Keith Evans đã kiệt sức. Là trưởng ban chuyên án Thợ Xẻ D.C, anh phải làm gương cho các đặc vụ FBI cấp dưới. Đêm qua, sau khi đồng hồ điểm 12 tiếng, anh mới bò vào giường. Giờ mới có 5 giờ sáng, anh đã phải thức dậy trong tình trạng người lảo đảo và mắt đau nhức. Chưa kịp tắm rửa, anh đã phải lao đến hiện trường tội ác mới nhất của Thợ Xẻ. Đó là một thùng rác công cộng tại con hẻm đằng sau một nhà hàng Trung Quốc ở Bethesda, Maryland. Ngay khi cảnh sát địa phương nhận ra họ có một nạn nhân khác của Thợ Xẻ, họ báo ngay cho văn phòng của ban chuyên án. Ít nhất tên khốn kiếp cũng biết điều khi để thi thể cách nhà Evans chỉ vài cây số.
Sau khi tìm được chỗ đỗ xe cách hiện trường một dãy nhà, Evans uống một hớp cà phê từ bình ủ giữ nhiệt và nhăn mặt. Vì quá vội nên anh không kịp pha cà phê mới, còn món cà phê từ hôm trước được hâm lại bằng lò vi sóng thật khó uống. Khi Evans bước đi trên vỉa hè, cơn gió thổi bay một trang báo tới chỗ anh. Anh kiệt sức đến mức nhìn chăm chăm trang tin thể thao bay trước mặt như bị thôi miên. Phải cố lắm anh mới rời mắt đi nổi. Evans lắc đầu cho tỉnh táo. Vụ Thợ Xẻ đang bào mòn sức lực của anh. Khi nhìn vào gương, anh không thấy vị thanh tra thành phố Omaha trẻ trung đã phá vụ án giết người hàng loạt từng làm đau đầu giới chức FBI nằm nào. Trưởng ban chuyên án khi ấy đã truy lùng tên giết người suốt ba năm và ông ta quá ấn tượng với tài phá án ngoạn mục của anh nên đã thuyết phục chàng trai trẻ xin vào làm cho Cục.
Lúc bắt đầu khóa huấn luyện tại Quantico, anh mới hai mươi chín tuổi, dáng người rắn rỏi, cao 1 mét 87 và nặng gần chín mươi lăm cân. Khi ấy anh có mái màu vàng cát, da căng và đôi mắt xanh trong sáng. Giờ đây anh đã gần bốn mươi và chỉ còn hao hao giống chàng trai trẻ ngày xưa. Mái tóc vàng giờ đã lẫn sợi bạc, dưới đôi mắt đeo kính của anh có thêm hai quầng thâm không tan nổi. Anh tăng thêm năm cân ở vùng bụng và lưng đã hơi còng xuống. Giờ đây anh đã không còn có lại cái trực giác đã giúp anh phá vụ án ở Nebraska. Tất nhiên anh cũng có những chiến thắng, nếu không ban lãnh đạo đã chẳng giao cho anh làm trưởng ban phá án D.C này. Nhưng đó là nhờ vào việc lần theo dấu vết chứ không phải khả năng suy luận phi thường của anh.
Trong những năm qua, thời gian làm việc dài dằng dặc của Evans đã hủy hoại cuộc hôn nhân êm ấm và khiến anh kiệt sức - không phải trạng thái tốt nhất để đương đầu với tên giết người đặc biệt khôn ngoan. Trong khi đó, gã Thợ Xẻ lại quá ư tinh quái. Hắn hiểu quy trình làm việc của cảnh sát và đặc biệt giỏi che dấu vết tích cũng như hủy bằng chứng. Nhiều người cho rằng hắn là một cảnh sát hoặc người muốn gia nhập lực lượng này nhưng bị từ chối. Và giờ, hắn muốn chứng minh cho cảnh sát thấy họ đã sai lầm như thế nào. Nhưng bất kì kẻ bình thường nào thông minh một chút đều có thể lên mạng và tìm hiểu quy trình điều tra hiện trường. Quả thật, ban chuyên án không hề biết kẻ đứng sau các vụ giết người đang bắt đầu làm kinh động cư dân Washington D.C và các vùng lân cận là ai.
Một sĩ quan cảnh sát Bethesda đang đứng gác cạnh hàng rào chắn lối vào con hẻm để ngăn các cư dân hiếu kì. Dù còn sớm nhưng đã có rất nhiều người nghển cổ theo dõi các hoạt động tại hiện trường. Evans lách qua và dừng lại cạnh rào chắn để kí tên vào sổ theo dõi an ninh. Bất cứ ai ra vào hiện trường đều phải để lại tên tuổi và thời gian lưu lại. Con hẻm đầy các nhân viên khám nghiệm hiện trường, những sĩ quan cảnh sát và các đặc vụ mặc áo gió màu xanh dương in chữ FBI màu vàng phản quang nổi bần bật sau lưng. Evans đi găng tay cao su và bao giày Tyvek vào, dù biết mình đi vào hiện trường như thế nào cũng chẳng còn quan trọng nữa. Trong vài giờ qua, hết cảnh sát, kĩ thuật viên đến các đặc vụ đã thi nhau phá hoại hiện trường, chưa kể đến những người dân có thể đã đi qua chỗ này kể từ lúc tên sát nhân để lại cái xác.
Thùng rác nằm ở giữa con hẻm, với túi đựng xác nạn nhân đặt ngay cạnh. Ở đầu bên kia con hẻm là chiếc xe tải sẽ chở tử thi tới nhà xác để mổ khám nghiệm. Đứng bên cạnh túi xác, đang nhấm nháp cốc cà phê Starbucks là Arthur Standish, bác sĩ pháp y của hạt. Evans tin tưởng Standish. Đây chính là vị bác sĩ đã tỉ mỉ khám nghiệm nạn nhân thứ hai của Thợ Xẻ trước khi Cục Điều tra vào cuộc. Đang chuẩn bị tới chỗ thi thể, Evans bị một cảnh sát cao to, tóc muối tiêu cắt ngắn chắn ngang.
“Ron Guthridge, thuộc lực lượng cảnh sát Bethesda,” người đàn ông nói và chìa tay ra. “Tôi chịu trách nhiệm hiện trường trước khi người của anh tới.”
“Keith Evans, trưởng ban chuyên án FBI.”
“Tôi biết” Guthridge cười đáp. “Anh là ngôi sao truyền hình cơ mà.”
“Cảm ơn vì đã thông báo sớm cho chúng tôi” Evans lờ câu nói đùa đi. Trong vụ này, anh là phát ngôn viên của FBI, thay mặt Cục trả lời báo giới. Các đồng nghiệp của anh vẫn thường lấy vẻ ngoài tệ hại của anh trong các buổi họp báo làm đề tài châm chọc. Giờ thì đến cả cảnh sát địa phương cũng trêu anh về chuyện đó.
“Tin tôi đi, tôi rất mừng được giao bé cưng này cho anh.”
“Chúng ta biết danh tính nạn nhân không?”
Guthridge gật đầu. “Nạn nhân là Charlotte Walsh, sinh viên đại học Hoa Kỳ. Chúng tôi đã có địa chỉ căn hộ của cô bé.”
“Và anh biết nhờ thẻ căn cước của Walsh được tìm thấy bên dưới thi thể cô bé?”
Guthridge nhướng mày. “Đúng, sao anh biết?”
“Thợ Xẻ luôn để lại thẻ căn cước bên dưới thi thể” Evans nói nhưng hối hận ngay tắp lự. Anh không nên tiết lộ chuyện này. Sự mệt mỏi đã làm mờ lí trí của anh. “Chúng tôi không công bố chi tiết ấy,” Evans vội bổ sung. “Tôi sẽ kín mồm kín miệng” Guthridge đảm bảo.
“Đã ai tới căn hộ của cô bé chưa?” Evans hỏi.
“Chưa. Ngay khi nhận ra đây có thể là tác phẩm của Thợ Xẻ, tôi đã cho ngừng mọi hoạt động điều tra để tránh lấn sang chuyên môn của các anh.”
“Cảm ơn anh.”
“Như đã nói, đây là bé cưng của anh và mời anh tự nhiên.”
“Đây quả là một cách tuyệt vời để khởi đầu ngày mới,” bác sĩ Standish nói với Evans khi anh cùng Guthridge tới thùng rác.
“Tôi yêu mùi của rác rưởi và tử thi vào sáng sớm.”
Standish cười khùng khục và Evans hất hàm về túi xác. “Tại sao anh nghĩ chúng ta có thêm nạn nhân nữa của Thợ Xẻ?”
Standish nghiêm túc vào việc. “Nạn nhân bị móc mắt.”
Ngoài chi tiết về thẻ căn cước, các nhà chức trách cũng không công khai chuyện Thợ Xẻ lấy đi đôi mắt của nạn nhân. Giữ lại một vài thông tin cụ thể sẽ giúp loại trừ những lời thú tội giả.
“Thế còn dư chất tìm thấy trong miệng các nạn nhân?”
“Tôi phải mổ tử thi và gửi mẫu tới phòng thí nghiệm rồi mới biết được.”
Một lượng dư chất rất nhỏ đã được tìm thấy trong miệng của cả bốn nạn nhân trước của Thợ Xẻ. Có điều, phòng thí nghiệm của FBI vẫn chưa xác định ra nó là gì và tại sao lại có mặt ở đó.
“Hillerman, mang chiếc ví lại đây,” Guthridge nói to với một cảnh sát gốc Phi gầy nhẳng phụ trách ghi lại các vật chứng tại hiện trường.
Hillerman mang tới một túi nhựa đựng chiếc ví da Prada cùng một vài vật dụng khác. Evans lấy chiếc ví ra khỏi túi và kiểm tra bên trong. Bằng lái xe thuộc về Charlotte Walsh, trên có ghi một địa chỉ cách đại học Hoa Kỳ vài cây số.
Evans ngồi xuống và mở khóa túi đựng xác. Dù đã biết sẽ thấy gì nhưng anh vẫn ghê sợ trước sự tàn bạo mà một con người có thể gây ra cho đồng loại của mình. Thợ Xẻ mặc quần áo cho thi thể, nhưng Evans vẫn nhìn thấy hai hốc đen từng là đôi mắt sáng ngời cùng cái cổ họng trông như bị động vật cắn xé của cô bé tội nghiệp. Không nghi ngờ gì nữa, cô gái trẻ trong tấm bằng lái xe và nạn nhân xấu số trong túi đựng thi thể này là một.
“Có ai tìm thấy xe của Walsh ở gần đây không?” Evans hỏi Guthridge.
“Chưa, nhưng chúng tôi đã phát lệnh truy lùng” viên trung úy cảnh sát trả lời.
Evans đứng dậy và ghi lại địa chỉ trên bằng lái xe vào sổ. Anh đặt chiếc ví vào túi đựng vật chứng và trả Hillerman.
“Tôi rất, rất muốn bắt tên khốn này,” Evans lẩm bẩm.
“Tôi cũng đang đợi ngày đó đây” Standish nói trước khi nhấp thêm một ngụm cà phê nữa.
Điện thoại của Guthridge reo vang. Ông ta tránh đi và đưa nó lên tai nghe. Sau cuộc nói chuyện ngắn, viên trung úy trở lại với hai người kia.
“Người của tôi vừa tìm thấy xe của Walsh ở sâu trong bãi đỗ xe của trung tâm thương mại Dulles Towne. Chiếc xe không khởi động được vì đã bị cắt dây ắc quy và trên ghế lái có vết máu.”
“Có đám đông nào bu quanh xe không?” Evans hỏi.
“Không. Một người bảo vệ đã để ý thấy chiếc xe đỗ ở đó từ trước khi trung tâm thương mại mở cửa nên nghi ngờ. Khi trông thấy vết máu, anh ta liền gọi điện cho cảnh sát.”
“Tôi sẽ cử đội khám nghiệm hiện trường tới đó. Nhưng chúng ta sẽ kéo xe đi ngay khi họ xong việc. Cần phải giữ kín chuyện này.
“Tôi sẽ cho làm ngay” Guthridge nói.
Evans nói chuyện với một thành viên của đội khám nghiệm trước khi đi tới thùng rác. Anh nín thở và nhìn vào trong để tránh ngửi phải cái mùi thức ăn thiu thối tỏa khắp khu vực phía sau nhà hàng này.
“Nạn nhân đã nằm ở đâu?” Anh hỏi.
Hillerman đưa cho anh một túi ảnh chụp hiện trường trước khi thi thể được di dời. Những bức trên cùng cho thấy Walsh nằm dài trên những túi rác đen. Anh xem nhanh qua những tấm khác chụp nơi thi thể được tìm thấy và hiện trạng thùng rác sau khi người ta chuyển xác đi. Tất cả các nạn nhân trước đều được tìm thấy trong thùng rác. Không cần là sinh viên ngành văn, Evans cũng thừa hiểu chủ nghĩa tượng trưng Thợ Xẻ muốn truyền đạt.
“Tôi xong việc ở đây rồi. Art, anh có thể mang cái xác đi rồi đó.”
Bác sĩ Standish ra hiệu cho hai người chờ mang thi thể đi.
“Tôi sẽ qua căn hộ của Walsh.”
“Tôi sẽ gọi anh ngay khi có kết quả”
“Cảm ơn” Evans nói. Giờ đây, anh cảm thấy mệt gấp đôi lúc mới vào hẻm.
Charlotte Walsh sống ở tầng bốn của tòa nhà tám tầng thuộc khu liên hợp hiện đại, kết hợp giữa khu nhà ở cùng các nhà hàng hợp thời, chuỗi cửa hiệu cao cấp và các shop quần áo thanh lịch. Ngay khi tìm được địa chỉ này, Evans đã biết Walsh xuất thân từ gia đình giàu có. Một sinh viên nghèo không thể trang trải nổi một căn hộ vốn dành cho giới viên chức trẻ với mức lương lên tới sáu chữ số như thế này.
Trên đường đi từ hiện trường tới đây, Evans đã gọi cho cộng sự của anh, Maggie Sparks, và hẹn cô tại chỗ ở của Walsh. Một người phụ nữ thon thả, dáng vẻ khỏe khoắn ở độ tuổi ngoài ba mươi đang đi bộ trên vỉa hè gần cửa chính tòa nhà. Cô mặc chiếc quần phăng đen kẻ sọc và áo sơ-mi cổ Đức màu trắng. Mái tóc đen óng ả, đôi gò má cao cùng làn da sậm màu của Sparks cho thấy cô có thể là dân Anh-điêng. Quả đúng vậy nhưng cô còn mang dòng máu Tây Ban Nha, Rumani, Đan Mạch và vài sắc tộc nào đó nữa, vì thế cô không biết mình thuộc về tổ hợp gen nào trong số những tổ hợp gen của loài người.
“Xin lỗi đã kéo cô ra khỏi giường” Evans xin lỗi.
“Tôi chẳng nghe ra chút hối lỗi nào,” Sparks cười đáp. “Những kẻ khốn khổ thường thích kéo người khác khổ chung mà.”
Evans cười lại. Anh thích Sparks. Cô làm việc chăm chỉ như mọi thành viên khác của ban chuyên án nhưng vẫn giữ được óc hài hước. Họ đã đôi lần cùng đi uống vài li sau giờ làm nhưng anh chưa bao giờ đủ can đảm tiến xa hơn thế.
Sảnh tòa nhà là một không gian của đá hoa cương, gỗ tối màu và kim loại bóng loáng, được thắp sáng bởi những ngọn đèn tường của Art Deco. Các bức tranh trừu tượng phối hợp giữa nhiều gam màu treo trên bức tường sơn vàng nhạt. Evans chìa thẻ ngành cho người bảo vệ ngồi tại bàn trong sảnh. Anh ta mặc chiếc áo vét xanh dương và quần xám, dáng người đô con và mái tóc đen chải ngược ra sau. Anh ta ngờ vực nhìn thẻ của Evans.
“Chúng tôi cần biết số căn hộ của cô Charlotte Walsh,” Evans nói.
“Thưa ông, tôi không chắc mình được phép tiết lộ thông tin ấy” người bảo vệ nói trong lúc bạnh vai ra và cố hết sức tỏ vẻ nguy hiểm.
Evans đọc hàng chữ đen trên biển tên màu vàng của anh ta.
“Cô Walsh đã bị sát hại hồi sáng nay, Bob ạ. Cậu không muốn cản trở một cuộc điều tra án mạng chứ?”
Anh bảo vệ trợn tròn mắt. “Xin lỗi,” anh ta nói và vội vàng ra danh sách khách thuê, không còn tỏ vẻ bất hợp tác nữa. “Phòng 7091*.”
“Cô ấy sống một mình à?”
“Không, cô ấy ở cùng một người bạn tên là Bethany Kitces. Cô Kitces đã về từ hai tiếng trước.”
“Cảm ơn. Chúng tôi sẽ lên đó. Đừng báo cho cô Kitces. Cứ để chúng tôi lo liệu.”
“Vâng, tất nhiên rồi” người bảo vệ buồn bã lắc đầu. “Kinh khủng quá. Cô ấy rất tốt bụng.”
“Cậu biết cô ấy à?” Sparks hỏi.
“Chỉ chào nhau qua loa thôi. Cô ấy luôn thân thiện.”
Evans kể tóm tắt sự việc cho Sparks trong lúc đi thang máy lên tầng bảy và trên đoạn hành lang trải thảm dày dặn sáng ánh đèn tường. Sau đó, họ dừng chân trước cánh cửa sơn đen bóng có cả búa gõ cửa hình đầu sư tử lẫn chuông cửa. Anh chọn nhấn chuông và đến hồi chuông thứ ba, họ mới nghe thấy một giọng ngái ngủ yêu cầu đừng làm ổn. Evans bảo Maggie Sparks giơ thẻ ngành lên mắt thần.
“Cô Kitces,” Sparks nói với cánh cửa vẫn đóng im ỉm.
“Tôi là đặc vụ Margaret Sparks của FBI. Tôi muốn nói chuyện với em.”
“Về vấn đề gì?” Kitces hỏi.
Evans nhận thấy sự dè chừng trong giọng của cô gái.
“Liên quan đến Charlotte Walsh, bạn cùng phòng của em.”
“Có chuyện gì với bạn ấy à?” Kitces lo lắng hỏi.
“Tôi mong được thông báo tin này trong căn hộ. Chúng ta nên nói chuyện riêng.”
Evans nghe tiếng khóa “cạch” và một thiếu nữ đi chân trần bước ra cửa. Cô bé mặc quần ngủ cùng áo phông đồng phục trường và chỉ cao tầm mét rưỡi. Mái tóc xoăn vàng, rối bù ôm lấy khuôn mặt tròn trịa không phấn son của Bethany Kitces. Rõ ràng cô bé đã bị dựng dậy khỏi giường, nhưng sự hiện diện của hai đặc vụ FBI có tác dụng tương đương một li cà phê đậm đặc, khiến đôi mắt xanh dương to tròn của cô bé mở lớn.
Evans bước vào một tiền phòng nhỏ lát gỗ màu vàng nhạt trải thảm Ba Tư. Phía sau là một phòng khách rộng đầy những đồ nội thất đắt tiền nhưng không được chăm chút mấy. Trong phòng còn có dàn âm thanh hiện đại, chiếc ti-vi plasma lớn treo trên tường giống một bức tranh trừu tượng, một chiếc xô-pha da màu đen và bàn uống nước. Chiếc quần thể thao vắt vẻo trên tay ghế, cái bát còn dính vết kem chảy và một lon Coca đã bật nắp vứt bừa trên bàn. Sàn nhà cùng hai chiếc ghế da khác được trưng dụng để chất quần áo, đặt tạp chí thời trang và đĩa CD của những nhóm nhạc pop Evans chẳng hề biết tới. Giá sách chứa lẫn lộn cả sách giáo khoa và tiểu thuyết ba xu.
“Cô Kitces, đây là đặc vụ Keith Evans. Anh ấy đang cùng tôi điều tra vụ cô Walsh.”
“Vụ nào? Lotte bị làm sao ạ?”
“Có lẽ em nên ngồi xuống” Sparks gợi ý rồi đi qua cô gái trẻ và hướng về phía xô-pha. Evans đứng im cho đến khi cô bạn cùng phòng của Walsh đã ngồi xuống. Cô gái có vẻ bồn chồn.
“Rất xin lỗi đã đánh thức em” Sparks nói. “Tôi biết em vừa về nhà được vài tiếng.”
Kitces gật đầu.
“Em đã ra ngoài suốt buổi tối à?”
“Vâng.”
“Tối qua, em rời khỏi căn hộ lúc mấy giờ?”
“7 giờ hơn một chút.”
“Lúc ấy Walsh còn ở đây không?”
“Không, bạn ấy ra ngoài từ lúc 4 giờ chiều.”
“Em có biết bạn mình đi đâu không?”
“Không. Bạn ấy chỉ nói là cần phải làm vài việc.”
“Em đã đi đâu?”
“Đã có chuyện gì thế? Lotte gặp chuyện gì?” Kitces lại hỏi.
“Tôi sắp trả lời câu hỏi của em đây,” Sparks nói. “Nhưng tôi cần em trả lời tôi đã.”
Sparks để ý thấy vai của Kitces đã chùng xuống và hai bàn tay đan trên đùi đang siết chặt lại.
“Em ở lại chỗ bạn trai. Mãi 5 giờ sáng em mới về.”
“Sao em không ở lại đó luôn?” Sparks hỏi.
Kitces đỏ mặt. “Bọn em cãi nhau. Em nổi cáu và bỏ về.”
“Em cho chúng tôi biết tên bạn trai em được không?”
“Barry Sachs. Giờ chị cho em biết chuyện gì xảy ra với Charlotte được không?”
“Tôi e là mình mang tin xấu đến, Bethany a,” Sparks nhẹ nhàng thông báo. “Bạn em đã chết. Cô ấy bị sát hại hồi đêm qua.”
Kitces đờ người ra. “Bạn ấy chết rồi sao?”
“Tôi e là thế.”
Kitces thẫn thờ mất một giây rồi cúi đầu bật khóc nức nở. Sparks nhanh chóng đến bên cô bé và vòng tay an ủi.
“Không sao,” cô khẽ nói trong lúc cô gái trẻ khóc lóc. Evans vào bếp lấy một cốc nước đầy. Lúc anh trở lại, Bethany đang khóc lặng lẽ.
Sparks cầm cốc nước trên tay Evans và giúp Bethany uống. “Tôi có vài việc cần hỏi em” Sparks nói khi Kitces đã bình tĩnh lại.
“Vâng” cô bé nói nhỏ đến độ Evans phải căng tai mới nghe ra.
“Em nghĩ xem có ai muốn làm hại Walsh không?”
“Không, bạn ấy rất được lòng mọi người.
“Cô ấy không có kẻ thù hay ai đó khiến cô ấy sợ à?”
“Bọn em sống cùng nhau từ hồi đầu học kì này, còn năm ngoái ở chung kí túc xá. Em chưa từng nghe Lotte kể hay thấy ai nói xấu bạn ấy.
“Em hay Lotte có bao giờ bắt gặp đối tượng khả nghi nào lảng vảng quanh đây hoặc trong sân trường chưa?”
“Chưa.”
“Gần đây có xảy ra chuyện khác thường không?”
“Em không rõ. Bạn ấy luôn vui vẻ. Bọn em đang học năm thứ hai. Lotte có tham gia vào các đoàn thể trong trường. Có hẹn hò”
“Có rắc rối nào với người yêu không?”
“Không. Bạn ấy từng hẹn hò với thành viên của Alpha Sig, nhưng cả hai thấy không hợp nhau. Họ là... từng là bạn bè. Kitces ngập ngừng. “Trời, em không quen được... Cô bé nghẹn lời và cố nói trong nước mắt. “Chị biết đấy.”
Hai đặc vụ chờ cho Bethany bình tĩnh. Khi cô ra hiệu đã sẵn sàng, Sparks đặt câu hỏi tiếp theo. “Em có thể kể cho chúng tôi một chút về bạn mình không? Vậy chúng tôi sẽ dễ tìm ra kẻ đã hại bạn em hơn.
Kitces lau nước mắt và uống thêm nước.
“Bạn ấy quê ở Kansas, Bethany nói khi đã có thể ngừng khóc. “Bố bạn ấy là bác sĩ chỉnh hình răng và mẹ là luật sư trong một hãng luật lớn ở thành phố Kansas. Lotte rất... từng rất thông minh.* Năm đầu bạn ấy gần như toàn đạt điểm A. Bạn ấy theo ngành khoa học chính trị. Bạn ấy muốn đi học luật, rồi có lẽ sẽ làm chính trị gia. Bạn ấy đã làm tình nguyện viên trong chiến dịch của một hạ nghị sĩ từ hồi trung học và đang làm việc cho thượng nghị sĩ Gaylord.”
Bethany dừng lời và cau mày.
“Sao thế em?” Sparks khuyến khích.
“Chị vừa hỏi có chuyện gì khác thường không. Có. Đợt trước, Lotte làm việc cho chiến dịch của tổng thống Farrington, nhưng rồi bỏ và chuyển sang làm cho thượng nghị sĩ Gaylord.”
Evans chau mày. “Ý em là cô ấy thay đổi quan điểm à?”
“Vâng. Nhưng kì lạ ở chỗ bạn ấy vốn rất thích tổng thống. Charlotte cực kì hâm mộ ngài ấy và hay nói xấu bà Gaylord. Từ khi bắt đầu làm việc cho bà Gaylord, bạn ấy chưa từng tỏ vẻ hào hứng với chiến dịch hay vị trí của mình. Nghĩ lại, từ lần đi Chicago về, bạn ấy bắt đầu cư xử lạ lùng.”
“Chuyện gì đã xảy ra ở Chicago?”
Kitces do dự. “Em đã thề không nói rồi.”
“Tôi hiểu là em muốn bảo vệ bạn, nhưng cô ấy vừa bị giết, Bethany. Em không muốn giữ lại những thông tin có thể giúp bắt kẻ thủ ác đấy chứ?”
Bethany nhìn ra chỗ khác. Hai đặc vụ để yên cho cô bé suy nghĩ.
“Được rồi,” cô bé nói khi đã quay mặt lại. “Sự việc có liên quan đến tổng thống Farrington. Bạn ấy chỉ nói với em có thế. Một chiều nọ, em đi học về và thấy bạn ấy đang xếp quần áo để đi qua đêm. Hồi đó bạn ấy vẫn làm ở trụ sở chiến dịch của ngài Farrington. Em đã hỏi bạn ấy có chuyện gì. Em chỉ nghĩ là bạn ấy đã gặp chàng trai nào đó và định ở lại qua đêm, dù chuyện đó rất hiếm khi xảy ra. Bạn ấy hơi cổ hủ. Bạn ấy chỉ ở lại với người mình thực sự thích và không phải trong lần gặp đầu tiên hay thứ hai.”
Bethany nhìn Sparks để đảm bảo cho nữ đặc vụ hiểu rằng bạn cùng phòng của cô bé không có tính lẳng lơ. Sparks gật đầu.
“Vậy nên em nổi hứng hỏi bạn ấy đang hẹn hò anh chàng nào, nhưng bạn ấy chối. Charlotte bảo tổng thống sắp diễn thuyết ở Chicago còn bạn ấy được mời đến dự và phụ giúp ở buổi gây quỹ, nhưng việc này hơi bí mật nên bạn ấy không được kể với ai. Sau đấy, bạn ấy bắt em thề giữ im lặng.”
“Cô ấy không nói tại sao phải giữ bí mật về chuyến đi đó à?”
“Không. Em gặng hỏi nhưng bạn ấy không chịu trả lời,” Kitces nhìn xuống. “Nói ra làm em thấy tồi tệ quá. Bạn ấy không muốn em kể cho ai, và em đã hứa.”
“Em đang làm đúng.”
“Hi vọng vậy.”
“Lotte có háo hức với chuyến đi không?”
“Có, nhưng lúc về thì khác hẳn. Bạn ấy nghỉ làm cho ngài Farrington và ít nói hơn, có phần hơi thắc thỏm nữa. Rồi khoảng một tuần sau đó, bạn ấy đầu quân cho bà Gaylord.”
“Cô ấy có cho em biết tại sao lại chuyển phe không?”
“Không.”
“Em nói tâm trạng cô ấy thay đổi từ khi ở Chicago về. Khác như thế nào?” Sparks hỏi.
“Trước đây Lotte luôn lạc quan. Sau chuyến đi Chicago, bạn ấy có vẻ thất thường, vài ngày im lặng rồi vài ngày vui vẻ và bí hiểm, sau đó lại lo lắng và im lặng.”
“Và em không biết nguyên nhân?”
“Không, em đã thử hỏi vài lần. Em tưởng đó là do một cậu bạn trai.”
“Và em chắc là không phải.”
“Nếu đang hẹn hò, bạn ấy sẽ kể với em.”
“Em có số điện thoại của bố mẹ Lotte không?” Sparks hỏi.
Bethany bỗng tái mặt. “Ôi trời ơi, bố mẹ bạn ấy. Em sẽ không phải báo tin dữ với họ chứ?”
“Không, chúng tôi sẽ lo việc đó.”
“Chắc em phải nói chuyện với họ về đám tang và mọi thứ. Em muốn có mặt ở đó.”
“Em là một người bạn tốt,” Sparks nói.
“Việc đó rất dễ mà chị,” Bethany nói rồi nức nở. “Bạn ấy tốt lắm.”
“Em chỉ cho chúng tôi phòng của Lotte được không?” Sparks hỏi sau khi Kitces đã khóc lóc một lúc.
Bethany vừa chùi nước mắt trên má vừa chỉ cho hai đặc vụ đi xuống một hành lang ngắn. Phòng của Walsh khá sang trọng so với tiêu chuẩn của phần lớn sinh viên và gọn gàng hơn một phòng kí túc xá rất nhiều. Giường đã dọn, không có quần áo vứt bừa trên sàn, bàn phấn cũng như bàn học của Walsh đều sắp xếp gọn ghẽ. Evans đoán đống lộn xộn trong phòng khách là tác phẩm của Bethany. Anh thơ thẩn đi tới bàn học trong lúc Sparks ngó nghiêng tủ quần áo và các ngăn kéo. Mấy cuốn sách về Quốc hội Hoa Kỳ được xếp thành một chồng ngay ngắn.
“Bạn ấy đang viết một bài nghị luận về lãnh đạo phe đa số trong Thượng viện cho một trình học nâng cao” Bethany giải thích.
“Cảm ơn em,” Evans nói với cô bé.
Anh tìm thấy bài nghị luận và vài cuốn sách về quan hệ quốc tế ở bên kia bàn. Evans cau mày. Có gì đó không đúng nhưng anh chưa tìm ra. Anh lục ngăn kéo bàn, lật qua vài cuốn sổ séc nhưng không thấy có gì đáng chú ý. Trong ngăn kéo còn có bút, giấy nhớ, kẹp giấy và một cái dập ghim. Chiếc ngăn kéo bên cạnh chứa thư từ của bố mẹ Walsh. Điều này làm Evans tò mò. Có thể bố mẹ Walsh đã có tuổi và thích liên lạc qua những bức thư phải mất hàng tuần trời mới tới tay người nhận, nhưng những người trẻ như Walsh thường dùng email hơn. Evans tìm khắp phòng nhưng không thấy thứ mình muốn.
“Máy tính của Walsh đâu nhỉ?”
Bethany cũng nhìn quanh phòng rồi mới trả lời. “Nếu không có ở đây thì chắc bạn ấy mang nó theo rồi. Charlotte lúc nào cũng kè kè laptop bên mình. Bạn ấy để nó trong ba lô.”
Evans rút điện thoại và gọi cho đặc vụ giữ các vật chứng do cảnh sát Bethesda bàn giao. Anh hỏi có ai thấy ba lô hay máy tính ở con hẻm hay trong ô-tô của Walsh không. Sau vài phút, Evans cụp máy.
“Bethany, nếu Walsh không mang laptop theo người thì nó có thể ở đâu?”
Bethany lắc đầu. “Không ở đâu cả. Bạn ấy chưa từng rời xa máy tính của mình. Cái máy đó chứa mọi thứ: bài vở, các tư liệu cá nhân. Nó chỉ có thể ở trên bàn hoặc trong ba lô của bạn ấy thôi.”
“Hẳn cô ấy phải sao lưu dữ liệu trong ổ cứng chứ” Sparks nói.
“Chắc chắn rồi,” Bethany nói. “Mọi người đều làm vậy. Bạn ấy để các đĩa sao lưu vào cái hộp nhựa trong ngăn kéo.”
Evans lại mở các ngăn kéo nhưng không thấy cái hộp. “Bethany,” Evans hỏi. “Tôi không muốn làm em hoảng, và chuyện mất laptop và các đĩa sao lưu có thể do một nguyên nhân nào đấy, nhưng em có thể kiểm tra phòng này và các phòng khác xem có thiếu gì nữa không?”
Kitces lộ vẻ sợ hãi. “Anh nghĩ có người đã đột nhập vào đây ạ?”
“Vì không biết bình thường căn hộ này như thế nào nên tôi chưa kết luận được. Em có thấy điều gì bất thường khi về nhà vào sáng nay không?”
“Không, vì lúc ấy em khá mệt. Vừa vào nhà, em đã trèo ngay lên giường rồi. Em không nhìn gì cả.”
Sparks và Evans giúp Bethany kiểm tra căn hộ nhưng không tìm thấy chiếc laptop hay bất cứ cái gì có ích cho cuộc điều tra, Bethany lại chẳng chỉ ra có món đồ nào bị mất hay đặt không đúng chỗ. Khi chắc chắn không còn gì để làm, Sparks hỏi Bethany rằng cô bé có muốn họ gọi một người bạn đến ở cùng không. Bethany bảo sẽ gọi cho bạn trai. Evans gọi về trụ sở cảnh sát và yêu cầu một nhân viên tới lấy lời khai của Bethany về chiếc laptop và các đĩa sao lưu bị mất. Ngay khi viên cảnh sát đến, hai đặc vụ liền cảm ơn Bethany lần nữa, đưa danh thiếp của họ cho cô bé và rời đi.
“Anh nghĩ đêm qua có kẻ đã đột nhập vào nhà họ không?” Sparks hỏi trong lúc đi thang máy xuống.
“Tôi không biết.”
“Anh nghĩ chuyện gì đã xảy ra với chiếc laptop?”
“Nếu Walsh mang theo laptop, có thể Thợ Xẻ đã giữ nó làm kỉ niệm hoặc bỏ lại cùng thi thể nhưng bị người khác lấy cắp.”
Họ đi bên nhau vài phút, rồi Sparks quay sang Evans. “Chúng ta cần nhờ người của văn phòng thành phố Kansas thông báo tin buồn cho bố mẹ Walsh.”
Evans rùng mình. Anh thương cho các bậc phụ huynh. Anh không thể tưởng tượng cảm giác người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh kinh khủng đến mức nào. Anh thấy tội nghiệp cho anh chàng đáng thương nào lãnh trách nhiệm báo tin cho bố mẹ Charlotte.
“Chẳng biết đến lúc nào tên khốn kiếp này mới bất cẩn đây?” Anh tức giận lầm bầm.
“Rồi sẽ đến lúc thôi, Keith. Bao giờ cũng vậy.”
Evans cau mày. “Chuyện đổi phe nghe lạ lùng nhỉ. Giá mà tôi biết chuyện gì đã xảy ra ở Chicago.”
“Hãy hỏi ai đó làm việc cho chiến dịch tranh cử của ngài Farrington. Biết đâu, anh lại nhận được một giải thích rất đơn giản.”
“Tôi không nghĩ vậy. Người ta không đổi phe nhanh như thế được. Chắc chắn phải có chuyện” Evans nghĩ ngợi một lúc. “Có thể Thợ Xẻ làm việc cho chiến dịch của Farrington. Có thể hắn đã tán tỉnh và làm cô bé sợ chết khiếp.”
“Điều đó sẽ giải thích việc Walsh bỏ chiến dịch của Farrington, nhưng không giải thích được nguyên do cô bé tới làm cho bà Gaylord.”
“Đúng. Tôi quên mất. Chúng ta có tìm được mối liên hệ nào giữa các nạn nhân khác với cả hai chiến dịch tranh cử không nhỉ?”
“Theo tôi biết thì không, nhưng tôi sẽ bảo ai đó kiểm tra lại. Nhưng tôi vẫn cho rằng nguyên nhân Walsh chuyển sang phụ giúp bà Gaylord không hề liên quan đến vụ án.”