Cuộc Hành Trình Đêm Tối

Lượt đọc: 86 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 12

Khi ra tới ngoại ô thành phố thì Tallon nghe thấy tiếng động cơ gầm gừ của một chiếc máy bay trực thăng. Những ngọn đèn đường của nó quét rất cao trên trời. Trong ánh sáng bàng bạc của bầu trời trước lúc bình minh, anh hầu như không nhìn thấy nó. Đối với một nền công nghệ đã học được cách làm triệt tiêu cả trọng lực, thì máy bay trực thăng là một loại máy móc sơ đẳng; nhưng dù sao nó vẫn là loại máy có hiệu quả nhất trong số các loại máy bay lên thẳng mà người ta đã từng phát minh ra. Và ít có khả năng là người ta thôi không sử dụng nó nữa một khi vẫn còn có những người bỏ trốn và những người đuổi bắt, giống như những con chim đại bàng vậy.

Tallon giữ thẳng đầu con Seymour để mượn mắt nó dõi theo cái ánh đèn đơn độc chẳng mấy chốc đã rời xa và mất hút về phía bắc.

Amanda đã không bỏ phí thời gian, - anh tự nhủ. - Anh không hề có hy vọng là mình sẽ không bị tố giác, thế là anh tìm kiếm một nơi ẩn nấp để đợi trời sáng. Anh đang đi trên một con đường phụ, một bên đường trồng những cây bản xứ, còn một bên trồng những cây cọ còi cọc nhập giống từ Trái Đất. Nhưng trọng lực của Emm Luther đã ngăn cản chúng phát triển. Vì lúc này trời hãy còn rất sớm, cho nên thỉnh thoảng mới có những chiếc xe riêng phóng nhanh qua, để lại đằng sau chúng những đám bụi và lá khô bốc lên mù mịt.

Tallon đứng nép sau rặng cây mỗi khi nhìn thấy ánh đèn pha từ xa. Anh xem xét tất cả những ngôi nhà mà anh đi qua mong tìm một chỗ an toàn để ngủ. Càng rời xa Sweetwell thì các khu vườn được chăm sóc cẩn thận của các công xưởng càng được thay thế bằng những tòa nhà chung cư nhỏ, sau đó đến những căn nhà riêng của người giàu. Những thảm cỏ được cắt xén cẩn thận phản chiếu ánh sáng lấp lánh ở những chỗ mà đèn đường chiếu vào. Nhiều lần những hình ảnh mà Tallon nhận được từ những gì ở xung quanh có vẻ như hơi tối sầm lại. Thế là anh liền nói chuyện với con Seymour vì sợ nó ngủ gật. Nhưng cuối cùng anh buộc phải công nhận rằng việc đó là do chiếc máy đã không hoạt động được tốt như trước nữa. Anh xoay nút bấm kiểm tra công suất và rụng rời phát hiện ra rằng nó gần như sắp tắt. Từ lúc anh va vào cửa toa tàu thì bộ pin có vẻ như càng ngày càng bị hỏng. Trong trường hợp ấy...

Tallon không muốn nghĩ đến đó nữa. Trước hết anh cần phải tìm được một chỗ để trú qua ngày. Khi ánh đèn bắt đầu xuất hiện đằng sau cửa sổ của các tòa nhà thì Tallon tìm được một căn nhà chái nằm ẩn giữa đám cây đằng sau một tòa biệt thự lớn.

Trong bóng tối phảng phất mùi đất khô pha lẫn mùi của những dụng cụ làm vườn cùng mùi dầu mỡ. Ngửi thấy chúng, Tallon bỗng thấy nhớ nhà da diết. Anh bế con chó ngồi vào một góc trong căn nhà chái, mở bọc đồ kiểm kê những thứ mình đang có. Anh có một khẩu súng mạ vàng của Amanda, có đủ thức ăn cho nhiều ngày, có tiền, có một chiếc máy thu thanh. Một lát sau anh nằm dài ra đất. Anh tắt máy nhìn, và trong cái thế giới tăm tối của riêng mình, anh mở đài lắng nghe những tin tức mới nhất.

Tin tức cho biết rằng tù nhân Sam Tallon vẫn còn sống. Hắn đã tới được thành phố Sweetwell. Hắn đã bị kết tội làm gián điệp cho Đế quốc Trái Đất. Hắn đã phá cửa quán ăn, tấn công và cưỡng hiếp chị chủ quán trước khi biến mất đem theo toàn bộ số tiền mặt. Người ta tin chắc rằng kẻ tù nhân vượt ngục, mặc dù bị mù, nhưng hắn có một chiếc máy giống như radar cho phép hắn nhìn thấy được. Người ta mô tả là hắn có vũ khí và rất nguy hiểm.

Tallon cười gượng. Vì được kể từ miệng Amanda, nên cái câu chuyện cưỡng hiếp tỏ ra đặc biệt khôi hài. Sau đó anh đã ngủ được phần lớn thời gian trong ngày. Anh chỉ thức dậy khi tiếng càu nhàu của con Seymour báo cho anh biết rằng người ta đang đi lại xung quanh ngôi nhà chái.

Tuy nhiên vẫn không có ai bước vào. Và đến một lúc nào đó Tallon không còn nghĩ đến việc mình sẽ phải làm gì nếu người ta mở cửa căn nhà chái. Cái triết lý của Winfield cho rằng con người cần phải hành động sao cho tốt nhất trong giây phút hiện tại mà đừng lo nghĩ gì đến tương lai không hấp dẫn Tallon mấy, nhưng nó là khả năng duy nhất trong hoàn cảnh hiện tại.

Đến chiều tối, anh bế con Seymour cùng gói đồ rồi thận trọng mở cửa. Khi anh sắp sửa bước ra thì có một chiếc xe màu nâu đang chạy dọc theo lối đi dẫn tới tòa nhà. Nó lăn bánh đến trước cửa ngôi biệt thự thì dừng lại. Một người đàn ông còn khá trẻ và béo lùn bước xuống xe, trên tay vắt chiếc áo vét. Anh ta ra dấu với một ai đó chắc là đang đứng đợi bên cửa sổ. Nhưng tòa biệt thự nằm ngoài tầm nhìn của Tallon.

Người đàn ông trẻ đi về phía cửa ra vào biệt thự, sau đó anh ta dừng lại bên cạnh một lẵng hoa hát màu xanh. Anh quỳ gối nhổ một cây cỏ dại. Khi anh chạm vào những bông hoa thì chúng cất lên tiếng hát khẽ êm ru và buồn rầu vọng đến tai Tallon trong bóng tối của ngôi nhà chái.

Hoa hát là một loài hoa bản xứ ăn côn trùng. Tiếng kêu vo vo khe khẽ như than vãn của chúng lôi cuốn và ru ngủ con mồi. Tallon không bao giờ thích cái loài hoa ăn thịt này. Anh thờ ơ nghe chúng hát một lát, tay vẫn giữ đầu con Seymour sao cho mắt nó ở gần cánh cửa hé mở. Người đàn ông trẻ phát hiện thêm mấy cây cỏ dại nữa liền nhổ chúng đi. Sau đó anh ta nói lầm bầm với vẻ tức giận rồi đứng lên đi về phía căn nhà chái.

Tallon rút khẩu súng tự động ra khỏi túi, chĩa ra cửa chờ đợi. Tiếng giày nghiến lạo xạo trên sỏi đang đến gần.

Đây đúng là tình huống mà anh đã hy vọng là sẽ không bao giờ phải đương đầu. Với tất cả những gì anh đã học được ở Trung tâm Tình báo thì anh có thể hạ được gần như bất cứ ai trong cuộc đấu tay đôi. Hay ít nhất là anh đã có thể. Nhưng lần này, khi anh phải mang đôi mắt của mình trên tay thì lại là một chuyện khác.

Anh chết đứng người khi thấy chiếc chốt cửa động đậy.

- Gilbert, - một giọng đàn bà cất lên. - Đi thay quần áo đã nếu anh muốn làm vườn.

Người đàn ông lưỡng lự vài giây, cuối cùng anh ta buông chốt cửa rồi đi về phía biệt thự. Ngay khi anh ta đi khuất vào trong nhà thì Tallon liền lẻn ra khỏi căn nhà chái và bỏ chạy ra đường.

Anh đi thêm bốn ngày nữa bằng cách ban đêm đi được những quãng đường ngắn còn ngay khi bình minh lên thì anh lại phải tìm nơi ẩn nấp. Nhưng chiếc máy của anh càng ngày càng hỏng tệ hơn. Đến rạng sáng ngày thứ năm anh nhận được những hình ảnh mờ nhạt đến nỗi dùng máy chiếu sonar còn có kết quả tốt hơn.

Tên anh mất dần trên các bản tin. Anh vẫn chưa gặp một điệp viên mật vụ nào. Thậm chí không gặp cả một cảnh sát thông thường nhất. Thế là anh dám bắt đầu hành trình vào ban ngày.

Anh đi thêm ba ngày nữa. Anh rất muốn vẫy xe đi nhờ, nhưng như thế thì quá nguy hiểm. Anh có tiền. Nhưng tốt hơn là đừng vào tiệm ăn. Thế là anh cùng con Seymour ăn bánh mì với đồ hộp lấy từ quán Con mèo Ba Tư . Anh uống nước tại các giếng phun trang trí ở các bồn hoa mà anh gặp dọc đường đi.

Cuộc đi bộ này đã làm cho Tallon hiểu rõ hơn bao giờ hết tại sao Emm Luther đã khao khát đến tuyệt vọng muốn có được những miền đất mới như thế nào. Mật độ dân số không phải là quá đông, nhưng nó giống nhau ở khắp mọi nơi. Các khu nhà ở cùng các trung tâm thương mại và công nghiệp nối tiếp nhau không dứt, phủ kín mỗi mét vuông đất bằng mà lục địa có thể có được. Làn sóng nhà bêtông đúc sẵn chỉ chịu dừng lại trước những quả núi hiểm trở. Người ta đã thử canh tác trên các vùng cao nguyên. Nhưng trên thực tế gần như tất cả thức ăn của hành tinh đều lấy từ đại dương.

Khi đi được gần một trăm năm mươi kilômét thì Tallon hiểu rằng máy nhìn của anh sẽ không còn giúp ích anh được lâu hơn nữa. Có thể anh sẽ nhìn được lờ mờ trong vòng một hai ngày nữa, sau đó thì anh sẽ hoàn toàn lại trở thành người mù. Anh còn phải đi một nghìn kilômét nữa mới tới được thủ đô.

Tuy nhiên anh vẫn còn một hy vọng mỏng manh. Chắc là Trung tâm Tình báo phải biết được rằng anh đã vượt ngục. Tất cả các điệp viên của mạng lưới chắc là đang đi tìm anh và đợi anh tới. Thật không may là tổ chức tình báo ở đây chưa bao giờ đủ mạnh. New Wittenberg là cửa vào duy nhất của hành tinh và hiển nhiên là mật vụ Emm Luther theo dõi tất cả những người Trái Đất đến định cư ở đây.

Ngay trong lúc này có thể những điệp viên giỏi nhất đã bị cảnh sát bắt giữ vì liều mạng đi tìm Tallon rồi. Tallon quyết định đi bộ thêm một ngày nữa rồi sẽ đi tàu hỏa.

Ngày hôm đó qua đi không có sự cố gì. Tallon hiểu rõ rằng đài phát thanh không bao giờ mô tả được chính xác chiếc máy của anh. Tuy nhiên chắc là ả Amanda đã không bỏ lỡ dịp nói tất cả những gì ả biết về nó. Chắc chắn là họ đã kiểm duyệt khá nhiều chi tiết liên quan đến cuộc phiêu lưu của anh, có thể là để tránh một vụ bê bối trong giới quan chức. Bởi vì nói cho cùng thì họ đã tạo cho tù nhân chính trị tất cả những điều kiện thuận lợi để họ chế tạo những đôi mắt nhân tạo vô cùng hoàn hảo. Anh tự nhủ là Hélène Juste có thể gặp nhiều điều phiền toái.

Nhưng có một việc duy nhất có ý nghĩa quan trọng: mọi người không hề biết cái máy nhìn mà người đang bị săn lùng sử dụng là loại máy gì. Nếu như có ai đó hơi quan tâm đến vụ việc đến mức muốn phát hiện ra một kẻ vượt ngục đeo một công cụ như kiểu radar, thì anh ta chỉ có thể hình dung ra một người đeo một chiếc hộp đen nhỏ có một chiếc ăng ten ngoe nguẩy trên đầu. Ngày nay vẫn còn nhiều người đeo kính có gọng, bởi vì loại kính này vẫn chưa hoàn toàn bị thay thế bởi kính áp tròng. Và Tallon, với bộ đồng phục bụi bặm không có gì đặc biệt, có thể trà trộn trong đám đông mà không để bị phát hiện. Quân chủ bài quan trọng nhất của anh trong những năm tháng làm việc cho Trung tâm Tình báo là cái vẻ ngoài rất bình thường của anh.

Ngày hôm sau tiết trời trở nên lạnh hơn. Một cơn mưa phùn rơi lất phất. Đó là cơn mưa đầu tiên mà Tallon nhìn thấy kể từ khi anh bị bắt.

Không lúc nào anh bỏ xa đường sắt ven biển, và bây giờ anh lại nhằm hướng đại dương bước tới. Những hình ảnh mờ tối của chiếc máy đang không ngừng bị yếu đi càng làm tăng cái cảnh rầu rĩ của một ngày u ám. Tallon rảo bước để tận dụng tối đa chút ánh sáng còn lại cho mình. Đến cuối buổi chiều thì anh nhìn thấy đại dương và sau đó là con đường ray láng bóng dưới trời mưa.

Anh đi theo một con đường bộ chạy về phía bắc vì anh đoán rằng ga tới chắc là đang ở không xa mấy. Chẳng mấy chốc anh đi ngang qua gần những nhà máy lớn, đó là những nhà máy lớn nhất mà anh được nhìn thấy trong suốt cuộc hành trình của mình. Bên trong dãy tường cao là những tòa nhà lợp mái răng cưa nối đuôi nhau suốt một chặng dài gần một nghìn năm trăm mét. Trong cảnh chiều tối, anh nhìn thấy ở phía sau là bức tường nhà của ban quản trị cùng các phòng nghiên cứu của nó với những ô cửa sổ sáng đèn.

Khi đi dọc theo bức tường rào, Tallon nghe thấy tiếng ầm ì của những chiếc máy điều hòa nhiệt độ công suất lớn. Anh ngạc nhiên trước sự tương phản giữa cái công xưởng rộng mênh mông này với những xí nghiệp gia đình nhỏ đặc trưng cho hành tinh Emm Luther. Nhiều xe ôtô vận tải sơn màu xanh thẫm đang chầm chậm lăn bánh đi qua bên cạnh anh, chúng còn giảm tốc độ hơn nữa khi đi qua một chiếc cổng lớn có đèn chiếu sáng và có lính canh gác cách chỗ anh một trăm mét. Nhìn huy hiệu của chúng Tallon biết rằng chúng là tài sản sở hữu của chính phủ: một cuốn sách và một ngôi sao.

Và anh bắt đầu hiểu anh đang ở đâu. Cái tổ hợp công nghiệp khổng lồ và ồn ào này không phải là không có một mối quan hệ nào đó với tình cảnh hiện tại của anh. Đây là một công xưởng thuộc trong số một loạt các công xưởng của chính phủ trong đó người ta sử dụng các cán bộ kỹ thuật giỏi nhất của hành tinh cùng các kỹ thuật mũi nhọn để sản xuất ra những con tàu thăm dò vũ trụ giữa các ngôi sao.

Đây chính là nơi người ta đã chế tạo ra những con tàu vũ trụ tự động đắt giá một cách khủng khiếp đã được hành tinh Emm Luther phóng lên vũ trụ trong suốt ba trăm sáu mươi lăm ngày trong một năm với một nhịp độ năm mươi lăm giây một con tàu. Hơn nửa triệu con tàu vũ trụ được phóng lên mỗi năm. Bằng cả khối lượng con tàu được chế tạo của chính bản thân Trái Đất. Chúng được phóng đi để nhảy vào cõi xa lạ của hệ phi không gian, và những chuyến bay chuyển tiếp tức thời đã đưa chúng đến với những số phận cô đơn. Hành tinh đã bị kiệt quệ mất một nửa sức lực để thực hiện chương trình này, nhưng xác xuất tung ra đã gặt hái được thành công. Nó đã tìm thấy một thế giới sinh vật mới.

Hiện giờ, các nhà máy đang chế tạo những khối lượng lớn tất cả những gì cần thiết để làm cho Hache Mühlenberg trở thành một hành tinh độc lập về mặt kinh tế trước khi Trái Đất định lập thuộc địa ở đây. Diện tích các lục địa của thế giới mới này vẫn còn là điều bí mật. Nhưng nếu Emm Luther thiết lập được ở đây hai trạm tiền tiêu cùng những phương tiện vật chất cần thiết trên mỗi lô đất hai trăm năm mươi hectar trước khi bất cứ một thế lực nào khác tìm cách xác định được sự có mặt của nó ở đấy, thì, theo luật vũ trụ, toàn bộ hành tinh đó sẽ thuộc về hành tinh Emm Luther. Điều mỉa mai là chính bản thân Trái Đất đã ban hành đạo luật này từ rất lâu rồi, khi mà hành tinh mẹ không lường trước được phong trào giải phóng của các hành tinh con.

Một chiếc xe cảnh sát chầm chậm lăn bánh vượt lên trước Tallon. Trong xe có hai cảnh sát mặc quân phục ngồi ở phía trước và hai điệp viên mặc thường phục ở phía sau. Bọn họ đang hút thuốc một cách bình thản, một ngày làm việc sắp sửa kết thúc. Tallon có cảm giác như họ hối tiếc là đã nhận ra anh khi chiếc xe tỏ ra miễn cưỡng dừng lại. Thậm chí những người viên chức kia còn có vẻ ngập ngừng khi bước xuống trước khi đi lại phía anh. Hẳn là bốn viên cảnh sát của một thành phố nhỏ bé như thế này đang hình dung ra bữa tối nguội lạnh khi ở nhà phải chờ đợi họ, nếu như cái gã lạ mặt bụi bặm kia đúng là người mà họ đang có nhiệm vụ phải truy tìm.

Tallon cũng hối tiếc chẳng kém gì họ. Anh nhìn con đường vắng trải dài, sau đó anh cúi đầu chạy tới cửa ra vào của nhà máy vẫn còn cách anh khoảng hai mươi mét. Như vậy là anh sẽ phải chạm trán với cảnh sát trong vòng vài giây nữa. Họ đang rảo bước và nhìn nhau kinh ngạc, sau đó họ cất tiếng gọi khi Tallon chạy qua được cổng nhà máy vào trong chiếc sân trải nhựa rộng rãi ngăn cách anh với tòa nhà gần nhất. Bị vướng víu bởi bọc đồ cùng con chó đang giẫy giụa, Tallon không thể nào chạy nhanh được như mình muốn, và anh thật ngạc nhiên khi thấy mình chạy tới được trước cửa tòa nhà một cách bình yên vô sự. Anh mở cửa lẻn vào nhà, ngoái cổ liếc nhìn về phía sau và thấy rằng những người gác cổng thức dậy hơi muộn đang nói chuyện với tốp cảnh sát.

Trong căn nhà kho rộng, các dãy giá kệ khổng lồ được xếp thành hàng song song. Trên giá là những chiếc hộp nhựa tròn màu vàng đậy kín mít chứa các linh kiện điện tử đang sẵn sàng để được chuyển đi. Tallon luồn nhanh vào giữa các dãy giá, rẽ sang một lối đi ngang hẹp, trèo lên một ngăn giá rồi nằm ẩn mình giữa những chiếc hộp hình trụ. Nhà kho có vẻ như hoang vắng. Anh rút súng lục ra, nhưng bỗng nhiên anh ý thức được rằng thứ vũ khí này chẳng thể giúp ích được gì nhiều cho một người trong tình cảnh như anh. Làm sao có thể bắt con Seymour nhìn lâu qua kính ngắm để cho phép anh bắn vào bất cứ một mục tiêu nào, cho dù mục tiêu đó có to bằng con voi đi chăng nữa?

Trống ngực anh dịu xuống, và anh thử xem mình có còn chút hy vọng nào để thoát thân không. Không có ai vào trong nhà kho, nhưng chắc là họ đang tìm cách bao vây anh. Anh càng đợi lâu thì càng ít có cơ hội thoát ra khỏi đây. Thế là anh nhảy xuống đất chạy về cuối căn phòng rộng. Trong bóng tối đang lan tỏa, anh vẫn còn nhìn thấy được những bức tường có các cửa lùa của nhà kho. Trên mỗi một cánh cửa lùa người ta lại trổ một chiếc cửa thông thường. Như vậy là anh có thể mở bất cứ cánh cửa nào để ra ngoài, với điều kiện là anh phải chọn đúng cánh cửa không có người gác bên ngoài.

Chạy đến giữa nhà kho, anh rẽ ngang tới một chiếc cửa nhỏ, ngập ngừng một lát rồi từ từ hé mở. Rắc . Một tiếng vỡ kèm theo một tiếng rít báo hiệu điềm dữ. Một vật nóng bỏng sượt qua vai anh. Anh nhảy lùi về phía sau. Cánh cửa bị xuyên thủng một lỗ tưa tớp. Con Seymour sợ hãi cất tiếng sủa và giãy giụa trên tay anh. Bên ngoài, những tiếng kêu khàn khàn bất ngờ của những con chim biển làm át đi tiếng súng nổ.

Cái cửa này không ổn, - một lúc sau Tallon tự nhủ. - Anh chạy tới bức tường cuối nhà kho, đặt tay lên quả đấm cửa nhưng không mở vội. Cái kẻ đã bắn anh chắc là đang đợi anh thử mở cửa một lần nữa. Có thể là hắn ta đang có mặt ở đúng chỗ cái cửa này rồi thì sao? Tallon đi vòng một lượt quanh căn nhà kho trước khi quyết định thử một cánh cửa khác. Đối thủ của anh chắc là đoán trước được những nước đi tối thiểu nhất của anh. Anh có thể quay trở lại chỗ cũ... nhưng thời gian quý giá cứ trôi qua trong khi anh đặt ra những câu hỏi mà anh không thể nào trả lời được. Người ta sẽ điều quân tiếp viện tới. Họ sẽ có mọi cơ may. Làm sao có thể bắn trúng họ được? Anh không nhìn thấy họ vì anh chỉ có thể sử dụng mắt của...

Nhưng tất nhiên rồi!

Làm sao mà anh không nghĩ đến được chuyện này sớm hơn? Anh đưa tay chọn nút bấm của máy nhìn. Đến lần thử thứ năm thì anh nhìn thấy được một vật gì đó. Anh lại thấy mình ở bên ngoài, đang bay trên bầu trời ban đêm. Bên dưới anh là hình bóng mờ nhạt của hai người đàn ông đang di chuyển thận trọng từ cánh cửa này sang cánh cửa khác. Vòng lượn xoáy ốc của con chim đưa anh lên cao hơn. Anh nhìn thấy một bức tường khác, bên cạnh có nhiều người chạy đi chạy lại. Con chim lại lượn vòng xuống làm cho anh phát chóng mặt, và Tallon nhìn thấy một bức tường khác mà cách đó không xa có những chiếc xe tải đang đậu. Nhưng không có cảnh sát.

Anh bỏ con chim, lại chỉnh máy để sử dụng mắt của con Seymour, định được hướng cho mình rồi chạy về phía bức tường gần nhất. Anh ra khỏi nhà kho, luồn giữa hai chiếc xe tải rỗng, chạy ngang qua một lối đi nhỏ rồi lọt vào một căn nhà giống như căn nhà mà anh vừa ra khỏi.

Ở đây cũng có những dãy giá kệ, nhưng chúng được chiếu sáng rực rỡ; những chiếc xe tải nhỏ gầm gừ lăn bánh chậm chạp trên những lối đi rộng giữa các dãy giá kệ. Tallon cố thong thả đi qua khu nhà kho. Không có một người lái xe nào tỏ ra quan tâm đến anh. Anh bước sang tới phía bên kia của tòa nhà không gặp trắc trở gì rồi bước ra ngoài trời trong không khí trong lành của buổi tối.

Căn nhà kho mà anh bước vào tiếp theo đó cũng hoang vắng như căn nhà đầu tiên. Anh lại đi ngang qua. Khi anh ra khỏi nhà, anh tự nhủ là bây giờ mình đã ở cách khá xa tốp cảnh sát kia rồi nên có thể ở bên ngoài mà không cần phải lẩn tránh vào nhà kho nữa. Thế là anh đi theo một lối đi chạy dọc theo căn nhà kho ngược chiều với hướng cửa ra vào của nhà máy. Ở cuối lối đi anh nhìn thấy lờ mờ hình ảnh của nhiều tòa nhà nhỏ, các khuôn viên chứa vật liệu, những chiếc cần trục, cột tháp và những cây đèn cao. Ở phía tây bắc, những ống gió uốn cong của hai lò cao nổi bật lên trên nền trời xanh màu chàm. Tiếng còi nhà máy vang lên. Người ta ồn ào đóng cửa các tòa nhà. Tất cả những chiếc xe ôtô đều bật đèn sáng trưng và bắt đầu lăn bánh xếp thành hàng dài kéo nhau ra cổng nhà máy.

Tallon hiểu rằng anh đã gặp may là được có mặt bên cạnh con quái vật công nghiệp khổng lồ này khi cảnh sát phát hiện ra anh. Anh cảm thấy dòng máu nóng từ vết thương chảy dọc theo sống lưng. Chân anh khuỵu xuống. Và chẳng mấy chốc anh sẽ lại trở thành người mù.

Rõ ràng là chỉ còn một việc phải làm: đầu hàng nhưng từ lâu anh đã từ bỏ mọi ý tưởng đầu hàng.

Anh bắt đầu đi lang thang quanh các tòa nhà, vừa loạng choạng vừa tựa lưng vào tường khi thấy khó đi. Nếu như họ tìm thấy anh thì họ không khỏi cho anh là người lập dị hoặc đáng ngờ. Tuy nhiên ở đây có hai việc đang tỏ ra có lợi cho anh: trong các xí nghiệp quốc doanh khổng lồ như thế này, các nhân viên có xu hướng chỉ quan tâm đến những gì có liên quan trực tiếp tới công việc của họ. Và vào thời điểm giao ca thì gần như họ chẳng nhìn thấy gì.

Hai tiếng đồng hồ trôi qua. Tallon hiện đang có mặt bên cạnh một trong những ống khói khổng lồ của những chiếc lò cao. Cảm thấy là chẳng mấy chốc anh sẽ phải ngủ một giấc nếu như anh không muốn bị quỵ, anh liền tìm một con đường vượt qua đống than trơn trượt nguy hiểm để tới được đằng sau chiếc lò cao, ở đó anh có thể tìm thấy một chỗ ấm áp để ngả lưng. Cách đó không xa là bức tường rào nổi bật lên trên đám dây leo chằng chịt. Anh khó có thể cách xa được đám cảnh sát và lính gác hơn nữa. Thế là anh tìm một chỗ để ngủ.

Nằm giữa lò cao và bức tường rào là đám cỏ dại và dây leo đang bao phủ một đống hỗn độn gồm hòm xiểng, đồ sắt phế thải, những chiếc khung kim loại gỉ, chắc là những cái sàng cũ bị vứt bỏ. Ngọn lửa đang lặng lẽ cháy trong các lò gốm và hơi nóng của ống khói làm ấm cả một vùng xung quanh. Tallon thăm dò kỹ nhiều mô đất có cây cỏ mọc đầy mới tìm ra được một cái hố khá rộng để ẩn náu. Vẻ kiệt sức, anh trườn vào trong hố rồi buông tấm màn cây cỏ che kín lối vào.

Tallon cựa quậy tìm một thế nằm thuận lợi và cuối cùng anh cũng nằm duỗi dài được trong một không gian chật hẹp. Anh đưa tay ra với vẻ thận trọng và cuối cùng phát hiện ra một thứ giống như con đường hầm dẫn tới trung tâm ống khói. Vách và trần hầm được làm bằng những tấm thép của những chiếc hòm bao gói cũ. Anh bò sâu vào bên trong. Sau đó vì quá mệt nên không thể tiếp tục thăm dò thêm được nữa, anh đặt bọc đồ xuống đất, cho con chó Seymour ít nước và bánh mì, lấy bọc đồ làm gối, tắt máy nhìn, và thế là cái thế giới hôi thối xung quanh anh chao đảo rồi biến mất.

- Chào anh bạn, - một giọng nói cất lên trong bóng tối, - anh vẫn chưa tự giới thiệu.

Họ có bốn người. Đó là Ike, Lefty, Phil và Denver.

Ike giải thích rằng ở đây, cái điều hấp dẫn họ trước hết là hơi ấm. Trong mọi xã hội, loài người vẫn có một vài người không biết đấu tranh cũng không biết thích nghi, họ không muốn lao động cũng không muốn ăn cắp. Như vậy là họ phải sống nhờ vào cơm thừa của người giàu. Ở những nơi hiếm hoi như thế này luôn luôn có một số kẻ như vậy, tại đây họ có thể tìm được những gì cần cho sự sống bằng cách chìa tay xin. Bốn người đàn ông kia có thể tìm thấy ở đây chút hơi ấm thừa cho phép họ ngủ yên và khỏi bị chết cóng trong những đêm dài mùa đông.

- Các anh muốn nói các anh là những kẻ ăn xin ư? - Tallon hỏi với giọng ngái ngủ.

- Nói như vậy là hơi tàn nhẫn, - Ike đáp bằng giọng mũi. - Anh bạn còn chút bánh mì khô ngon lành nào không?

- Tôi không biết, - Tallon nói mà cảm thấy vừa đau lưng vừa buồn ngủ. - Với lại làm sao tôi có thể nhìn được trong bóng đêm?

- Nhưng chúng tôi có đèn cơ mà! - Ike ngơ ngác đáp lại. - Anh có thể nhìn vào trong túi xem, chúng tôi đang đói đây. Những người bạn mới của anh đang đói, anh bạn thân mến ạ.

- Xin lỗi, tôi mệt quá. Vả lại tôi... tôi bị mù, - Tallon cố gắng mới nói được hết câu.

Đây là lần đầu tiên anh nói ra điều đó với một người khác.

- Tôi rất lấy làm tiếc, - Ike nói đầy vẻ thông cảm. Im lặng kéo dài. Rồi anh ta hỏi: - Tôi có thể hỏi anh một điều được không, anh bạn?

- Tùy anh.

- Tại sao những người mù bây giờ lại bắt đầu đeo những chiếc kính màu xám to dày như của anh thế kia vậy? Chúng có ích gì khi mà mắt các anh không còn nhìn thấy được nữa?

- Anh nói thế là ý làm sao?

- Các anh đeo chiếc kính...

- Không. Anh nói là những người mù bây giờ lại bắt đầu đeo những chiếc kính như thế này. Anh hãy giảng giải rõ cho tôi nghe nào.

- À, vì mấy hôm rồi tôi đã nhìn thấy một chiếc như thế. Cách đây mười lăm kilômét về phía bắc có một lãnh địa của một người rất giàu. Ông ta bị mù. Tôi và Denver thường nhảy tường vào vườn nhà ông ta, bởi vì cả hai chúng tôi đều thích hoa quả. Cây cối trong vườn nhà ông ta thì sai trĩu quả, và thật có tội nếu không giải phóng cho chúng khỏi gánh nặng đó. Trong nhà có rất nhiều chó, nhưng ban ngày...

- Hãy nói cho tôi nghe về chiếc kính, - Tallon ngắt lời.

- Được rồi, thưa anh bạn, đúng trong tuần này chúng tôi vừa nhìn thấy cái ông người mù ấy, và ông ta cũng đeo chiếc kính to màu xám như của anh. Bây giờ nghĩ lại tôi thấy là ông ta đi lại như người mắt sáng!

- Ông ta tên là gì? - Tallon hỏi với vẻ kích động kỳ lạ.

- Tôi quên mất rồi. Tôi chỉ biết rằng đó là một người bà con của Quan Điều tiết và rằng ông ta là nhà toán học hoặc đại loại như vậy. Nhưng tên ông ta thì tôi quên mất.

- Ông ta tên là Karl Juste, - Denver vồn vã trả lời.

- Tại sao anh lại hỏi thế hả anh bạn? - Ike cười khẩy hỏi. - Anh tưởng ông ta là bạn anh sao?

- Không hẳn như vậy. - Tallon bình thản đáp. - Nhưng dù sao tôi cũng là một người bạn của gia đình ông ta.

« Lùi
Tiến »