
Vào giữa khuya, chiếc bè dạt vào một bãi cát. Cơn dông đã tạnh. Ánh trăng lạnh ngắt trải xuống bờ sông thứ sáng xanh nhờ nhờ.
Trên bè chỉ còn ba người tỉnh. Người khỏe nhất là Ngư thì bị chuột rút, cũng mới vừa đứng lên được. Kế đó là chị Năm và Ninh. Nhưng cả hai người đều chưa ngồi dậy nổi. Tất cả những anh em khác đều nằm xuôi tay.
Giữa lúc đầu óc còn quay mòng mòng, tâm trí bàng hoàng chưa định, Ninh nghe trên bờ sông có tiếng chân nhiều người chạy tới thình thịch. Ánh đuốc lấp lóe. Một đám người cởi trần, đóng khố, cầm ná và lao nhọn chạy xuống, vừa reo hò vừa khua chiêng inh ỏi.
Ngư khom xuống chưa kịp gỡ khẩu tiểu liên vướng kẹp dưới mép bè thì đã bị hai người quật xuống, dùng dây da trâu trói gô lại. Trông những người bị dạt nằm xuôi tay không cựa quậy, họ đứng soi đuốc vây quanh, bàn tán inh ỏi.
Ninh cựa mình quay sang chị Năm:
- Đồng bào thiểu số vùng này... Chị thử nói với họ xem sao?
- Bà con ai biết tiếng S’tiêng không?
Đám người reo lên, nhưng họ lắc đầu tỏ ý không nghe được. Chị bèn hỏi thêm bằng mấy thứ tiếng của người dân tộc khác như Ê Đê, Ba Na, nhưng họ cũng đều trỏ vào tai, lắc đầu. Cũng vừa lúc đó, có một người cao lớn, mặc áo bành tô, quần đen, tay cầm súng trường, dắt theo một đám đông chạy xuống bãi cát, hỏi to:
- Có ai còn sống không?
Chị Năm mừng quýnh, chắc phen này gặp du kích của ta rồi.
- Cứu chúng tôi với!
Ninh đã ngồi lên được. Anh loạng choạng quờ một tay đứng dậy, nói:
- Chúng tôi đi làm củi, bị thác nhấn chìm bè, trôi đến đây. Xin bà con cứu giùm những anh em này! - Ninh vừa nói vừa đưa mắt quan sát ông lão cầm khẩu súng trường Anh-đô-si-noa cũ của Pháp.
Ông già đưa mắt nhìn chằm chằm vào mặt Ninh, gật gật đầu quay lại nói bằng tiếng địa phương, bảo đám chung quanh cắt dây buộc người họ ra khỏi bè, vác những người còn thoi thóp lên, hơ đuốc sưởi cho họ. Tất cả lần lượt hồi tỉnh dần, nhưng vẫn nằm nhắm mắt lả đi.
Một người trong đám đông bước lên bè, chặt những nuộc dây ràng rịt, giở tấm ni lông ra. Thấy chất đầy ba lô và súng, họ reo lên, trố mắt nhìn Ninh:
- Ở đâu? Người của ai? Đi làm gì? - Ông già quát.
Ninh chưa biết là họ có phải là người của Pháp không, anh chỉ đưa tay trỏ về hướng nguồn sông, không đáp.
- Bắt tất cả đem về sróc 33 ! - Ông già khoát tay ra lệnh cho đám người vây quanh bè.
Ngư bị trói thúc ké, dắt đi trước. Họ thu tất cả súng, vác ba lô, chong đuốc khiêng những người chưa đi nổi kéo lên bãi. Một đội viên không còn đủ sức chịu đựng, đã chết giữa đường về xóm.
Chị Năm bám vào vai Ninh, lê từng bước. Vốn là một nữ sinh thành thị, mặc dù đã theo cha tiếp xúc nhiều với người thiểu số từ khi còn bé, nhưng ấn tượng rùng rợn của chị về những bộ lạc da đen “ăn thịt người” mà chị đọc trong sách báo của thực dân Pháp ngày trước, không khỏi làm cho chị hồi hộp lo sợ. Trông những cái lưng trần ướt đẫm mồ hôi bóng nhoáng như dầu lắc lư đi trong ánh đuốc và những đầu ngọn mác tua tủa chung quanh, nhiều lúc chị ngó xuống đất. Hình ảnh những người da trắng trong các đoàn thám hiểm rơi vào tay “họ” bị trói đứng, thiêu sống, còn những thân hình vạm vỡ cầm giáo, cầm khiên rú lên nhảy múa chung quanh, rồi tiếng trống bùng bung từ những vùng sa mạc và rừng rậm châu Phi giờ đây lại loáng thoáng hiện ra trong óc, khiến chị rờn rợn.
Trong đám người cầm đuốc, có mấy đứa bé chạy quanh theo chị. Chúng nó mở những cặp mắt tròn ngây thơ, ngạc nhiên nhìn chị, và cười với nhau. Một đứa sờ tay chị, cười cười, bộ muốn làm quen. Thấy chị không làm gì nó, mấy đứa khác bèn chạy bám theo.
Con đường ngoằn ngoèo chui dưới bóng những cây xoài rậm quấn đầy dây leo chằng chịt, lấp loáng ánh đuốc. Mối càng chạy rào rào dưới chân người. Chốc sau, họ lọt ra một quãng trống. Ninh đưa mắt trông về phía trước. Những ngôi nhà sàn mái lợp tranh chúc xuống tựa hồ như mái chùa Khmer cất dọc khuỷu sông loang loáng ánh trăng. Nhà nào cũng đốt lửa sáng rực. Chó xô ra sủa ăng ẳng điếc tai, nhưng khi mọi người đi đến, chúng lùi dần núp vào chân cột dưới sàn nhà. Ẩn trong hốc tối, chúng càng sủa ra dữ dội.
Ông già trèo lên thang, vẫy tay bảo Ninh lên theo. Trông ông lão không có vẻ gì hung dữ. Đôi mắt sâu núp dưới vầng trán hơi hói che cặp mày rậm nhìn thẳng vào Ninh, như muốn hỏi “Anh là ai?” Năm sáu người cởi trần, lặng lẽ đứng sau lưng Ninh, tay người nào cũng cầm những con dao dài sắc như nước. Ninh ngồi xuống cạnh bếp lửa giữa sàn nhà, đối diện với ông lão.
- Các anh có phải là người của thằng Tây không?
Ninh tin chắc ông lão này là người tốt. Nếu không ông đã gọi bọn Tây bằng “ông lớn” rồi. Nhưng Ninh vẫn lắc đầu, không nói gì, dò xem thái độ ông ra sao.
- Vậy thì người của Cụ Hồ? Việt Minh chớ?
Ninh lặng thinh. Ông lão nhìn Ninh hồi lâu, đoạn móc trong cái túi da beo con đeo giữa ngực lấy ra một đầu đạn súng trường, soi vào ánh lửa.
- Mười năm trước, thằng Tây bắn tôi bằng cái đạn này. - Ông trỏ vào bắp chân. - Sau đó, tôi trở lại khoét cái cây lấy ra...
- Chúng tôi là người của Cụ Hồ! - Ninh nói chậm rãi, mắt không rời ông lão.
- Tôi là mẹ sróc 34 đây. Tôi cũng làm Việt Minh. - Ông lão reo lên, chồm qua bếp lửa cầm bàn tay Ninh, run run đầy xúc động.
Ninh chỉ còn đủ sức nghe tới câu đó. Tai anh ù lên, thấy ánh lửa xoay tròn trước mắt, và anh từ từ gục xuống, thiếp đi.
Đội truy tầm được một bà lang Châu Ro tận tâm cứu chữa. Bà đổ rượu hòa với ngải và một số lá cỏ thuốc cho anh em uống, đốt lửa hơ cho mọi người suốt đêm. Chị Năm mệt lả người, chân tay rã rời, nhưng chị lại thấy mình như khỏe và tỉnh táo hơn bao giờ hết. Chị tiêm thuốc, lấy dầu nóng xoa bóp, loay hoay chăm sóc anh em đến sáng.
Hai hôm sau tất cả anh em trong đội truy tầm đã hồi phục, nhưng sức khỏe vẫn chưa bình thường như cũ. Đồng chí đội viên hi sinh trên đường làm nhiệm vụ được chôn cất trên một gò cát cao. Đồng bào thiểu số đã hạ một cây xoài, đục rỗng ruột làm chiếc áo quan. Theo phong tục của đồng bào sróc này, thì hiện vật tùy thân của người chết phải đem đặt trên nấm mộ. Nhưng vì phải giữ lộ trình bí mật, kết hợp với yêu cầu đó, Ninh đưa ra khẩu các bin của đồng chí hi sinh trao tặng cho sróc, cũng là để đáp lại tấm lòng tốt của đồng bào đã tận tâm cứu chữa cho anh em.
Tất cả súng ống đạn dược, hành trang của đội, được đem ra phơi phóng mấy hôm nay, đã lau chùi cẩn thận. Anh em còn ở lại hai hôm nữa, đến ngày thứ năm thì chuẩn bị lên đường.
Ông trưởng sróc ngồi bên bếp lửa kể cho Ninh nghe về cuộc đời mình. Ngày xưa, ông có theo đồng bào mang da cọp ra chợ đổi muối. Những người cùng đi với ông đều bị bọn Pháp bắt làm phu mở đường gần hai năm. “Người chúng tôi quen sống tự do như con hươu con nai giữa rừng, không chịu được trói buộc và hành hạ đánh đập đâu. Họ chạy trốn, bị lính thằng Tây bắn chết hết. Tôi chém một thằng lính, giật cây súng, chạy. Chúng nó bắn tôi, một phát trúng bắp chân. Nhưng tôi bò trốn trong rừng. Tôi căm lắm, buộc lá cây vào vết thương xong, tôi trở lại khoét cái cây lấy đầu đạn ra đem về cho đồng bào coi. Hai tháng sau, tôi mới về tới sróc... Sau nghe nước mình độc lập, Cụ Hồ đuổi thằng Tây đi rồi. Nhưng lại thấy máy bay nó trở lại bay nhiều lắm, bay dọc theo sông. Nó bắn xuống đây làm chết hơn mười người. Mấy cây xoài bị đạn, bây giờ còn dấu đó. Hồi trước, có mấy người của Cụ Hồ đi lạc qua đây. Người nào cũng tốt. Bảo họ ở lại với chúng tôi, họ nói còn bận đi đánh thằng Tây, thế nào cũng trở lại. Trông hoài không thấy... Cho tới cái đêm người trong sróc đi đâm cá, gặp bè của các anh giạt lên bãi. Chà, khi thấy súng nhiều, chúng tôi tưởng các anh là người của thằng Tây chớ!”
Anh em trong đội ngồi chung quanh nghe kể, ai cũng bùi ngùi. Một chú bé trong xóm trần truồng tựa vào vai Ngư. Ông trưởng sróc chỉ thằng bé, nói: “Nhà nó chết hết rồi, bị con ma trái trời. Người ta bồng nó giấu đi, con ma không tìm được, nó mới sống đó.”
Cả sróc mổ hai con lợn, tiễn anh em lên đường. Đêm trước khi đi, Ngư lấy cái áo bà ba vải đen cũ của mình ra cho thằng bé. Nó ôm cái áo toan chạy đi. Nghe tiếng trẻ trên nhà sàn gọi lên ăn thịt nướng, nó bèn vo cái áo lại, nhét giấu dưới chân cầu thang.
Những người đàn bà trong sróc bồng con tới cùng ngồi ăn với anh em trong đội. Cơm nếp thổi trong ống bương chẻ ra, đặt trên tàu lá chuối. Hai con lợn to tướng, xẻ làm tư, treo lên bốn bếp. Người ăn cứ cầm dao xẻo từng miếng, xiên vào que tre kê lên lửa nướng. Ông trưởng sróc ngồi bên hũ rượu cất bằng nếp, múc ra từng bát, ép anh em uống. Vài người chỉ nhấp môi, không dám uống; họ còn phải giữ sức khỏe và tỉnh táo để đi đường. Chỉ có Nghĩa là không từ chối. Anh cứ tì tì chén tới, gặp rượu chẳng khác gì rồng gặp mây. Ninh lừ mắt ra hiệu, bảo Nghĩa không nên uống nhiều. Nhưng Nghĩa vẫn phớt tỉnh, làm như mình không nghe thấy. Anh lắc lắc khuôn mặt đỏ gay, đứng dậy hát một bài hát kháng chiến. Mọi người ồ lên, tỏ vẻ hoan hỉ, rập nhau vỗ tay, reo cười inh ỏi. Bà lang ngồi bên chị Năm. Bà đã thấm rượu, vỗ vỗ vào vai chị ra ý bảo chị hát. Chị cười và lắc đầu. Bà lão trỏ vào ngực mình, như nói: “Vậy thì để già hát thay!” Bà đứng dậy đi lấy cái chiêng, ngồi xếp hai chân ra sau, vừa vỗ chiêng vừa hát. Giọng hát lúc thì dồn dập nghe như thác đổ, nghe như tiếng dòng suối trong suốt róc rách chảy giữa đôi bờ xanh lá, và cuối cùng, trước khi chấm dứt, bà ngửa cổ ngước mặt lên, đưa giọng hát vút cao như tiếng rú gọi ngàn.
Anh em vỗ tay hoan hô rầm rĩ. Nhưng đồng bào trong sróc đều ngồi lặng thinh. Cúi mặt xuống, gương mặt người nào trông cũng man mác một vẻ ưu sầu. Ông trưởng sróc tới trước, mắt đăm đăm nhìn ngọn lửa:
- Bài hát này không biết của ai làm ra, cũng không biết có tự lúc nào. Ngày còn bé, tôi đã nghe ông tôi hát nó rồi.
Núi đổ rừng nghiêng, chúng tôi cứ cầm ngọn giáo đi tới
Mặt trăng lặn rồi thì mặt trời lại mọc
Con chim có cánh bay, con cá có vi lội
Chúng tôi có cánh tay và cái ná cái giáo
Không bao giờ chúng tôi chịu chết
Chỉ sợ người bạn mình không thương nhau
Đừng để cho đá cũng phải chảy nước mắt, trông cảnh anh em cùng sróc tan lìa...
- Người chúng tôi rất thích bài hát này. Nhưng nghe hát thì ai cũng muốn khóc. Chẳng ai muốn như vậy đâu! - Ông lão nói thêm.
- Đó là lời của sức mạnh đoàn kết. Cụ Hồ bảo tất cả chúng ta đều là anh em ruột thịt. Phải biết thương nhau, cùng đoàn kết đánh thằng Tây, giữ sróc, giữ nước. Đất nước này là của chúng ta! - Ninh đứng dậy, đưa cánh tay còn lại lên nói bằng giọng xúc động.
Ông trưởng sróc thông ngôn lại cho đồng bào nghe, bấy giờ họ mới reo lên, vỗ tay cười.
- Anh em đi về đâu, để chúng tôi dắt đi? - Ông lão hỏi.
- Chúng tôi còn đi xa lắm, bà con không đưa được đâu. - Ninh đáp.
- Không tới đây thì thôi, đã tới thì bà con chúng tôi phải đưa về tận nhà. Phòng gặp cái xấu, con hổ con báo dọc đường.
“Nếu đội có thêm người đưa đường thì tốt biết mấy. Nhưng họ lại không nói được tiếng Việt. Vả lại họ cũng chẳng biết nơi mình đi tới là đâu mà đưa dắt.” Ninh nghĩ bụng, nói với ông lão rằng anh em có súng, không sợ, anh em biết đường đi.
Theo lời ông trưởng sróc nói, thì đội Ninh đã đi chệch hướng nên mới bị con thác nhận chìm bè. Ngã ba con sông Xoài Cóc còn nằm phía dưới nữa, cách đây độ hai ngàn thước. Nghe Ninh nói muốn đi qua chỗ đó, ông lão bảo:
- Đi một tháng, hai tháng bên kia bờ cũng không gặp người đâu. Lấy gì mà ăn?
- Chúng tôi có lương khô. Và ở đâu thì rừng cũng nuôi người...
Ông lão nghe mấy tiếng “rừng nuôi người”, thích lắm, cười ran lên. Nhưng ông cũng bảo Ninh mang theo ít gạo nếp và thịt khô. Đồng bào muốn biếu anh em. Điều đó chẳng những Ninh không từ chối mà còn mừng quá đỗi.
Mờ sáng hôm đó, lúc rừng chưa tan sương, một chiếc Ca-ta-li-na 35 vè vè bay qua sróc. Nó lượn hai vòng rồi bay sang phía bờ kia.
Mọi người nhốn nháo cả lên. Anh em trong đội chuẩn bị sẵn sàng, phòng có thể bị địch thả biệt kích nhảy dù xuống đánh bất ngờ. Lát lâu sau chiếc Ca-ta-li-na lại quay lại, bay thẳng về hướng Đông Nam.
Ông trưởng sróc cầm khẩu các bin của đội trao tặng, nói:
- Lâu lâu nó cũng bay như vậy, mà không thấy có chuyện gì. Chắc là tình cờ thôi. Làm sao nó biết các anh đang ở đây. Nếu nó tới, tôi dùng khẩu súng này bắt nó đứng lại!
Đội truy tầm từ giã lên đường, đồng bào chạy theo đưa rất đông. Ninh chắp tay vái, ra hiệu cám ơn và khuyên họ nên trở lại.
Ông trưởng sróc cười:
- Ai cũng đòi chèo thuyền đưa các anh qua sông cả đấy!
Bà lang say rượu hát đêm qua cúi nghiêng mái đầu tóc bạc xuống, cầm tay chị Năm hít mãi, làm chị phải dừng lại. Khi Ninh quay gọi thì thấy chị rân rấn sắp khóc.
- Tiến lên thôi! - Tiếng Nghĩa giục vang từ phía trước.
Chị Năm buông tay bà lão, cúi mặt xuống đuổi chạy theo anh em.
