Công Lý Cho Ai

Lượt đọc: 8602 | 2 Đánh giá: 9/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN HAI
Cầm chắc phần thua
Chương 9
oregon

Một thời gian ngắn sau khi chuyển tới Portland để làm việc cho Reed, Briggs, Stephens, Stottlemeyer và Compton - hãng luật lớn nhất Oregon - Brad Miller đã thuê một căn hộ cạnh bờ sông có thể ngắm nhìn núi Hood. Trong một sáng tháng 6 êm dịu thế này, khi kéo rèm phòng ngủ nhìn ra ngoài, anh thấy mặt trời đang nhô lên từ đằng sau ngọn núi hùng vĩ tuyết phủ trắng đỉnh. Xa xa, dọc bờ sông Willamette, tám cô gái đang hăng hái rảo bước.

Brad đã trải qua những ngày vui có và buồn có kể từ khi bay từ đầu kia đất nước tới đây nhận việc. Rời xa New York và những cảnh gợi nhớ về Bridget Malloy càng lâu, anh càng có thêm nhiều ngày vui. Nhưng hôm nay là tròn bảy tháng kể từ ngày Bridget hủy hôn với anh nên không có cảnh đẹp nào, dù tráng lệ đến đâu, có thể làm anh bớt u uất.

Brad đi tắm để xua đuổi tâm trạng không vui rồi mặc quần áo và đi bộ tới văn phòng, không quên dừng lại ăn sáng tại một chốn ưa thích trên đại lộ 3. Thường ngày, anh hay ăn qua loa gì đó ở nhà, nhưng hôm nay việc công ty tương đối nhàn và anh không cần vội vã. Anh đọc báo trong lúc ăn nốt món trứng. Tin đội Yankee thắng đội Boston trong hiệp phụ giúp anh thôi nghĩ về Bridget. Có thể Brad đã rời Bờ Đông, nhưng anh vẫn là cổ động viên trung thành của đội bóng quê nhà.

Ăn sáng xong, Brad đi bộ qua vài tòa nhà nữa để tới một căn cao ốc ba mươi tầng kết cấu bằng kính và thép ngự tại trung tâm thành phố Portland. Cửa chính của hãng Reed, Briggs ở trên tầng ba mươi. Ngay khi bước vào khu vực chờ rộng thênh thang, khách hàng sẽ thấy một cô lễ tân cực kì xinh đẹp ngồi đằng sau bục gỗ bóng loáng gắn tên công ty bằng kim loại. Phía sau đó là mấy phòng hội nghị vách kính với tầm nhìn tuyệt đẹp ra những đỉnh núi tuyết phủ và dòng sông lấp lánh. Trong lúc chờ đợi, khách hàng sẽ ngồi trên những chiếc ghế da êm ái và đọc các tờ báo như US News and World Report hay Wall Street Journal . Chính trên tầng thứ ba mươi này, trong các văn phòng rộng mênh mông toát lên phong thái chuyên nghiệp, các luật sư cộng sự đã giải quyết những thỏa thuận quan trọng cho những nhân vật tầm cỡ.

Brad không lên tầng ba mươi. Các luật sư trợ thủ của hãng Reed, Briggs làm việc tại tầng hai mươi bảy. Họ lên tầng này và đi qua một hành lang mờ tối, không cửa sổ tới một cánh cửa giản dị. Ở đó, họ nhập mã số vào bàn phím nhỏ gắn cố định trên tường. Trong không gian đằng sau cánh cửa, các trợ lí ngồi tại những chiếc bàn kê ở giữa tầng, xung quanh là các văn phòng không có gì nổi bật của những luật sư mới chân ướt chân ráo vào hãng như Brad.

Brad lấy cà phê và mang vào văn phòng của mình. Ô cửa sổ bé tí phía trên chiếc kệ để đồ của anh nhìn xuống mái nhà để xe của một khách sạn. Phần diện tích còn lại của văn phòng đã bị một chiếc bàn làm việc, hai cái ghế dành cho khách, một tủ hồ sơ xám xịt bằng kim loại cùng một kệ sách chứa bộ luật sửa đổi của tiểu bang Oregon và luật thuế choán gần hết. Vật duy nhất tô điểm cho căn phòng là tấm bằng đại học và bằng luật của Brad được đóng khung treo tường.

Thông thường, bàn làm việc của Brad chất đầy phần việc do các luật sư cộng sự giao cho, nhưng khi rời nhiệm sở vào tối qua, số hồ sơ đã vơi đi kha khá. Lí do là vì vị luật sư được Brad hỗ trợ vừa kết thúc vụ kiện đã chiếm gần hết thời gian anh làm việc cho hãng. Vừa vào phòng, Brad đã đứng sựng lại và rên lên. Ba chồng hồ sơ mới che hết cả mặt bàn làm việc của anh. Thêm nữa, chỉ cần liếc qua to ghi chú trên tập hồ sơ ở giữa, anh biết tối nay đừng mong về sớm.

Brad uống cà phê trong lúc chờ máy tính khởi động. Kiểm tra email xong, anh bắt đầu đọc bản hợp đồng dài bốn mươi trang giữa một nhà thầu phụ và công ty xây dựng khu chung cư cao cấp bên bờ biển gần thành phố Lincoln. Brad đang đọc đến trang thứ bảy thì điện thoại nội bộ của anh reo vang. Anh nhấc máy, nghe giọng cô lễ tân thông báo rằng bà Susan Tuchman muốn gặp anh. Brad thở dài, dán một mẩu giấy nhớ lên đoạn đang đọc dở và đi thang bộ lên tầng ba mươi.

Các luật sư trợ thủ đã đặt cho Tuchman biệt danh “Bà Rồng Cái” và tầng cao nhất, nơi các vị thần của hãng Reed, Briggs ngự trị là “Thiên Đàng”. Brad có thể đi thang máy. lên đó nhưng đi thang bộ là loại hình thể dục duy nhất của anh kể từ khi làm việc mười bốn tiếng một ngày. Vài luật sư trẻ khác chọn cách chạy bộ hay đến phòng tập thể hình trước khi đi làm, nhưng Brad không thuộc tuýp người dậy sớm. Thi thoảng, anh chơi tennis ở câu lạc bộ thể thao Pettygrove, nơi tất cả luật sư của hãng đều có thẻ thành viên. Mỗi tuần anh chạy bộ một hai buổi, nhưng con số trên cái cần đặt ở phòng tắm nhà anh vẫn đang nhích dần. Đó là chưa kể tới việc anh càng lúc càng gặp khó khăn khi chạy băng sân thực hiện cú đánh bóng thuận tay. Đến lúc lên được tầng ba mươi, Brad thề sẽ để ý tới khẩu phần ăn và dành ra tối thiểu bốn giờ một tuần cho hoạt động rèn luyện thể lực.

Văn phòng của Susan Tuchman nằm choán một góc tòa nhà và là đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa tối giản. Hai cửa sổ lớn gặp nhau ở góc tường cho bà ta tầm nhìn bao quát quang cảnh thành phố Portland. Một chiếc xô-pha kê sát bức tường thứ ba, bên dưới một bức tranh toàn tông trắng. Bàn làm việc của vị luật sư cộng sự là một tấm kính lớn được đỡ bởi các thanh nhôm trợ lực, trên chỉ đặt hai khay phân loại giấy tờ bằng kim loại bóng loáng và một tập hồ sơ dày cộp. Không gian chật chội duy nhất trong phòng là bức tường treo đầy các giải thưởng Tuchman nhận được từ Hiệp hội Luật sư Anh quốc và xứ Wales, Hội Luật sư Hoa Kỳ và các đoàn thể luật gia khác, cùng những bức ảnh Tuchman chụp với các nhân vật nổi tiếng của giới chính trị, kinh doanh và giải trí.

Tuchman cao 1 mét 6 và gầy trơ xương. Mái tóc vàng của bà ta không có một sợi bạc nào nhờ thường xuyên nhuộm, còn làn da căng mịn như tấm màng bọc thực phẩm kia là tác phẩm của một vị bác sĩ phẫu thuật thẩm mĩ lừng danh đến từ Beverly Hills. Vị luật sư cấp cao mặc chiếc quần phăng đen hiệu Armani và áo sơ-mi lụa trắng, đeo chuỗi ngọc trai đen. Bà ta bốn mươi chín tuổi nhưng đã trở thành luật sư cộng sự từ mười năm nay sau khi bà giúp một hãng dược và một công ty thuốc lá liên tiếp thắng kiện. Tuchman từng kết hôn với luật sư cấp dưới trong một hãng luật khác nhưng đã chia tay. Bà ta thà bỏ chồng còn hơn mạo hiểm bị một luật sư đối thủ, đồng nghiệp với chồng, gạt ra khỏi vụ án vì lí do xung đột lợi ích. Cuộc hôn nhân đình đám với vị thẩm phán liên bang chỉ kéo dài đến khi Tuchman làm rõ sự khác biệt trong việc đóng góp vào tài khoản chung của hai người xong.

“Ngồi đi” Tuchman ra lệnh, chỉ vào chiếc ghế dành cho khách cũng được bọc da màu đen giống như chiếc xô-pha và có thanh chống nhôm như cái bàn làm việc. Brad cẩn trọng ngồi xuống, chỉ sợ bị ngã ngửa ra sau bất cứ lúc nào.

“Tôi đã được nghe những phản hồi tích cực về cậu từ phía luật sư George Ogilvey,” Tuchman nói, nhắc tới vị luật sư cộng sự vừa kết thúc vụ kiện mà Brad đã theo đuổi từ hồi vào hãng, “Anh ấy khen cậu rất giỏi nghiên cứu hồ sơ.”

Brad nhún vai, không phải vì khiêm nhường mà vì sợ nếu anh thêm thắt gì vào ý kiến của George Ogilvey, Tuchman sẽ giao thêm việc cho anh.

Tuchman mỉm cười. “Tôi đang tìm một luật sư phụ trách một vụ án thú vị, và qua những lời khen ngợi của George, tôi cho rằng cậu chính là người tôi cần.”

Với cả núi việc đang chất đống trên bàn làm việc, Brad không cần thêm một vụ án nào, dù thú vị hay không. Nhưng anh cũng biết nên khôn hồn mà giữ ý kiến ấy cho riêng mình.

“Như cậu đã biết, Reed, Briggs luôn tự hào vì không chỉ là một cỗ máy kiếm tiền. Chúng tôi tin rằng các luật sư của mình cần phải đóng góp cho cộng đồng, vì thế chúng tôi tiếp nhận các vụ công ích. Các vụ án này đều thú vị và cho các luật sư còn non trẻ cơ hội được làm việc trực tiếp với khách hàng cũng như có thêm kinh nghiệm tại tòa.”

Brad thừa hiểu bản chất của mấy dự án công. Tuy chúng là chiêu bài PR tốt cho hãng luật nhưng lại tiêu tốn thời gian mà chẳng mang về chút tiền bạc nào. Vì thế, các luật sư cộng sự thường đẩy chúng cho hội “ma mới”.

Tuchman đẩy tập hồ sơ ở giữa bàn về phía Brad.

“Cậu không phải dân Oregon, đúng không?”

“Tôi là người New York. Tôi chưa từng đặt chân đến Bờ Tây trước khi đi phỏng vấn cho vị trí ở đây.”

Tuchman gật đầu. “Cái tên Clarence Little có gợi gì cho cậu không?”

“Tôi e là không.”

Tuchman mỉm cười. “Hỏi nhanh này, nêu tên vị tổng thống hiện nay của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.”

Brad cười đáp lại. “Christopher Farrington.”

“Tốt lắm. Và cậu biết trước khi được chọn vào vị trí phó tổng thống, ông ấy là thống đốc bang Oregon chứ?”

“Vâng.”

Ngài Nolan qua đời vì bị trụy tim vào giữa năm thứ hai của nhiệm kì và đùng một cái, Farrington trở thành tổng thống Hoa Kỳ. Brad quay nhìn những bức ảnh chụp Tuchman tán gẫu với những người nổi tiếng và đột nhiên nhận ra nhiều tấm trong đó có một ngài Christopher Farrington đang mỉm cười.

Tuchman nhận ra Brad đang nhìn gì. “Tổng thống là bạn thân của tôi. Tôi là cố vấn tài chính cho ông ấy trong kì tranh cử thống đốc.”

“Tổng thống Farrington có liên quan gì đến nhiệm vụ của tôi ạ?”

“Little đã đệ đơn kháng cáo lên Tòa Phúc thẩm Vùng chín*. Hắn là một tên sát nhân hàng loạt và đang chống lại một án tử hình do tòa án bang Oregon định đoạt. Vụ án mạng xảy ra hồi ngài Farrington còn giữ chức thống đốc bang Oregon và nạn nhân là con gái thư kí riêng của ngài. Vụ này khá rùm beng ở Oregon vì có liên quan mật thiết đến ngài ấy, nhưng có thể báo chí New York không mấy mặn mà.”

“Hình như tôi có nghe nói.” Brad nói vậy để Tuchman không nghĩ anh là kiểu người New York điển hình - loại cứ tưởng mình ra khỏi trung tâm thành phố là rời xa thế giới, dù thực chất, anh chẳng biết gì về vụ án này.

“Hãng của chúng ta đã nhận làm đại diện cho Little trước Tòa án Liên bang. Tôi nghĩ cậu sẽ thấy nhiệm vụ này đầy thách thức. Hãy đọc hồ sơ và nếu thắc mắc gì, hãy quay lại đây hỏi tôi.”

“Tôi sẽ làm ngay” Brad đứng lên và nói.

“Tôi sẽ cho người mang các hộp tài liệu chứa những giấy tờ còn lại tới văn phòng cậu.”

Ôi không, Brad nghĩ. Một hộp tài liệu thôi đã to lắm rồi mà Tuchman còn nói đến mấy hộp. Anh bỗng nhớ tới tất cả những phần việc mới đang chất đống trên bàn làm việc của mình.

“Nhớ này, Brad, đây thực sự là chuyện sống còn,” bà ta nhắc thêm bằng giọng ám chỉ đây là chuyện chỉ hai người biết với nhau, “và có khi vụ này còn giúp cậu lên Tòa án Tối cao Hoa Kỳ cũng không biết chừng. Thế không tuyệt sao?”

“Xin bà đừng lo, tôi sẽ làm hết sức với vụ án của ông Little,” Brad nói, thể hiện sự hăng hái năng nổ, nhưng cảm giác đã biến mất ngay khi anh rời khỏi phòng vị luật sư cấp cao kia.

“Đúng là thứ mình cần,” Brad lầm bầm trong lúc đi xuống cầu thang. Anh không những đang ngập đầu trong núi công việc do các luật sư cộng sự khác giao phó, mà còn chẳng biết hay có quan tâm nào tới luật hình sự. Tuy đó là môn bắt buộc ở năm đầu và sau này khi tham gia khóa tu nghiệp, anh cũng được học qua một lần nữa, nhưng giờ anh chẳng còn nhớ gì hết. Đã thế, Bà Rồng Cái còn đặt cái áp lực nếu anh làm hỏng chuyện, sẽ có người phải chết lên đầu anh nữa chứ. Tất nhiên Clarence Little vốn đã bị cáo buộc giết người hàng loạt rồi nên anh cũng chẳng ham hố cứu được hắn khỏi giá treo cổ. Nếu thực sự cái gã Little kia có tội, xã hội sẽ tốt đẹp hơn khi hắn lìa đời.

“Thượng đế ơi, tại sao lại là con?” Brad than thở khi đẩy cửa bước vào tầng hai mươi bảy. Khi không nhận được câu trả lời nào, anh kết luận rằng Thượng để không buồn để tâm tới các vấn đề của anh, hoặc các vị thần trên tầng ba mươi còn mạnh hơn cả Đấng Tối Cao anh vẫn hằng tin tưởng.

Brad dành phần còn lại của ngày làm việc hôm đó để đọc hợp đồng xây dựng khu chung cư cao cấp tại thành phố Lincoln. Tới 5 giờ 45 phút chiều, Brad mới gửi được email tổng hợp các rắc rối của bên công ty xây dựng cho vị luật sư đã giao việc cho anh. Anh kiệt sức và chỉ muốn về nhà sớm, nhưng những việc cũ còn chồng đống ra đó mà nhiệm vụ mới lại sắp ùn ùn đổ về.

Brad thở dài và gọi pizza. Trong lúc chờ người giao bánh, anh vào phòng vệ sinh để vứt cốc cà phê anh đã làm một hơi cạn sạch, đồng thời vã nước lạnh vào mặt. Tiếp theo, anh lấy một lon Coca trong tủ lạnh phòng ăn để nạp thêm cafein vào người và quay lại chiến đấu với mấy hộp tài liệu chứa hồ sơ vụ Little ở Oregon. Một hộp chứa mười lăm biên bản phiên xét hỏi và chín bản ghi chép phiên phán quyết Little. Một chiếc hộp khác chứa hồ sơ ghi chép lời biện hộ, các bản kiến nghị hợp pháp và những bản ghi nhớ. Chiếc hộp thứ ba chứa thư từ, báo cáo của cảnh sát và vô vàn thứ khác như giám định pháp y, các bức ảnh khám nghiệm tử thi và ảnh chụp hiện trường vụ án.

Hai giờ sau, Brad vẫn ngồi tại bàn làm việc, lo lắng liếc nhìn chiếc phong bì màu vàng đặt cách anh vài phân ở giữa tấm phủ bàn. Thi thể duy nhất anh từng trông thấy là của cụ anh trong tang lễ và anh không có mấy ấn tượng vì cụ mất khi anh mới có năm tuổi. Anh cũng biết rằng cụ đã thanh thản ra đi trong giấc ngủ. Cụ không bị tra tấn hay phanh thấy như Laurie Erickson, cô thiếu nữ trong những tấm ảnh pháp y và hiện trường vụ án.

Brad biết Laurie Erickson chết như thế nào nhờ đọc biên bản khám nghiệm tử thi. Bản báo cáo rất ghê rợn và hơi giống một bài điểm phim hình sự kinh dị*, một trong những thể loại phim Brad luôn tránh như tránh tà. Theo bác sĩ pháp y, nguyên nhân cái chết của Erickson rất rõ ràng. Đầu Laurie gần như đứt lìa vì cổ cô bé bị Clarence Little dùng dao rựa hoặc thứ tương tự cứa thành từng dải; có một mảng xuất huyết dưới màng cứng ở phần cuống não mà bác sĩ pháp y không tìm ra nguyên nhân. Chưa dừng ở đó, Little còn cắt bỏ vài phần cơ thể của Erickson sau khi cô bé chết.

Đối với Brad, sức cám dỗ của những bức ảnh rùng rợn kia mạnh mẽ hệt như sự hiếu kì của những người qua đường trước một vụ tai nạn giao thông. Chính những chi tiết ghê rợn của biên bản khám nghiệm tử thi cùng ba miếng pizza pepperoni anh vừa nuốt trôi đã ngăn anh mở chiếc phong bì. Nhưng cuối cùng, trí tò mò chết tiệt của Brad đã chiến thắng. Anh kéo chiếc phong bì về phía mình, mở và lôi những bức ảnh ra ngoài nhưng hướng mắt đi chỗ khác để chưa phải nhìn trực diện ngay. Brad từ quay đầu về phía các bức ảnh để khỏi bị sốc. Trên bức ảnh là một cô gái trẻ có làn da trắng sáp, nằm khỏa thân trên chiếc bàn inox, hai tay đặt xuôi bên người. Phải mất một lúc, Brad mới nhận thức được cô gái tội nghiệp kia đã phải chịu sự tra tấn dã man tới mức nào. Tới lúc đó, anh thấy chóng mặt, bụng dạ nôn nao và thầm ước gì mình đã không tò mò mà mở phong bì ra.

“Chúng ta có gì ở đây thế này?” Ginny Striker hỏi vọng từ ngoài cửa vào.

Brad giật mình đánh thót và làm rơi chiếc phong bì. Hàng loạt những bức ảnh thực sự rùng rợn đổ ra khắp tấm phủ bàn.

“Khiếp” Ginny ré lên giả vờ sợ, “Đấy có phải nguyên đơn của một trong các vụ rò rỉ chất độc không?”

Brad đặt tay lên ngực. “Trời ạ, Ginny, chị suýt làm tôi vỡ tim đấy.”

“Và giúp cậu được nhận khoản lớn tiền bồi thường tại nạn lao động. Sao cậu lại đi nhìn mấy bức ảnh ghê tởm thế?”

“Susan Tuchman vừa cột tôi vào một vụ kháng án,” Brad nói. Sau đó, anh huơ tay chỉ đống hồ sơ chất đầy mặt bàn. “Cứ làm như là tôi còn chưa có đủ việc ấy.

“Luật sư trợ thủ có bao giờ hết việc đâu. Thôi an phận mà làm quần quật hết ngày này sang ngày kia đi.

Brad chỉ vào hộp pizza đang mở. “Muốn làm một miếng không? Mấy bức ảnh làm tôi hết muốn ăn.”

Ginny lấy một miếng pizza nguội ngắt và khăn giấy rồi ngồi xuống một chiếc ghế dành cho khách của Brad. Cô lớn hơn Brad vài tuổi, đến từ vùng Trung Tây, dáng người cao ráo, tóc vàng và mắt xanh. Ginny là người năng nổ, hài hước, thông minh và bắt đầu làm việc cho hãng Reed, Briggs trước anh vài tháng. Khi Brad mới đi làm tuần đầu tiên, cô đã giúp đỡ anh rất nhiều. Brad nghĩ cô rất dễ thương nhưng những lời đồn rằng cô có một người bạn trai đang học y ở Bờ Đông cùng “tấn bi kịch” với Bridget Malloy đã giữ mối quan hệ của họ ở mức bạn bè.

“Tôi không biết cậu yếu bóng vía thế” Ginny nói.

“Chỉ là đời tôi chưa từng nhìn thấy những cảnh này thôi. Còn chị?”

“Rồi. Trước khi đi học luật tôi là y tá mà. Với tôi, dăm ba vết thương hở với các cơ quan nội tạng đã là gì.”

Nhìn vẻ mặt xanh như tàu lá của Brad, Ginny bật cười rũ rượi. Cô cắn một miếng pizza trong lúc Brad thu lại mấy tấm ảnh máu me và nhét vào phong bì.

“Cậu làm vụ gì thế?”

Vì Ginny đang đầy một mồm pizza nên Brad phải mất một phút mới hiểu cô vừa nói gì.

“Thân chủ mới nhất của tôi, Clarence Little, là một tên giết người hàng loạt hiện trú ngụ tại khu tử tù của trại giam tiểu bang Oregon. Hắn ta ở đó vì đã giết vài cô gái, trong đó có một cô gái mười tám tuổi tên Laurie Erickson. Tôi nghe nói hồi đó vụ án rất nổi ở đây bởi nạn nhận biến mất trong lúc trông con cho thống đốc.”

“Tôi biết rồi! Có phải cô ta bị bắt cóc từ dinh thống đốc không?”

“Họ nghĩ như vậy.”

“Họ từng cho phát một phóng sự kéo dài một tiếng đồng hồ về vụ án này trên chương trình tin tiêu điểm đấy. Nó xảy ra cách đây mấy năm rồi, đúng không?”

“Ừ. Một năm trước khi Nolan chọn Farrington đứng chung liên danh tranh cử.”

“Tuyệt thế mà cậu lại than phiền à? Một vụ án mạng thú vị gấp ngàn lần cái đống rác rưởi chúng mình đang phải hì hục làm đấy nhé.”

“Nếu không có gì khác phải làm, tôi sẽ thấy vụ này hay ho, nhưng phiền nỗi tôi bận ngập đầu ngập cổ sẵn rồi. Hơn nữa, tôi không có hứng cứu vớt một kẻ đồi bại chuyên đánh đập tra tấn những cô gái vô tội.”

“Hiểu rồi. Cậu chắc hắn giết Laurie chứ?”

“Tôi còn chưa xem biên bản các phiên tòa - những hai mươi tư tập cơ đấy - nhưng tôi đã đọc bản cáo trạng tóm tắt được trình lên Tòa án Tối cao Oregon sau khi hắn lãnh án tử hình. Họ không có chứng cứ chắc chắn cho thấy hắn đã giết Laurie, nhưng cũng đủ để khép tội hắn.”

“Chuyện gì đã xảy ra?” Ginny hỏi khi lấy miếng pizza thứ hai.

“Laurie Erickson là con gái của bà Marsha Erickson, thư kí riêng của Farrington hồi ông ta còn làm thống đốc. Tôi nghĩ bà ta cũng làm cho hãng luật của Farrington từ trước khi ông ta đắc cử. Quay về nhân vật chính Laurie, lúc đó cô bé đang học năm cuối trung học và thỉnh thoảng tới trông Patrick, con trai của ông bà Farrington. Tối hôm cô bé bị giết, ông bà Farrington đi tham dự buổi gây quỹ ở thư viện công cộng Salem, cách dinh thống đốc không xa lắm. Lúc ấy Patrick mới hai tuổi và vừa bị cảm nặng. Khi Laurie tới, cậu bé đang ngủ. Chị biết đệ nhất phu nhân là bác sĩ rồi chứ?”

Ginny gật đầu.

“Bác sĩ Farrington đã kê đơn và dặn Laurie cho cậu bé uống một vài viên thuốc nếu cậu bé bị ho khi tỉnh dậy. Thống đốc và trợ lí, ông Charles Hawkins, cùng đi ra xe limo trong lúc vợ ông dặn dò Laurie cách cho Patrick uống thuốc. Bác sĩ Farrington làm chứng việc bà tạm biệt Laurie vào lúc 7 giờ hơn một chút.

“Vì lúc đó là tháng 12 nên khi chiếc xe limo rời đi, trời đã tối. Đội bảo vệ dinh không nhìn thấy ai lảng vảng gần đó, nhưng đó vốn là một tòa nhà cổ kính có rừng cây bao quanh. Tòa nhà do một ông trùm tư bản xây dựng hồi những năm 1800, trải dài trên diện tích vài hécta và được tân trang lại sau một chiến dịch gây quỹ hồi cuối thập niên 90. Nếu có kẻ nào muốn đột nhập vào nơi đó, chúng có ối cách. Ở cửa trước của dinh thự có một lính gác, một người khác phụ trách đi tuần vòng quanh nhà và xung quanh khu vực đó có gắn vài máy quay an ninh, nhưng hệ thống báo động không thuộc loại tối tân nhất.”

“Vậy là các bảo vệ không trông thấy ai ra vào dinh thự sau khi thống đốc đi khỏi?”

“Thực ra là có. Charles Hawkins đã về dinh thự lúc 7 rưỡi để lấy một bản số liệu cho bài phát biểu của thống đốc. Hawkins đỗ xe ở đằng sau nhà và đi vào bằng cửa hậu dành cho nhân viên. Ông ta đi qua phòng Patrick rồi mới tới văn phòng mình. Bà Farrington đã nhờ ông ta ghé qua xem Patrick thế nào. Hawkins làm chứng trước tòa là Laurie đã bảo ông ta rằng Patrick vẫn ngủ. Sau đó, ông ta lấy giấy tờ và lái xe quay lại thư viện vừa kịp lúc đưa cho ông chủ của mình.”

“Có ai khác trông thấy Laurie còn sống sau khi Hawkins rời đi không?”

“Không, ông ta là người cuối cùng nhìn thấy cô bé, nếu không kể tới tay sát nhân. Khi ông bà Farrington về nhà tối hôm đó, Patrick vẫn ngủ nhưng họ không thấy bóng dáng Laurie đâu. Cảnh sát đã tìm kiếm khắp trong nhà và ngoài rừng nhưng không tìm được một dấu tích nào của cô bé. Vài ngày sau, một người đi bách bộ trong công viên đã tìm thấy thi thể bị cắt xẻo của cô bé, cách dinh thự hàng cây số.”

“Cảnh sát nghĩ chuyện gì đã xảy ra?”

“Ở đằng sau dinh thự có một lối vào tầng hầm. Khi cảnh sát tới lục soát ngôi nhà, họ phát hiện cửa đó đang mở, các dấu máu của Erickson được tìm thấy ở máng chuyển đồ giặt nối thẳng tới tầng hầm. Theo lời bác sĩ pháp y, Erickson khá nhỏ và gầy gò nên có thể chui vừa chỗ ấy. Cảnh sát nghĩ Little đã di chuyển từ trong rừng và vào nhà qua tầng hầm, giết Erickson rồi ném xác cô bé qua ống máng, sau đó mang cô bé ra ngoài qua cửa tầng hầm.”

“Rắc rối nhỉ?”

“Thằng cha đó điên mà. Biết đầu hắn lại nghĩ đấy là một kế hoạch hay ho.”

“Làm sao hắn biết cô bé đang trông trẻ chứ? Hắn cũng phải biết về cái máng giặt và chuyện nó đủ rộng cho một người cỡ Erickson lọt vừa. Làm sao hắn biết về cấu trúc tòa nhà?”

“Tôi không biết,” Brad thấy khó chịu vì Ginny bắt đầu chơi trò thám tử.

“Tại sao cảnh sát bắt Little vì tội giết Erickson nếu không ai trông thấy hắn ta đi vào cũng như ra khỏi dinh thự cùng với Erickson?”

“Điểm mấu chốt là ngón tay út. Hắn bắt cóc các cô gái, giết rồi cắt ngón út của họ. Cảnh sát nghĩ hắn giữ chúng làm kỉ niệm nhưng đến giờ họ vẫn chưa tìm ra chúng. Erickson cũng mất một ngón út, và cô ta bị phanh xác hệt như cách Little xử các nạn nhân khác.”

“Nghe không thuyết phục lắm.”

“Đúng. Tôi nghĩ Little rất có thể được xử trắng án nếu đó là cáo buộc duy nhất. Tuy nhiên, Little còn bị bắt vì tình nghi giết mười ba cô gái khác, và vài vụ có bằng chứng rất chắc chắn. Mãi đến lúc Little thừa nhận giết hai người, hắn mới bị khởi tố vì tội sát hại Erickson. Sau đó, công tố viên đưa các bằng chứng từ hai vụ ấy ra trước phiên tòa xử Little tội giết Erickson. Phương pháp gây án quá giống nhau nên tòa đã kết luận Little là thủ phạm.”

“Còn các vụ khác của hắn?”

“Tòa án Tối cao Oregon cũng phán hắn án tử hình. Hắn đã cầm chắc cái chết, trừ khi có phép màu xảy ra tại Tòa án Liên bang.”

Ginny có vẻ bối rối. “Nếu đằng nào hắn cũng bị xử tử đến hai lần, vậy tại sao hắn kháng cáo vụ này?”

Brad nhún vai. “Chịu.”

“Hắn có khả năng vô tội không?”

“Còn ai đi giết người kiểu đó nữa?”

“Hawkins là người cuối cùng trông thấy cô bé còn sống” Ginny nói giữa những lần cắn pizza. “Một trong các vệ sĩ có thể lén lên gác khi những người khác không để ý. Và nếu Little có thể lẻn vào trong dinh thự, người khác cũng làm được.”

“Người khác chị muốn ám chỉ là một kẻ giết người hàng loạt nào đó vô tình có phương pháp gây án giống hệt Clarence Little à?”

“Chuẩn.”

“Hơn nữa, dù sự thể thế nào cũng không quan trọng. Trên phiên tòa phúc thẩm, tôi không thể phản biện. Tôi chỉ có thể nêu ra các vấn đề về mặt hiến pháp do Little nêu trong đơn của hắn.”

“Tại sao Little nghĩ hắn ta nên kháng cáo?”

“Hắn tuyên bố có chứng cứ ngoại phạm vào cái đêm Erickson bị giết nhưng luật sư được chỉ định cho hắn tại những phiên tòa trước lại không đưa ra.”

“Vậy hắn định tố cáo luật sư thiếu trình độ?”

“Đúng, nhưng sẽ chẳng đi đến đâu. Luật sư biện hộ đã khai trước tòa rằng Little quả có tuyên bố có chứng cứ ngoại phạm nhưng không chịu nói rõ ra. Ông luật sư nói đã ép Little nêu thêm thông tin nhưng hắn chỉ nói chung chung nên ông ấy không thể khai thác được.”

“Thế Little bảo sao?”

“Không nhiều. Tôi đã đọc lời khai của hắn. Hắn chỉ quả quyết rằng đã thông báo đầy đủ thông tin cho luật sư nhưng không chịu nói cho thẩm phán biết hắn đang ở đâu vào thời điểm xảy ra án mạng và lảng tránh câu hỏi của công tố viên. Qua biên bản phiên tòa, tôi thấy hắn rất xảo quyệt. Thẩm phán kết luận rằng hắn đang đùa cợt với phiên tòa. Ông ta công nhận trình độ của viên luật sư và thế là hết.”

“Còn vấn đề nào khác không?”

“Theo tôi biết thì không.”

“Vậy cậu định làm gì?”

Brad nhún vai. “Tôi sẽ đọc qua các biên bản phiên tòa và những giấy tờ khác cho chắc chắn. Gã này cầm chắc cái chết rồi. Tôi chẳng thể cứu mạng hắn, đúng không nào? Nhưng tôi phải hoàn thành công việc được giao. Tôi sẽ tìm hiểu một chút. Tôi nợ thân chủ điều đó. Nếu không tìm thấy gì, tôi sẽ gặp Tuchman và nói rằng chúng ta nên khuyên thân chủ rút đơn kháng cáo.”

Ginny lấy một tờ khăn giấy để chùi miệng và lau tay. “Tôi có một ý tưởng tuyệt vời đây?

“Về vụ này à?”

“Không, về cuộc sống của chúng ta. Đã gần 9 giờ tối rồi và trông cậu thảm hại quá. Bà Rồng Cái có thể đợi thêm một ngày nữa hẵng nghe cậu nêu ý kiến về vụ của Little, nhưng tôi không nghĩ cậu trụ thêm nổi nếu không làm một cốc bia đâu. Vậy nên chị đây muốn cậu thu dọn hồ sơ và đưa chị đến Shanghai Clipper.”

Brad nhìn đồng hồ. Anh đã mất cả khái niệm thời gian lẫn nhiệt tình dành cho công việc rồi. “Một gợi ý tuyệt vời. Chắc chị phải học giỏi nhất lớp đấy nhỉ?”

“Đúng, trong lớp luật chè chén,” Ginny đứng dậy. “Tôi sẽ đi lấy áo khoác rồi gặp cậu ở thang máy nhé.”

Shanghai Clipper là một nhà hàng mang phong cách hiện đại, chuyên phục vụ các món Á, nằm trên tầng hai của một tòa cao ốc văn phòng cách trụ sở hãng Reed, Briggs vài dãy nhà. Những cửa sổ lớn trông thẳng xuống một phần của công viên kéo dài từ trường đại học Portland, cắt ngang thành phố theo chiều từ bắc xuống nam và chỉ bị ngắt quãng ở đôi chỗ. Brad và Ginny tìm được một bàn ở trong góc quán bar, ngay cạnh một cửa sổ và gọi bia cùng vài món khai vị.

“Cuối cùng cũng được yên,” Ginny nói.

“Ra khỏi văn phòng sướng thật đấy.”

“Cậu liệu mà tu thân dưỡng tính đi, ngài cụng sự* ạ. Làm ngoài giờ một chút cũng được, nhưng đừng quá sức, không khéo suy nhược thần kinh thì khổ.”

“Lời khuyên này có phải một dạng ‘hãy nghe tôi nói, đừng làm theo tôi’ không đẩy? Chị cũng làm việc muộn như tôi mà.”

“Úi, gậy ông đập lưng ông rồi!”

“Hơn nữa, tôi ở nhà hay ở văn phòng có khác gì đâu.”

“Chà, đừng nói là cậu đang than thân trách phận nhé.”

“Thực ra là đúng đấy. Hôm nay là ngày kỉ niệm một sự việc rất khó chịu.”

Người bồi bàn xuất hiện và đặt giữa hai luật sư hai chai Widmer Hefeweizen lạnh, một đĩa sushi thập cẩm cùng một đĩa há cảo chiên và nước chấm. Khi anh ta đi, Ginny nghiêng đầu một bên để quan sát Brad. Cô nhắm mắt, ngửa cổ ra sau và đặt đầu ngón tay lên trán.

“Tôi đang thấy một cô gái” cô giả giọng Hungary.

Brad thở dài. “Rõ đến thế cơ à?”

“Nguyên nhân phiền muộn của nam giới thường đến từ nữ giới.”

“Chị đoán đúng.”

“Có muốn nói về chuyện đó không? Tôi rất biết lắng nghe đấy nhé.”

“Chắc rồi, vậy làm phiền chị nghe câu chuyện tình tôi nhé. Ngày xửa ngày xưa, tôi si mê một cô gái tên Bridget Malloy. Cô ấy đã - có lẽ vẫn - là người trong mộng của tôi. Cô ấy thông minh, xinh đẹp và nhận lời lấy tôi sau lần thứ ba tôi cầu hôn.”

“Ồ ồ...”

“Phải, tôi biết. Đáng lẽ tôi nên chấp nhận câu từ chối của cô ấy ngay từ lần đầu hoặc lần hai, nhưng trong những việc liên quan đến Bridget, đầu óc tôi cứ mụ mị sao ấy.”

“Hẳn câu chuyện này không kết thúc có hậu.”

“Đúng. Chúng tôi định kết hôn sau khi tôi tốt nghiệp trường luật. Khách sạn đã đặt, thiệp mời đã gửi, người tổ chức đám cưới đã thuê. Thế rồi Bridget hẹn gặp tôi tại nhà hàng, nơi tôi cầu hôn cô ấy lần thứ hai.”

Ginny đặt tay lên che mắt. “Tôi không dám nhìn.”

Brad cười cay đắng. “Chắc chị đã đoán ra cái kết cho câu chuyện hài kém vui này rồi chứ nhỉ? Bridget nói rằng cô ấy không thể làm đám cưới. Tôi nghĩ cô ấy nói gì đó, đại loại tôi là một người đàn ông tuyệt vời, chắc chắn sẽ tìm được người xứng đáng hơn, còn cô ấy chưa sẵn sàng ổn định, nhưng tôi không rõ nữa. Sau khi Bridget thả bom xuống đầu tôi, tôi chẳng mấy nhớ những sự việc tiếp theo trong tối đó.”

“Chắc cậu khó chấp nhận chuyện đó lắm.”

“Ừ. Ít nhất là ngay lúc ấy. Suốt hai ngày sau đó, tôi không say thì cũng nằm bẹp trên giường. Thực sự lúc ấy tôi trông rất tệ hại. Rồi dông bão đi qua, mặt trời lại ló rạng và tôi đã được khai sáng. Bridget đã nói cô ấy còn trẻ và chưa muốn ổn định nên tôi quyết định rằng cô ấy nói đúng, có lẽ cả tôi cũng còn quá trẻ.

“Trước khi Bridget hủy hôn, chúng tôi đã định sẽ sống tại căn hộ của tôi trong thành phố. Lúc đó tôi đã được ba trong bốn hãng luật của Manhattan gọi đi làm. Tôi dự định sẽ nhận công việc trả lương cao nhất rồi phấn đấu làm luật sư cộng sự trong khi Bridget hoàn tất khóa học thạc sĩ và theo đuổi giấc mộng văn chương của cô ấy. Chúng tôi sẽ có một hay hai đứa con rồi chuyển đến sống ở vùng ngoại ô khi cả hai nhiều tuổi hơn. Trong kế hoạch đó còn có cả một ngôi nhà lớn ở khu vực thượng lưu vùng North Shore và thẻ thành viên câu lạc bộ thể thao ngoài trời. Tiếp theo, hai chúng tôi sẽ nắm tay nhau bước qua tuổi trung niên và hưu trí sau khi những đứa con đã tốt nghiệp đại học. Tất cả đều được tính toán đâu ra đó và giống cuộc sống của bố mẹ chúng tôi vô cùng.

“Sau khi tỉnh táo, tôi nhìn lại cuộc đời mình. Tôi học trung học ở Westbury, Long Island, đại học ở Hofstra, cũng thuộc Long Island và không xa nhà tôi là mấy. Trừ một chuyến đi châu Âu cùng bố mẹ và chuyến chu du khắp đất Bắc Mỹ sau khi tốt nghiệp đại học, hầu như đời tôi đều gắn liền với Bờ Đông của đất nước Hoa Kỳ này. Giờ khi đã đi lệch khỏi con đường yên bề gia thất - an cư lạc nghiệp, tôi tự hỏi tại sao mình phải chôn chân ở Manhattan trong khi tôi còn cả thế giới ở ngoài kia. Vậy là tôi lên mạng và tìm các hãng luật ở Colorado, California, Oregon và Washington. Khi Reed, Briggs mời tôi đến phỏng vấn, tôi bay tới Bờ Tây và trở về cùng một công việc. Vậy đấy.”

“Nhưng cậu vẫn chưa thể quên hẳn Bridget?”

“Phần lớn thời gian là được. Hầu hết những gì tôi trông thấy ở Portland không gợi tôi nhớ tới cô ấy. Điều đó giúp tôi rất nhiều. Nhưng đôi lúc, khi bài hát yêu thích của cô ấy vang lên trên sóng phát thanh hay một bộ phim nào đó chúng tôi từng cùng nhau thưởng thức chiếu trên ti-vi, tất cả những kí ức lại ùa về.”

“Và ngày kỉ niệm này tới.”

“Phải.”

“Vì chuyện này nên cậu vùi mình trong đống hồ sơ của Clarence Little, đúng không?”

“Đọc hồ sơ giúp tôi quên đi.”

“Cho đến khi tôi rút con dao ra khỏi vết thương của cậu. Tôi xin lỗi.”

“Không sao đâu. Nói ra được cũng tốt. Dù sao được trút bầu tâm sự cũng giúp tôi khuây khỏa ít nhiều.”

“Rất vui được giúp cậu.”

“Còn chị? Vậy ngày trước chị vướng vào câu chuyện nào kiểu ‘yêu nhau không đến được với nhau’ không?”

Ginny uống một ngụm bia trước khi trả lời. “Tôi không biết nữa.”

“Thế có nghĩa là...”

“Tôi có bạn trai. Anh ấy đang học y ở Philadelphia.”

“Xa nhỉ?”

“Đúng. Và chúng tôi đang chọn sống xa nhau để xem khoảng cách có hâm nóng được tình yêu không.”

“Là chị hay anh ta đề nghị?”

“Là tôi, cậu tò mò quá đấy.”

“Chuyện của tôi, tôi đã kể hết cho chị nghe. Giờ đến phiên chị chứ.”

“Cứ coi như cả hai đi. Anh ấy đề nghị và tôi không phản đối mấy.”

“Hai người đã hẹn hò bao lâu rồi?”

“Từ hồi năm nhất.”

“Lâu quá rồi nhỉ?”

“Ừ, nhưng con người ta vốn hay thay đổi. Hơn nữa, chúng tôi đã yêu nhau đến bảy năm rồi. Bảy năm trời mà chúng tôi chẳng hề nghĩ tới chuyện hôn nhân. Hẳn phải có nguyên nhân cho chuyện đó chứ, đúng không?”

“Vậy chị đến Portland này để xem mình có nhớ nhung anh ta không à?”

Cô cầm chai bia của mình lên và gật đầu.

“Và...?”

Ginny nhún vai. “Tôi không rõ nữa. Chúng tôi gọi điện cho nhau rất nhiều và thế cũng hay. Nhưng tôi nghĩ anh ấy đã có người khác.”

“Thế à?”

Cô nhún vai. “Matty nói dối tôi lắm. Điều làm tôi lo là tôi chẳng quan tâm đến chuyện đó. Thực ra tôi còn thấy nhẹ nhõm. Có lẽ anh ấy đã đúng và chúng tôi cần phải bước tiếp trên con đường tìm nửa kia của mình,” cô thở dài. “Thời gian sẽ cho chúng ta câu trả lời. Thôi đành tới đâu hay tới đó vậy.”

Brad mỉm cười. “Chúng ta đúng là hai kẻ thất bại đáng thương nhỉ?”

“Chỉ có cậu thôi, anh bạn ạ. Tôi thấy mình là một người sắp dấn thân vào một cuộc phiêu lưu mới” - cô nhìn đồng hồ. “Và tôi cũng thấy đã quá giờ đi ngủ của tôi lâu lắm rồi.”

Brad định cầm hóa đơn nhưng Ginny đã đập tay không cho cậu thanh toán. “Cậu đã mua pizza béo ngậy rồi. Đây là phần tôi. Lần sau cậu trả đi.”

“Được” - Brad nói, biết rằng Ginny rất cứng đầu cứng cổ nên sẽ không nhượng bộ và anh mừng vì cô nghĩ họ sẽ có lần hẹn sau.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của phillip margolin