tin anh có thể mở miệng ra nói nổi. Anh bắt đầu thấy lợm giọng.

“Nếu kiểm tra bộ sưu tập của tôi, chuyên gia pháp y sẽ tìm thấy ngón út của Peggy, nhưng không thấy của Laurie Erickson.”

Hình ảnh một chiếc lọ thủy tinh chứa đầy các ngón út hiện ra trong đầu Brad. Anh suýt ngất.

“Bạn cùng phòng của Peggy sẽ kể với anh rằng Peggy cùng bạn trai đi cắm trại từ chiều ngày thứ tư và đáng lẽ phải về nhà vào tối thứ sáu. Họ sẽ đi dự một đám cưới vào thứ bảy tuần đó mà. Tôi đã đi làm hôm thứ năm và thứ sáu. Tôi gọi đến báo nghỉ ốm vào ngày thứ tư. Cái ngày tôi giết Peggy phải là thứ tư, cùng ngày Laurie mất tích. Tôi không thể cùng một lúc ở hai nơi.”

Câu chuyện đã vượt xa khỏi mong đợi của Brad. Đáng lẽ giờ này anh đang đọc lại các hợp đồng và kiểm tra hồ sơ bất động sản, chứ không phải ngồi cách một tên điên chuyên sưu tập ngón út vài bước chân.

“Có vẻ việc này hơi quá sức chịu đựng của cậu,” Little tử tế nói, “cậu có thể nhờ quản giáo lấy cho chút nước.”

“Tôi ổn,” Brad vẫn muốn nghe tiếp mặc dù anh chẳng thấy ổn chút nào.

“Cậu không cần tỏ ra dũng cảm, Miller ạ. Chúng ta đều suy sụp khi tình thế vượt quá sức chịu đựng. Tin tôi đi, tôi tận mắt chứng kiến nhiều rồi.” Khuôn mặt Little thoáng vẻ tiếc nuối. “Vài người khóc lóc và cầu xin ngay lập tức. Những kẻ khác nguyền rủa và đe dọa. Chúng cố tỏ ra cứng cựa. Nhưng ngay cả những kẻ cứng cựa cũng phải van xin khi đau đớn quá mức.”

“Được rồi,” Brad nói, cố không nôn thốc nôn tháo trước mặt tay tử tù. “Bây giờ tôi đi đây.”

“Tôi rất tiếc đã làm phiền lòng cậu. Nhưng tôi cần nhắc cậu nhớ: Cậu là luật sư của tôi và có nghĩa vụ phải cực lực bào chữa cho tôi. Nếu không, cậu sẽ bị tước bằng đấy nhé.”

“Nghe này ông Little, đây là vụ án của hãng luật. Tôi chỉ được giao xử lí thôi. Tôi sẽ nộp hồ sơ bào chữa cho ông về những vấn đề đã nêu ra trong phiên tòa xét xử, nhưng chỉ đến thế thôi.”

“Tôi không nghĩ vậy. Tôi đã cho cậu biết cách để chứng minh tôi vô tội. Nếu cậu không theo đuổi vụ việc, tôi sẽ khiếu nại lên Hiệp hội Luật sư và kiện cậu rồi đưa cậu lên báo. Tôi sẽ nói cậu không chịu giúp tôi bởi cậu quá sợ hãi. Cậu nghĩ cái tai tiếng đó sẽ giúp ích cho sự nghiệp của cậu như thế nào?”

“Ông sẽ chẳng đi đến đâu với đơn kiện và khiếu nại của mình.”

“Có thể, nhưng cậu sẽ lên trang nhất bởi tôi luôn ở đó. Không ai cần một luật sư hèn nhát cả. Hãy nghĩ kĩ về những gì tôi vừa kể rồi liên lạc lại. Tôi sẽ cho cậu biết cách tìm ra những vật lưu niệm đáng yêu của tôi.”

Brad đờ đẫn đi bộ ra chỗ để ô-tô. Suốt chặng đường về Portland, anh không tập trung nổi. Những hình ảnh về bộ sưu tập ngón tay của Little cùng thi thể bị moi ruột của Peggy thay nhau hiện lên trong đầu anh. Cảm xúc trong anh vô cùng hỗn độn. Anh vừa giận Little vì đã ràng buộc anh, vừa lo tên tội phạm sẽ tìm được cách vượt ngục và tra tấn anh đến chết, đồng thời hiếu kì về tính xác thực của lời thú nhận vừa nghe. Còn kẻ nào đáng bị đổ tội giết người hơn một tên giết người hàng loạt? Ai lại đi tin vào lời chối tội của một tên sát nhân điên loạn cơ chứ!

Nửa đường tới Portland, Brad gọi một cú điện thoại. “Ginny Striker xin nghe,” giọng nói ở đầu dây bên kia trả lời.

“Chào chị, là tôi, Brad Miller đây.”

“Brad à, có chuyện gì không?”

“Chị có thời gian đi uống cà phê với tôi không?”

“Tôi hơi bận. Paul Rostoff vừa giao cho tôi một việc cần gấp.”

“Nhưng chuyện này quan trọng lắm. Tôi rất, rất cần vài lời khuyên.”

Đầu dây bên kia im lặng một lát và Brad nín thở. Anh gọi Ginny bởi cô thông minh và giỏi suy luận. Hơn nữa anh cũng không nghĩ ra người đồng nghiệp nào khác để trút bầu tâm sự.

“Chắc tôi nghỉ giải lao một lát cũng không sao.”

“Chị gặp tôi ở quán cà phê trên đường Broadway và Washington nhé?”

“Brad, đây là Portland. Từ cửa sổ phòng mình, tôi thấy cả triệu nơi có thể ghé vào và làm một tách cà phê đấy nhé. Sao chúng ta không gặp nhau ở chỗ nào gần văn phòng hơn?”

“Tôi không muốn chạm mặt người quen.”

“Có chuyện gì thế Brad?”

“Tôi sẽ kể cho chị nghe sau hai mươi lăm phút nữa.”

Brad bước vào khi Ginny đang uống một tách latte tại một bàn bên trong quán. Anh vẫy tay với cô rồi gọi một li cà phê đen và mang đến bàn. Thói quen uống cà phê đen đã lớn lên cùng anh và đến nay, anh vẫn chưa quen được với latte, cappuccino hay bất cứ loại cà phê nào được dân Portland ưa thích.

“Tôi cảm giác như mình là Mata Hari* ấy, Ginny nói khi Brad ngồi xuống. “Sao phải bí mật thế?”

Brad nhìn quanh để đoan chắc không có ai ở hãng luật đang ngồi trong quán.

“Tôi sắp kể cho chị nghe một cuộc nói chuyện bí mật của tôi với một thân chủ. Vì chúng ta cùng làm việc cho Reed, Briggs nên chị cũng bị quy tắc giữ bí mật giữa luật sư và thân chủ ràng buộc, đúng không?”

“Đúng.”

“Chị không được phép kể cho ai nghe điều tôi sắp nói.”

Ginny làm dấu thánh giá trên ngực mình. “Tôi xin thề nếu tôi hé răng nửa lời, tôi sẽ bị trời đánh chết” cô vừa cười vừa nói.

“Không đùa đâu.”

“Xin lỗi, ai bảo mặt cậu hình sự quá. Tôi chỉ muốn giúp cậu bớt căng thẳng thôi.”

“Chị sẽ không cười nổi khi nghe điều tôi sắp kể đâu. Tôi vừa đi gặp Clarence Little ở nhà tù về.”

“Hắn ta thế nào?” Ginny háo hức hỏi.

“Tệ hơn tôi tưởng” Brad trả lời, rồi kể cho Ginny nghe về cuộc gặp của mình. Lúc anh kể xong, quả nhiên cô không còn cười nữa.

“Cậu nghĩ hắn nói thật không?” Ginny hỏi.

“Tôi không biết. Gã này điên lắm. Lúc kể cho tôi biết hắn đã moi ruột một cô gái tội nghiệp, hắn hoàn toàn vô cảm. Tôi tưởng mình nôn ọe đến nơi. Tôi chắc chắn hắn cười nhạo vẻ khó chịu của tôi. Little quá biến thái và tàn độc.”

“Nhưng hắn có nói dối không?”

“Tôi không biết, nhưng nếu phải đặt cược, tôi cược hắn nói thật. Hắn có vẻ bị xúc phạm thật sự vì có kẻ đã đổ vấy tội cho hắn, và hắn quyết chứng minh mình trong sạch, dù việc này không thể giúp hắn thoát án tử.”

“Vậy sao cậu gọi tôi ra đây?” Ginny hỏi.

“Tôi không biết phải làm gì. Nhiệm vụ của tôi là tìm hiểu và đệ đơn kháng cáo cho Little chứ không phải chứng minh hắn vô tội. Và hơn nữa, về mặt pháp lí, việc hắn có tội hay không không liên quan đến Tòa Phúc thẩm Vùng chín. Mối quan tâm duy nhất của phiên tòa là liệu luật sư của hắn có thiếu năng lực hay không. Dù tôi tìm được những ngón tay út, tòa cũng không coi đó là bằng chứng.”

“Vậy đừng làm. Chỉ việc viết hồ sơ biện hộ thôi.”

“Chỉ thế thôi được không? Tôi là luật sư của hắn. Chẳng phải chính tôi cũng là một kẻ thiếu năng lực nếu Little cho tôi biết bằng chứng vô tội của hắn và tôi không điều tra? Và nếu tôi không điều tra còn hắn mang sự việc lên báo thì sao? Việc đó sẽ tác động đến hãng luật tới mức nào?”

“Qua suy luận, tôi có thể đoán rằng” Ginny nói, “các luật sư cộng sự ghét cay ghét đắng tai tiếng. Nó sẽ khiến các khách hàng giàu có không tiếp tục rót tiền vào két của Reed, Briggs nữa. Nếu cậu làm không ra đâu vào đâu, cậu bị ném vào miệng sói là tất nhiên thôi.”

“Tôi cũng nghĩ thế. Nhưng chẳng nhẽ họ thích tôi gỡ tội cho tay sát nhân máu lạnh nhất Oregon tính trong vài chục năm gần đây hơn sao?”

“Đúng thế. Ít nhất họ cũng có thể cãi rằng hãng Reed, Briggs luôn đấu tranh vì thân chủ bất kể người ấy mạt hạng đến đâu. Việc đó sẽ khiến các công ty thuốc lá và dầu mỏ càng thêm tín nhiệm hãng.”

“Vậy chị nghĩ tôi nên thử tìm những ngón út kia?”

“Thế còn thú vị hơn việc có hiểu ý nghĩa của cái phần luật thuế họ vừa bắt tôi tìm hiểu. Và có việc này cậu nên nghĩ thêm. Nếu hắn vô tội thật và cậu chứng minh được thì sao? Cậu sẽ nổi tiếng. Cậu sẽ là chiêu PR tốt, kéo thêm khách hàng tới với hãng. Và rồi con đường trở thành luật sư cộng sự của cậu cũng sẽ ngắn lại. Sau đó, cậu sẽ trở thành người giao những tập hồ sơ dày cả ngàn trang cho những luật sư tập sự đang ấp ủ bao nhiêu dự định cho những ngày nghỉ cuối tuần vào lúc 5 giờ chiều thứ sáu. Thế chẳng tuyệt lắm sao?”

Brad thở dài.

“Chị làm ơn nghiêm túc đi. Toàn bộ việc này khiến tôi đau đầu nhức óc quá.”

“Cứ nghe tôi, làm đi. Tìm hiểu thực hư lời thú nhận của Little. Yêu cầu hắn cho biết chỗ giấu những ngón út. Nếu hắn nói điêu, cậu thoát nợ.”

“Còn nếu không?”

“Cậu đào chúng lên. Tôi sẽ đi cùng cậu. Tôi sẽ là cộng sự đắc lực của cậu.”

Đột nhiên Brad thấy nghi ngờ. Ginny hơi nhiệt tình quá mức. Anh nheo mắt nhìn.

“Có chuyện gì thế? Sao bỗng nhiên chị hào hứng tham gia vụ của tôi thế?”

Ginny đỏ mặt xấu hổ. Brad thấy cô thật đáng yêu.

“Từ sau bữa chúng ta nói chuyện, tôi bắt đầu quan tâm đến vụ án Laurie Erickson,” Ginny thú nhận. “Cậu biết Jeff Hastings không?” Cô nêu tên một luật sư mới khác của hãng.

“Có chứ. Chúng tôi từng chơi với nhau vài ván tennis.”

“Jeff lớn lên ở Portland và học luật ở đây. Bố mẹ cậu ta thuộc giới thượng lưu, là thành viên của tất cả nhóm ủng hộ đảng cánh hữu và có nhiều mối quan hệ với giới chính khách. Vì thế, Jeff đã nghe được rất nhiều lời bàn tán về Christopher Farrington hồi ông ta còn là thống đốc.”

“Như thế nào?”

Ginny nhoài người tới và hạ giọng. “Người ta đồn rằng Farrington lăng nhăng với Laurie Erickson.”

“Cái gì! Tôi không tin. Laurie chỉ là một đứa trẻ.”

“Thế cậu không biết thế nào là trâu già khoái gặm cỏ non à?” Ginny nở nụ cười tự mãn.

Brad đỏ mặt. “Tôi không ngốc, Ginny, nhưng chị không nghĩ là báo chí sẽ làm rùm beng vụ này vì trong thời gian đó, Farrington đang tranh cử à?”

“Tôi cũng đã hỏi Jeff như vậy. Cậu ta nói Farrington đã né được vụ đó. Có nhiều lời đồn đại về vụ ngoại tình nhưng tất cả mọi người đều ngậm mồm sau khi Erickson chết. Người ta còn nói rằng mẹ của Laurie đã bị tiền bịt miệng. Hẳn phải rất nhiều tiền.”

“Tôi tưởng Farrington nghèo chứ. Ông ta lấy đâu ra tiền để hối lộ một người mẹ vừa mất con?”

“Farrington có nhiều người ủng hộ giàu có, nhưng nguồn lực hiển nhiên nhất là vợ ông ta. Gia đình bà Claire Farrington rất giàu. Nhà Meadow kiếm được cả đống tiền, tiền từ ngành nông nghiệp ở miền đông Oregon. Ngoài ra họ còn lấn sân sang phân phối ô-tô Nhật Bản, đầu tư ban đầu cho nhiều công ty công nghệ thành công. Sau khi họ đính hôn, gia đình bác sĩ Farrington đã tài trợ cho chiến dịch tranh cử đầu tiên của Christopher. Nếu tiền là thứ cần thiết để cứu vớt sự nghiệp của chồng, Claire có thừa.”

“Có bằng chứng chắc chắn nào chứng tỏ Farrington ngoại tình không?”

“Jeff bảo là không, nhưng cậu ta cũng nói rằng Erickson không phải cô gái đầu tiên có quan hệ không minh bạch với Farrington.”

Brad nhăn mặt. “Chị đọc quá nhiều tiểu thuyết lãng mạn của Harlequin rồi.”

“Farrington chỉ giỏi diễn thôi. Jeff nói rằng khoảng một năm trước khi tranh cử thượng nghị sĩ, lúc đó Farrington còn là luật sư, ông ta xử lí một vụ đòi bồi thường thương tật của một cô bé mười bảy tuổi gặp tai nạn trong lúc trượt tuyết. Nghe nói ông ta đã mang tấm séc đến cho cô bé trong chiếc xe limo có tài xế riêng, trên xe đầy rượu sâm-panh. Ai mà biết được trên xe còn có gì và họ ăn mừng kiểu nào ở khoang ghế sau.”

“Mấy chuyện này ở đâu ra vậy?”

“Từ người tài xế. Jeff bảo tài xế của Farrington thấy quá ghê tởm nên đã báo cảnh sát. Nghe nói bố mẹ của cô gái đã không cho cô ta gặp cảnh sát, vì thế chẳng có cáo buộc nào hết. Tất cả mọi người đều nghĩ gia đình nọ đã nhận tiền của Charles Hawkins, cánh tay mặt của Farrington.”

Brad uống một ngụm cà phê và nghiền ngẫm những thông tin kịch tính vừa được Ginny cung cấp. Càng nghĩ, lông mày của anh càng cau lại.

“Vậy,” cuối cùng anh nói, “giả thiết của chị là vị tổng thống Hoa Kỳ đương nhiệm đã giết cô trông trẻ, hòng che giấu vụ trăng hoa?”

“Có thể Hawkins đã làm thay. Jeff đã gặp Hawkins vài lần. Cậu ta bảo người đàn ông đó rất đáng sợ. Ông ta từng là lính biệt kích và vẫn còn để tóc kiểu thủy quân lục chiến. Nghe nói ông ta rất thân với Farrington. Người ta còn nói rằng Hawkins dám làm bất cứ việc gì để bảo vệ tổng thống và đệ nhất phu nhân.”

“Thôi, việc này quá sức của tôi rồi. Tôi sẽ không cáo buộc tổng thống tội giết người đâu. Lúc đó, tôi không chỉ bị đuổi cổ khỏi Reed, Briggs mà cả đời này cũng đừng nghĩ tìm được việc khác.”

“Ai nói cậu phải buộc tổng thống tội giết người nào? Cậu không để ý trong giờ học luật hình sự à? Trong lúc biện hộ cho bị cáo, cậu không cần chứng minh ai là hung thủ thật sự. Cậu chỉ cần đưa ra những nghi vấn hợp lí đối với tội lỗi của thân chủ mình thôi. Cảnh sát sẽ phải tìm ra kẻ đã giết Erickson nếu cậu thuyết phục được họ rằng Little đã không làm việc đó.”

Quả đúng là Brad đã không mấy tập trung khi học luật hình sự và anh quên mất trách nhiệm của mình đối với Clarence Little không bao gồm đi tìm hung thủ thật sự như trong phim hành động.

“Chị nói đúng” Brad nói, thở ra nhẹ nhõm. Sau đó, anh nghiêm mặt. “Đừng kể với ai về giả thiết của chị nhé. Chị có thể gặp rắc rối đấy.”

“Brad, tôi đâu có điên. Và tôi chỉ đang chơi trò biện hộ cho quỷ sứ ấy mà. Tôi không biết ai đã giết Laurie Erickson. Tuy nhiên, tôi vẫn muốn giúp cậu tìm hiểu Little có thực sự vô tội không.”

“Tôi không biết nữa.”

“Thôi nào, cậu cứ chần chừ như thế làm gì. Ba mớ giấy tờ họ bắt tôi xử lí chán muốn chết. Tôi cần một vụ làm tôi phấn chấn lên.”

Brad cau mày. “Để tôi nghĩ đã.”

“Tất nhiên rồi.”

“Rất cảm ơn vì lời khuyên và thông tin của chị.”

“Không có chi.”

“Cho tôi một hai ngày suy nghĩ nhé.”

“Cứ nghĩ bao lâu tùy thích. Nhưng nhớ này: Nếu Little vô tội và cậu không chịu làm gì, cậu sẽ giúp hung thủ thực sự thoát tội.”

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của phillip margolin