Conin, anh chàng thợ bẫy chim, nhìn họ bằng con mắt càng ngày càng tỏ ra đa nghi.
- Không, - anh ta nói, - tôi chẳng có chim cú cũng chẳng có chim cắt. Ở miền nam này không có những con vật bé nhỏ để hấp dẫn chúng. Vả lại, tại sao các ông lại cần một con chim săn mồi. Các ông định làm gì với nó?
- Ồ! chúng tôi cũng chẳng biết rõ lắm là chúng tôi định làm gì, - Tallon vội đáp. - Miễn là những con chim đó được thuần hóa đủ mức để cho chúng ở mãi bên chúng tôi là chúng tôi thỏa mãn rồi. Chúng tôi có thể lấy hai con màu nâu kia, trông chúng giống như những con chim bồ câu.
Anh thích chim săn mồi, bởi vì mắt chúng có vị trí gần giống với mắt người, điều đó sẽ tạo thuận lợi cho việc làm quen với cách nhìn của chúng. Chắc chắn là sẽ dễ chịu hơn nếu có được một nguồn sóng thị giác gần giống với cơ thể mình, nhưng Tallon cũng không đánh giá thấp cái ý tưởng phải nhìn từ hai bên đầu. Dù sao, điều cốt yếu vẫn là phải tìm ra càng nhanh càng tốt một hệ thống thị giác có khả năng sử dụng được.
- Thực tình tôi không biết là liệu hai con chim kia có được việc không, - anh thợ bẫy chim vừa nói vừa chăm chú nhìn Tallon. - Hình như tôi đã nhận ra anh. Anh là Tallon có phải không? Tôi cứ nghĩ là anh bị mù.
- Đúng là tôi bị mù, nói cho cùng là gần như thế. Chính vì vậy mà tôi muốn có những con chim. Đối với tôi, chúng sẽ thay thế cho một con chó.
- Tôi không biết lắm. Tôi thấy anh không có vẻ là người thích chim. Những con chim này rất nhạy cảm.
- Chúng tôi sẽ cho anh bốn bao thuốc lá, - Winfield nói xen vào. - Tôi nghĩ như thế là gấp đôi giá thông thường.
Tù nhân Cronin nhún vai. Anh ta bước tới chỗ chiếc chuồng chim nhỏ được làm bằng lưới sắt giấu ở bờ cực nam của bán đảo. Anh bắt ra hai con chim bản xứ trông giống như chim bồ câu. Anh buộc một sợi dây vào chân hai con vật bé nhỏ đang run rẩy và tỏ ra hiền lành ngoan ngoãn rồi đưa cho hai người.
- Nếu các ông muốn chúng đậu mãi trên vai các ông thì các ông phải buộc chúng vào vai áo trong vòng một hoặc hai ngày để cho chúng quen.
Winfield và Tallon cảm ơn rồi đi ngay.
Họ dừng lại bên bức tường đổ tại khu vườn cũ của Nhà chòi để đặt chim đậu lên vai.
Khi Tallon bắt được tín hiệu thị giác của con chim với máy nhìn điều chỉnh ở tầm thấp nhất, thì bỗng nhiên anh có cảm giác như người ta đang mở nắp đỉnh đầu của anh ra để cho ánh sáng lọt vào. Hai con mắt cách xa nhau của con chim đã cho Tallon một tầm nhìn toàn diện về một phong cảnh rực rỡ của đất trời và biển cả. Tầm nhìn này cho phép con chim phát hiện được những kẻ săn lùng cùng những loại kẻ thù khác, và nó làm cho Tallon có một cảm giác như thể chính mình đang bị săn lùng. Và cũng hơi khó quen với việc nhìn thấy chính chiếc tai mình vểnh lên bên cạnh trong tầm nhìn của mình. Anh tự an ủi rằng như thế thì không ai có thể bất ngờ tấn công anh được.
Hai người tiếp tục đi dạo. Họ đi tới tận bờ cực đông của bán đảo. Tại đây đất liền có bờ dốc không cao. Chẳng mấy chốc họ đã đứng trên đỉnh vách đá tương đối thấp, từ đó họ có thể ngắm nhìn đại dương không có thủy triều đang bao bọc phần lớn nhất của hành tinh.
Không khí trong lành, không gian bao la, và cảm giác tự do mà nó đem lại, tất cả đang làm cho Tallon ngây ngất. Anh tự nhủ giá như anh có được cách của người cổ xưa, anh chỉ cần hít sâu không khí vào ngực để bay lên trời xanh vượt lên trên cái đường cong ngập ánh mặt trời của hành tinh.
Winfield phác một cử chỉ về phía bắc. Đằng sau những mái ngói có khía của khu Nhà chòi đang lấp lánh trong ánh nắng buổi chiều là một bức màn sương mù. Bên dưới hiện lên những hàng cọc tiêu màu đỏ lấp lánh cách xa hơn một nghìn năm trăm mét vẫn nhìn rõ.
- Phía đó là đầm lầy, - ông bác sĩ già giảng giải. - Cần phải vượt qua đầm lầy mới tới được lục địa. Nó rộng hơn sáu cây số.
- Liệu bơi dọc theo một bên bờ của hòn đảo đá có dễ hơn không?
- Như thế sẽ phải bơi ra phía biển khơi cách bờ một nghìn năm trăm mét để tránh lớp cây cỏ mọc dày đặc của đầm lầy. Và ta sẽ bị đội tuần tra trên không phát hiện ra ngay. Không, cách vượt ngục tốt nhất là băng mình qua giữa đầm lầy. Như vậy sẽ có được một ưu thế rất lớn. Họ tưởng chúng ta sẽ chết sau vài giờ và sẽ không tích cực tìm kiếm nữa. Theo tôi, họ chỉ cần kiểm tra hàng ngày các ổ đạn của những khẩu súng chuông. Làm như thế họ sẽ biết được liệu súng có phát hỏa hay không.
- Súng chuông à?
- Phải. Tôi quên chưa nói với anh sao? - Winfield hỏi với giọng cười không vui.
Ranh giới tự nhiên của đầm lầy tạo thành ở phía bắc một vành đai khúc khuỷu trải dài sáu kilômét bờ bán đảo. Vì ít có khả năng là một tù nhân có thể sang được tới đó, cho nên các chuyên gia an ninh của Nhà chòi cho rằng nếu dùng đội tuần tra để canh gác ranh giới sẽ phiền hà và tốn kém vô ích. Thay vào đó, họ đã dựng lên một hàng cột tháp được trang bị các khẩu súng người máy. Mỗi một khẩu súng có hai tấm bảng cách xa nhau giống như hai tấm bảng trên đầu của con rắn chuông. Hai tấm bảng này có tính năng nhạy cảm với nhiệt độ và do đó chúng cho phép khẩu súng chĩa nòng đúng vào bất cứ một sinh vật nào có máu nóng nằm trong tầm bắn. Và viên đạn không bao giờ trật đích.
Bởi vì chúng bắn ra những viên đạn mang đầu đạn biết tìm mục tiêu và đồng thời có khả năng cảm nhiệt, có đường kính hai centimét rưỡi, được trang bị động cơ nhỏ tí xíu cho phép chúng luôn luôn đạt một tốc độ hai kilômét một giây. Những khẩu súng này từ trước đến nay hiếm khi phải bắn vào con người, nhưng hiệu quả chết người của chúng đã được chứng minh theo một cách khác. Chỉ hai tuần sau khi chúng được bố trí, toàn bộ khu vực đầm lầy không còn một con vật máu nóng nào. Tất cả chúng đều bị biến thành một lớp bọt màu đỏ pha lẫn những mẩu xương vụn.
- Nếu những thứ vũ khí đó có khả năng giết người như vậy thì chúng ta làm thế nào để đi vòng qua được phòng tuyến ấy? Thậm chí chúng ta còn không thể đến gần được chúng.
- Theo tôi, tôi sẽ cho anh xem cái này.
Họ vượt qua khu vực bán đảo ở phía nam khu Nhà chòi. Sau đó họ đi dọc theo bờ phía tây, để lại đằng sau họ các tòa nhà của nhà tù.
Chẳng mấy chốc lớp sương mù màu xanh nhạt của khu đầm lầy hiện ra chỉ cách họ vài bước chân. Sương mù bốc lên trời theo những đường xoáy chậm chạp. Một hàng rào làm bằng thân cây có chăng dây thép gai đánh dấu giới hạn của lãnh địa thuộc Nhà chòi. Bên kia hàng rào, những lớp sương mù cuộn xoáy trông có vẻ như bất động giống như những bức tượng tạc trên không trung im ắng.
Vì chưa bao giờ đến gần đầm lầy như thế này, nên trước đây Tallon vẫn chưa hiểu được nó có thể có hại như thế nào. Giờ đây những luồng gió yếu ớt đang đem đến cho anh những hơi thở lạnh lẽo, ẩm thấp và hôi thối của nó. Anh cảm thấy trong bụng nôn nao khó chịu.
- Thật là một mùi ngây ngất, có phải không? Không nên liều mạng ăn quá no một khi đã vào bên trong đầm, - ông Winfield nói với giọng tự phụ như chủ nhà. - Bây giờ, đừng có làm một cử động gì có thể gây nghi ngờ, trong trường hợp nếu chúng ta bị lính canh trên tháp theo dõi. Nhưng anh hãy nhìn cái hàng rào dưới kia kìa, ở gần tảng đá trắng ấy. Anh có thấy không?
Tallon gật đầu.
- Chỗ đó thân cây hàng rào đã bị một loại sâu đục rỗng. Đội bảo dưỡng có nhiệm vụ kiểm tra mỗi một chiếc cọc rào xung quanh lãnh địa hai lần trong một năm. Họ phun thuốc sâu lên cọc rào để ngăn không cho sâu đục thân cây. Nhiệm vụ của tôi là phải đến đây trước họ để quét một lớp hóa chất đặc biệt lên những chiếc cọc rào ở chỗ đó làm cho gỗ không thấm nước. Tôi tin là ở bên trong hiện đang có khoảng hai triệu con sâu đang phải tôn tôi làm Thần Thiện.
- Hay lắm. Nhưng trèo qua hàng rào không dễ hơn ư?
- Đối với anh thì dễ. Nhưng tôi không còn có thể làm được loại việc như vậy. Cách đây tám năm, tôi phải cố lắm mới trèo lên được. Và từ đó tôi thấy mình béo ra đáng kể.
- Khi nãy bác đang muốn nói cho tôi biết cái cách vượt qua hàng rào súng cơ mà.
- Đúng thế. Anh có nhìn thấy những cái cây leo có hoa đỏ thẫm mọc ở bên lề đầm không? Đó là cây dringo . Lá của chúng có độ dày nửa phân và chúng khá dai để ta có thể may chúng lại với nhau. Chúng ta sẽ đem theo kim chỉ và chúng ta sẽ chế tạo những cái giống như tấm màn chắn để vượt qua rặng súng. Anh nghĩ gì về ý tưởng của tôi?
- Bác tin chắc là chúng có khả năng cách ly tốt chứ?
- Vâng. Có một loại bọ cạp nhảy không chịu được sự biến đổi của nhiệt độ đang sống ẩn nấp dưới những chiếc lá đó. Chúng trở nên dữ tợn khi người ta hái những chiếc lá cây che chở của chúng. Nhưng anh đừng lo, chúng không thể cắn chúng ta được, tôi cũng đã lo đến điều này rồi.
- Tôi chỉ hỏi bác là làm thế nào...
- Tôi đã tính đến tất cả khi đặt kế hoạch cho mình, anh Sam ạ. Ở gần tảng đá trắng kia có một kẽ nứt nhỏ trên mặt đất. Đó là một chỗ có thể dễ dàng phát hiện ra ngay cả khi tôi hoàn toàn bị mù. Kẽ nứt ăn thông với một cái hố. Tôi đã đào cái hố cho rộng thêm ra rồi sau đó lại phủ kín. Và đó chính là nơi cất giấu bọc đồ của chúng ta để chuẩn bị cho công việc vượt ngục.
- Tại sao bác lại dự phòng cho hai người?
- Ồ! tôi đã sẵn sàng ra đi một mình nếu cần thiết. Nhưng tôi biết là tôi sẽ có nhiều cơ may hơn nếu tôi có một người bạn đi cùng mà ít nhất người ấy phải có đôi mắt sáng để nhìn đường. Có thể là anh vẫn chưa nhận thức được điều đó, anh bạn nhỏ ạ, nhưng tôi là một người thực tế.
- Thưa bác sĩ, - Tallon kinh ngạc nói, - tôi thật thán phục bác.
Hai đồ vật lớn nhất có trong hai gói đồ của ông Winfield là hai tấm vải nhựa lớn hình vuông mỏng và rất dai. Ông đã ăn cắp được tại phòng đón tiếp của Nhà chòi, nơi người ta dùng để đậy các túi thức ăn được chuyển đến cho Nhà chòi. Ông nghĩ sẽ đục một cái lỗ ở giữa, đủ rộng để chui lọt đầu. Sau khi chui đầu qua ta có thể túm các đầu vải nhựa lại với nhau bằng băng dính để làm thành một cái bao kín. Mặc dù chúng hơi vướng víu và khó coi, nhưng những cái bọc này có ưu điểm là khá rộng và có thể chịu được sức nặng của một người trong đầm lầy. Trong suốt mấy năm kiên nhẫn chuẩn bị cho công cuộc vượt ngục, Winfield đã ăn cắp được khá nhiều đồ vật. Ông đã tích lũy được một khối lượng dự trữ thuốc kháng sinh và một số loại thuốc khác đủ để chống lại cơn sốt trên đầm lầy cùng tất cả những loài sâu bọ độc hại mà họ có thể gặp. Thậm chí ông còn có cả một bộ kim tiêm, hai bộ đồng phục của lính cai ngục và một ít tiền.
- Tất nhiên, việc duy nhất mà tôi đã không thể dự liệu trước được là chúng ta lại phải du hành với con mắt ở một nơi, người một nơi. Tôi không biết các anh bạn chim của chúng ta sẽ chịu đựng cuộc sống trong đầm lầy ra sao. Tôi sợ là chúng sẽ không chịu đựng được tốt lắm.
- Chúng ta phải làm cho chúng một chiếc áo nhỏ, - Tallon vừa nói vừa vuốt ve con chim trên vai. Nếu chúng ta trở về xưởng ngay thì chúng ta sẽ làm cho chúng hai cái lồng nhỏ bọc nhựa trong suốt. Sau đó chúng ta chuẩn bị sẵn sàng và sẽ ra đi ngay khi bác muốn, bác sĩ ạ.
- Thế thì đi ngay tối nay. Còn nấn ná ở đây làm gì? Tôi đã bỏ phí mất quá nhiều thời gian, tôi đã trở nên già yếu. Bao nhiêu năm qua tôi đã phải ở lỳ mãi chỗ này. Hơn nữa, tôi cho rằng thời gian của chúng ta đang phải tính từng ngày.
Như lệ thường bữa tối họ được ăn món cá. Đã hai năm nay kể từ khi đặt chân lên hành tinh này Tallon đã quen với việc bữa tối nào cũng phải ăn cá. Khối lượng protein lớn nhất của hành tinh Emm Luther có ở trong đại dương. Tuy nhiên những người sống bên ngoài Nhà chòi đã tìm ra được một phương pháp chế biến cá sao cho nó có mùi vị của nhiều món ăn khác như thịt, rau, món tráng miệng, và tất cả những gì người ta có thể tưởng tượng được. Nhưng ở trong tù người ta không cầu kỳ như vậy. Món cá vẫn giữ nguyên mùi vị của nó.
Tallon giả vờ ăn vài miếng lườn cá khô và mấy miếng rau biển trông giống như rau bina. Sau đó anh đứng dậy rồi thong thả bước ra khỏi nhà ăn.
Càng ngày anh càng dễ dàng đi lại ở những địa điểm hẹp bằng cách sử dụng mắt của những người bên cạnh để nhìn. Tất nhiên anh sẽ có được những hình ảnh tốt hơn khi có con chim - mà anh đặt tên là Arian - đậu trên vai. Nhưng đem chim đến phòng ăn có thể làm cho những người tù và lính cai ngục để ý.
Mà anh và ông Winfield thì đã quyết định là sẽ cố hết sức tỏ ra kín đáo trong những giờ phút cuối cùng còn ở lại khu Nhà chòi. Mỗi người sẽ ở lại trong phòng của mình và đến chiều tối, hai tiếng đồng hồ trước khi nhà ở tập thể đóng cửa, cả hai sẽ tự mình riêng rẽ đi ra chỗ tảng đá trắng. Ông bác sĩ sẽ phải ra trước đem theo hai chiếc lồng chim làm tạm. Ông sẽ có thời gian đào hai bọc đồ lên trước khi Tallon tới.
Tallon đứng ngập ngừng một lát trước cửa nhà ăn. Sau một tiếng đồng hồ nữa là đến giờ hẹn. Món duy nhất mà dạ dày anh được phép chấp nhận là một tách càphê. Nhưng Winfield đã dặn kỹ anh là đừng ăn uống gì. Bởi vì họ sẽ phải giam mình trong bao nilông kín mít ít nhất là hai ngày. Anh ấn một nút bấm trên máy để chọn một nguồn sóng thị giác ở gần bên, và anh thấy mình mượn được mắt của một anh lính cai ngục đang đứng trước cửa ra vào. Viên cai ngục đang hút thuốc. Thế là Tallon cũng châm một điếu thuốc lá rồi đưa lên môi mỗi khi nhìn thấy anh chàng kia cũng làm như vậy, anh có thể thưởng ngoạn một lát trước những gì giống với một cảnh quan bình thường một cách kỳ lạ. Anh thích thú tái tạo lại những thời điểm của một quá khứ vô tư, khi mà anh được sống trong cảnh ấm cúng và an toàn. Nhưng bóng tối đang dần dần bao trùm lên các tòa nhà ở xung quanh nhắc nhở anh rằng màn đêm đang đến gần, rằng chẳng mấy chốc nó sẽ lan rộng lên khắp mặt đầm, và rằng đêm hôm sau anh sẽ phải trườn mình trong bóng tối âm u với mùi hôi thối nồng nặc, nhằm thẳng hướng rặng súng người máy ở bên kia mà tiến tới.
Để lại đằng sau mình tiếng nói chuyện ồn ào xung quanh bàn ăn cùng những câu chuyện vui thô tục thường diễn ra vào giờ ăn cơm, Tallon bước qua sân đi về phía nhà nghỉ. Con mắt của gã cai ngục chắc là vẫn nhìn theo anh một cách lơ đãng, bởi vì anh nhìn thấy rất rõ bản thân anh đang bước về phía ngôi nhà lớn in hình nổi bật trên nền trời phía tây. Vẻ lúng túng, Tallon nhún vai, nhưng cái động tác thách thức này không làm cho cái bóng dáng bé nhỏ của chính anh đang rời khỏi nhà ăn kia tỏ ra to lớn hơn, vững chãi hơn, cũng như ít cô đơn hơn.
Anh sẽ phải đi bắt con Arian đang nhốt trong cái chuồng chim lớn quây bằng lưới sắt được ban lãnh đạo nhà tù cấp cho những người tù muốn có chim thuần hóa. Nhưng anh quyết định về phòng mình trước để lấy mấy thứ đồ dùng ít ỏi mà anh đang có. Khi về tới gần nhà là lúc anh rơi vào giới hạn cuối cùng trong tầm quét sóng của máy nhìn, và anh chỉ nhìn thấy hình bóng mình trông giống như một vệt tối màu nâu đang bước tới gần cửa ra vào. Anh có cảm giác như nhìn thấy hai vệt tối màu xanh thẫm, chắc là của hai người lính cai ngục. Hai người này đang đứng đợi dưới vòm cửa ra vào và giờ đây họ bước xuống tiến thẳng tới chỗ anh. Hình ảnh nhìn qua con mắt của viên cai ngục vẫn đứng hút thuốc trước cửa nhà ăn tỏ ra không còn rõ nữa, bởi vì y đã ở quá xa. Tallon quyết định tìm những đôi mắt ở gần anh hơn.
Khi anh vừa đưa tay lên để ấn nút điều chỉnh thì mấy người kia lao tới khóa chặt hai cánh tay anh. Tallon vẫn còn có thể nhìn thấy là giờ đây hai cái vệt tối màu xanh trông như dính chặt vào cái vệt tối màu nâu, vệt nâu này là hình bóng của chính anh. Và trống ngực anh bắt đầu đập dồn.
- Nếu người ta bảo với các anh rằng tôi ăn cắp bộ đồ ăn thì là một điều nói dối, - anh nói với giọng cố giữ bình tĩnh.
- Thôi đừng đùa nữa, Tallon, - một giọng nói cất lên như nổ vào tai anh. - Chúng tôi muốn tìm cả Winfield. Ông ta đâu?
Tallon cảm thấy phần nào yên tâm. Nếu như họ chưa tìm thấy ông bác sĩ ở đây thì có nghĩa là ông đã lên đường tới điểm hẹn rồi. Ông sẽ vẫn còn có một cơ hội để thoát khỏi Nhà chòi. Với điều kiện là ông đừng đợi anh quá lâu. Liệu ông già có đủ can đảm để ra đi một mình không? Và như vậy thì ai có thể là người báo cho lính cai ngục? Chắc chắn không phải là Hogarth. Ngay cả khi anh chàng bé nhỏ này có đoán ra được những gì mà cả hai người bọn anh đang âm mưu thì anh ta cũng không...
- Anh điếc à, Tallon? Tôi hỏi anh lần cuối cùng: Winfield trốn ở đâu?
- Tôi không biết.
Tallon cố nghĩ ra một câu chuyện dễ tin để kể cho họ, nhằm giúp cho ông bác sĩ có thời gian. Nhưng đầu óc anh hoàn toàn trở nên đờ đẫn. Và anh rất ngạc nhiên là hai viên cai ngục không có vẻ lo lắng đặc biệt đến sự mất tích của Winfield.
- Thôi không sao, - một giọng nói vô tư của người đứng bên phải anh cất lên. - Bây giờ cứ bắt tên này đã. Khi nào thấy lão thầy thuốc kia thì tóm sau.
- Biết làm thế nào khác được?
Trong khi Tallon đang cố hiểu ý nghĩa câu nói của họ, thì anh cảm thấy một bàn tay chạm nhẹ vào thái dương anh.
Và bỗng nhiên anh lại trở thành người mù.
- Các anh làm gì thế, mẹ kiếp! - anh giận dữ la lên và vùng thoát được hai cánh tay. Anh loạng choạng, và hai người kia không hề tỏ ra muốn bắt lại anh. Anh được tự do muốn đi đâu thì đi, nhưng hoàn toàn bị mù và không có khả năng tự vệ.
- Trả máy cho tôi, nó là của tôi. Đồ ăn cắp! Đồ đểu! Tôi sẽ báo cho cô Juste. Tôi sẽ tố giác các anh.
- Cô ấy là người rất tốt, - một lính cai ngục bật cười đáp. - Anh Tallon này, anh và ông Winfield đã chế tạo những chiếc kính vớ vẩn này với vật liệu ăn cắp của chính phủ. Anh có thể tố giác chúng tôi thế nào tùy thích. Chính cô Juste là người đã yêu cầu chúng tôi tịch thu máy nhìn của các anh.