Cuộc Truy Tầm Kho Vũ Khí

Lượt đọc: 450 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9
image

Bọn giặc tiến một cách hết sức chậm chạp. Dù vậy một tuần lễ sau chúng cũng mò đến gần ngã ba sông Xoài Cóc. Còn một khoảng cách chừng năm cây số thì trời tối, chúng dừng lại đóng quân.

Theo lệnh tên thiếu úy Lô-răng, trung đội phân tán ra từng tổ nhỏ, đào công sự đề phòng bị đánh úp thình lình và triệt để cấm đốt lửa. Bọn biệt kích được phép hút thuốc lá nhưng phải che kín trong lòng bàn tay. Chúng dựng ăng ten, quay điện suốt đêm liên lạc với bọn tham mưu ở Biên Hòa. Tên Lô-răng còn yêu cầu cho một máy bay do thám tiến trước dò đường.

Không đứa nào ngủ được. Muỗi vo vo bu đốt suốt đêm. Mòng chó bay như trấu, đốt chỗ nào như da thịt phải bỏng chỗ đó. Đập được nó, chỉ phải khúc mình, cái đầu còn bám chặt dính vào chỗ vết đốt. Hầu hết bọn chúng không dám ngủ vì sợ rắn. Cọp thì chúng không ngán. Luồn trong cỏ, những con vật bò sát bé nhỏ khủng khiếp, có con chỉ bằng đầu đũa thôi, nhưng bị nó đớp thì cầm chắc cái chết. Đã có hai tên nữa bị rắn nẹp nia cắn chết trong hầm công sự giữa lúc đang ngủ.

Năm giờ sáng, chiếc máy bay trinh sát đến lượn vòng trên xóm nhà sàn, báo xuống cho tên Lô-răng biết: “Không có gì có vẻ khác. Bọn thiểu số còn ngủ. Chưa có mấy đứa ra khỏi lều”.

Trung đội biệt kích được lệnh tiến theo tốc độ cuộc hành quân. Độ nửa giờ sau, chiếc Ca-ta-li-na vè vè quay lại, nói xuống: “An toàn tuyệt đối!”, rồi nó bay thẳng về hướng Biên Hòa.

Tên Võ đã dắt hai tên xích hầu vào đến rìa xóm. Trên một ngọn đồi, tên thiếu úy Lô-răng đứng cầm ống dòm quan sát.

Ánh sáng ban mai còn chưa xua tan hết sương mù. Trong ống kính hiện ra một số người thong thả bước. Những con chó mực gầy gò nhỏng đuôi chạy theo chân chủ. Bầy chó này bỗng dừng lại, cất cổ lên sủa. Ba con chó trinh sát xổ ra. Tên Võ chạy ra trước, đưa súng bắt mấy người này đứng lại.

Tên thiếu úy ra lệnh cho trung đội tiến hình vòng cung tràn vào xóm.

- Có Việt Minh ở đây không? - Tên Võ quát.

Những người bị bắt lắc đầu, trỏ vào tai tỏ ý không hiểu. Hắn bèn tháo ba lô lấy ra một lá cờ đỏ sao vàng, hỏi họ có thấy không.

Khi bà lang trở lại tới đầu xóm, trông thấy lá cờ đỏ sao vàng giống cái hình cờ in trong quyển sổ của anh em lúc bày phơi, bà liền chạy đến.

- Tóm con mụ già này lại! - Tên Võ ra lệnh.

Nom bộ điệu hung hãn của bọn chúng, bà lão biết ngay là không phải người “của mình”. Bà đứng lặng đi hồi lâu, mắt vẫn không rời thằng giặc đang vung vẩy lá cờ trên tay.

Bọn địch chưa ăn sáng. Tên Lô-răng cho đám biệt kích bắt gà lợn, dừng lại nấu cơm ăn để có thể đi luôn đến chiều.

Những người trong xóm bị bắt dồn lại ngồi một chỗ có hơn ba chục. Dũng cầm súng lục đứng gác. Anh muốn hỏi chuyện những người này, nhưng không nói được, đành đứng đực như phỗng.

Tên Khả chạy theo mấy đứa biệt kích đuổi bắt gà. Có con gà sống cứ chạy dưới sàn nhà, luồn quanh các chân cột. Hắn chui theo. Con gà vướng chân vào một nùi đay, đập cánh kêu quang quác. Hắn thò tay ra toan chộp, bỗng rụt phắt lại. Một mẩu thuốc lá quấn bằng giấy nhật trình nằm ngang dưới chân hắn. Hắn cầm lên, tháo ra coi. Mảnh giấy cháy dở còn lại mấy chữ Nuôi quân ăn no đánh mạnh... sản xuất...đồng bào trong các vùng giải phóng... Chính phủ ta... Tên Khả reo lên:

- Việt Minh vừa ở đây! - Hắn nhe bốn cái răng vàng chói, híp mắt cười trao mảnh giấy con cho tên thiếu úy.

Bọn chúng chia nhau lục lọi khắp nơi, trèo lên nhà giỡ cả mái tranh xuống. Từ lúc tên Khả bắt được mẩu thuốc lá, Dũng đã tái mặt. Chắc chắn là đội truy tầm vừa qua đây. Qua lúc nào? Đã lâu chưa? Có cách nào làm chậm bước tiến của đám giặc này? Dũng nghĩ nát óc vẫn không tự giải đáp được.

Tên thiếu úy Lô-răng gọi tên Võ đến, bảo:

- Thằng Khả nói đúng. Có Việt Minh ở quanh đây. Cứ giã bọn Mọi này một trận, sẽ lòi ra thôi!

Tên Võ lôi tóc bà lão đến, gí mũi súng vào mang tai, hỏi:

- Việt Minh ở đâu?

Bà lão lắc đầu. Nó đạp bà lão ngã xuống, dận giày đinh lên ngực, rút dao găm ra dọa cắt họng.

Bà lão chắp tay vái, ra hiệu xin nói. Tên thiếu úy Lô-răng quát tên Võ lùi ra. Hắn cầm tay bà đứng dậy, đưa cho bà lão mấy hộp thịt: “Tốt! Tốt! Bà già nói đi!”

Bà lão lắc đầu không cầm, và bước đến chỗ đống tranh bị xô xuống, ôm một đống bày ra đếm. Bà cầm từng cọng để qua một bên.

- Một đứa... hai đứa... ba đứa...

Tên Lô-răng lẩm nhẩm đếm theo. Đến con số một trăm, bà lão lắc đầu, gộp cả đống tranh lại, trỏ ngón tay vào rừng ra ý nói: “Họ ở trong đó. Nhiều lắm. Đếm không xuể!”

- Chúng ta phải tránh những cuộc trạm trán không cần thiết. - Tên Lô-răng bảo tên Võ. - Hơn nữa, lực lượng bọn Việt Minh đông lắm!

Tên Võ cũng bắt đầu lo. Hắn thừa biết một tiểu đội Việt Minh trang bị đầy đủ, thừa sức đánh bại một trung đội của bọn Pháp.

Giữa lúc chúng còn đang phân vân bàn tán, bỗng tên Khả cầm cái áo bà ba đen nhặt được dưới chân cầu thang chạy đến đưa ra trình cho Lô-răng. Tên Võ bảo bọn biệt kích thu nhặt tất cả những ống bương còn dính nếp lại, đếm cả thảy là mười ống. Hắn quả quyết:

- Việt Minh vừa ở đây không quá hai tiếng đồng hồ. Đông nhất là hai tiểu đội thôi!

Bấy giờ, tên thiếu úy Lô-răng mới cầm cái áo giơ lên, ngắm nghía:

- Bọn Việt Minh có chạy đàng trời cũng không thoát!

- Thưa thiếu úy, xin cho lệnh đuổi theo ngay! - Tên Khả đỡ lấy cái áo, xun xoe vẩy lên.

- Thong thả, ăn uống cho xong! - Tên Lô-răng nói một cách trầm tĩnh, đầy tự mãn.

Tên Võ liền phụ họa:

- Chúng ta đã nắm trong tay “vật chỉ đường” này rồi, lo chi mà vội!

Ba con chó săn trinh sát nhảy cỡn chung quanh thằng Khả, chồm chồm dựng hai chân sau đứng lên, nhe những chiếc răng nanh trắng lóa toan đớp cái áo. Bọn lính đã mang thức ăn của tên chỉ huy đến, dọn ra trên tấm vải bạt. Tên Lô-răng huýt sáo xua đàn chó lui ra, bảo tên Khả cùng đến ngồi ăn với hắn. Được hưởng đặc ân bất ngờ, Khả vội vàng mắc cái áo lên một nhánh cây bên cạnh, hồ hởi bước đến ngồi xuống cạnh chủ.

Từ lúc trông thấy thằng Tây cầm cái áo nhặt được và bầy chó mừng rỡ hít hít cái áo, nhảy xung quanh tên Khả, tuy không nghe được mấy thằng giặc nói với nhau những gì, nhưng bà lão đã biết chúng định dùng cái áo này để làm gì rồi. Những anh em kia làm sao chống cự lại với bọn giặc đông gấp ba họ, súng ống nhiều thế này. Rừng rậm mênh mông cũng không thể che giấu được vết chân họ, khi bọn giặc đã vớ được cái áo và cho chó đánh hơi đuổi theo. Bà lão càng thấy lo sợ và thương cho cô gái trẻ cùng những anh em hiền lành, đáng mến, vừa mới rời khỏi nơi đây. Bà ngồi nhìn không chớp vào cái áo treo lủng lẳng cách mình có mấy bước. Bọn lính biệt kích tranh nhau chia những đùi heo, những miếng thịt vịt, thịt gà vừa cướp được. Chúng không ngớt chạy qua chạy lại trước mặt bà, dường như không có đứa nào chú ý đến cái áo. Chúng lại còn gọi những người bị bắt ra bưng thức ăn múc trong nồi, đem đến cho những thằng đứng gác ngoài xa. Bà lão hết nhìn cái áo lại ngó thằng Tây đang ngồi dạng chân, lúc lắc cổ, nhai xương gau gáu. Bà đã nhổm lên, đứng dậy. Thằng Tây vẫn cứ cắm cúi mải ăn, và tên giặc cầm cái áo ban nãy thì đang khom cái lưng còng còng quay về phía bà. Bà nhấc chân lên, rén bước từ từ đi tới.

Tên Lô-răng vờ như không chú ý. Nhưng tất cả cử chỉ của bà lão không lọt qua được cặp mắt xanh lè của hắn. “Ha! Con mụ này toan giở trò đánh cắp cái áo đây!” Hắn đã nhìn thấy tận ruột bà lão rồi. Nhưng hắn để xem bà làm thế nào có thể cướp vật quý giá nhất vừa lọt vào tay hắn? Nhếch một nụ cười thâm hiểm, hắn theo dõi cái hình người khô đét, tóc xờm lên trắng màu mốc. Trước mắt hắn là một con người không thể nào đoán ra tuổi. Màu thâm thâm của lớp da rám nắng ướt bóng mồ hôi, ánh lên như một cái đầu người tiền sử đúc bằng đồng đen. Những đường nhăn nhíu làm co các bắp thịt má, khiến khuôn mặt bà rúm lại như một thứ quả khô. Chiếc váy màu đen phủ hai đầu gối nhọn gồ ra, động đậy theo từng bước đi tới. Hắn nghiêng người ngồi lại, và những đầu ngón tay nhờn nhầy những mỡ run run sờ vào bao súng lục theo một thói quen mà hắn không hay biết.

Bà lão cũng dừng chân đứng lại khi thấy tên giặc bỗng nhiên xoay thế ngồi. Nhưng kìa, hắn lại cúi xuống gặm chiếc chân gà quay, rõ ràng là hắn có để ý gì đến bà đâu. Bà đã đứng cách cái áo có một với tay. Bà lão nghe tim đập dồn dập, nỗi lo sợ trước việc làm nguy hiểm đến tính mạng khiến cho bà cảm thấy bàn tay già run run. Bà lại liếc nhìn về chỗ tên giặc lần nữa, và bà nén thở, khẽ nghiêng người tới. Bàn tay bà lão vừa cầm cái áo nhấc lên thì tên Lô-răng cũng vừa rút khẩu súng lục ra, đứng phắt dậy. Thấy đã lộ rồi, bà liền nắm chặt cái áo quay lưng toan chạy. Tên giặc cầm khẩu súng lục bắn không kêu, vẩy một phát. Chỉ nghe một tiếng “rắc” khô gọn. Những người bị bắt đứng gần đấy không ai nghe tiếng nổ. Nhưng bà lão đã khuỵu xuống. Một dòng máu ròng ròng chảy tóe ra giữa bộ ngực lép kẹp. Viên đạn bắn từ phía sau lưng trổ ra giữa ngực khiến bà chết không kịp kêu một tiếng.

- Con mụ già này cũng là Việt Minh! - Tên Lô-răng cười gằn hất hàm bảo tên Võ. - Nó muốn đánh cắp cái áo Việt Minh để chúng ta không dò theo được.

Những người bị bắt cùng thét lên, quay cả lại phía tên giặc. Tiếng thét đầy căm hờn và phẫn nộ làm cho tên giặc khát máu kinh hoảng lùi mấy bước trước khi hắn kịp trấn tĩnh.

Trên lớp cát vàng còn ẩm hơi sương, bà lão già thân yêu nhất sróc của những người đứng đấy, nằm úp mặt không động đậy. Bà lão đêm đêm ngồi bên bếp lửa kể cho họ nghe những chuyện cổ tích của người Châu Ro, hát cho họ nghe những bài hát cổ. Bà thuộc tất cả mọi thứ lá cỏ trong rừng, những lá thuốc chữa bệnh và những lá thuốc độc. Bà lang già ấy đã cứu bao nhiêu người trong sróc thoát chết. Giờ đây, không tật bệnh ốm đau, bọn giặc bỗng nhiên đem cái chết tới cho bà. Thế mà không ai cứu được bà sao?

Một người, hai người, ba người trong đám bị bắt nhảy tới, tất cả nhảy tới, tay không lao vào lũ giặc. Nhưng những loạt súng không kêu đã kết liễu đời họ trong thoáng chớp.

Tên Võ giẫm lên xác bà lão, cúi nhặt cái áo vẫy vẫy gọi chó. Bọn chó cứ bu sủa vào cái xác. Tên Lô-răng quát một tiếng, chỉ về phía trước. Những con vật tinh khôn được huấn luyện kĩ càng đứng vểnh tai ra một lúc. Chúng vươn dài cổ ra, hít hít vào các bụi cỏ, chạy theo đường của đội Ninh vừa rời đi lúc rạng sáng.

Bấy giờ, tiểu đội của Ninh đã sang được hai phần ba sông. Ba chiếc thuyền độc mộc phăng phăng rẽ nước. Chị Năm đứng lên cầm khăn vẫy những người theo tiễn còn đứng tụ thành từng đám đông dưới những gốc cây xoài già.

Bỗng nghe tiếng tù và rúc tu...u...tu...u...u vang dội và mấy tiếng súng các bin nổ liền theo. Ninh quay lại thấy ông trưởng sróc chạy ngược về xóm, vừa chạy vừa bắn. Tiếng trung liên nổ cục cục. Đám người dưới bóng xoài túa ra, chạy tứ tán. Bọn địch tràn tới ngã ba sông. Chúng đặt trung liên bắn theo ba chiếc thuyền còn cách bờ kia vài mươi thước.

Đạn bay véo qua đầu những người đứng chèo, cắm xuống mặt nước, nảy lên như thia lia.

Tên Lô-răng bắt ống nhòm trông theo.

- Phải tiêu diệt kì được bọn này. Đó là lực lượng nguy hiểm có thể cản trở con đường tiến của chúng ta!

Tên Võ cho bơm xuồng cao su, hạ lệnh đuổi theo.

Ba chiếc thuyền chạy ngoằn ngoèo tránh làn đạn như ba con cá. Mũi thuyền xé nước vọt lên tới bãi thì đạn moọc chê cũng bắt đầu nổ sát bên lưng. Tất cả mọi người lao xuống bãi chạy luồn vào những bụi cây mọc lưa thưa. Ninh vừa từ mũi thuyền phóng xuống, bị sức nổ của một trái moọc chê rơi sau lái thuyền xô ngã sấp. Một mảnh đạn cắt lìa vạt áo bên hông. Anh trườn một tay đến gốc cây mục gần đó. Moọc chê vẫn rót đạn tới tấp chung quanh. Xuồng cao su của bọn địch đã ra đến giữa sông. Chúng bắt đầu nổ súng đuổi theo dữ dội. Ninh bỏ chỗ núp vụt lên bờ dắt tiểu đội chạy. Sáu người chèo thuyền đưa anh sang sông thì một người trúng đạn chết ngay trên bãi, còn năm người vẫn bám sát theo. Chạy một quãng, Ninh sờ tay thấy mất cái ống thiếc đựng tấm bản đồ, anh liền quay lại. Không kịp nữa rồi. Chiếc xuồng cao su thứ nhất của chúng đã rướn lên bãi. Bọn biệt kích lao xuống, ráo riết bắn theo hướng Ninh vừa chạy.

Ninh thờ thẫn như người mất hồn. Khói đã bốc dọc dài bên bờ kia. Bọn địch vẫn đang hò hét bơi xuồng cao su nối nhau vượt sông.

Nghĩa thấy mất Ninh, bèn quay lại:

- Sao anh không chạy đi?

- Rơi cái ống thiếc đựng bản đồ rồi!

Nghĩa liền chạy trở ngược xuống bãi. Bọn địch đã sang hết bên này, đặt ba khẩu trung liên bắn như vãi trấu vào rừng. Nghĩa quay lại nói như muốn khóc:

- Bây giờ phải dắt anh em chạy đi. Sau hẵng hay.

Nghĩa tháo hai quả lựu đạn đeo bên hông gài chặn hậu xong mới chạy theo Ninh.

Bọn địch chưa dám đuổi theo. Bỗng thằng Khả reo lên: “Cái gì của tụi nó rơi lại đây?” Hắn cầm cái ống thiếc nhặt được giơ cao lên, chạy đến trao cho tên Võ.

Tên Võ ngắm nghía hồi lâu, đoạn dè dặt tháo nắp ra. Hai mắt hắn chớp chớp: “A! Tấm bản đồ!” Tên Võ khấp khởi chạy đến trình với thằng Lô-răng:

- Đúng là bọn này cũng đang mò đến kho vũ khí.

Dũng nghe câu đó, lảo đảo ngồi khuỵu xuống bãi cát. Cử chỉ của Dũng không lọt khỏi mắt tên Khả.

- Ê! Làm gì coi thất sắc vậy mậy? - Tên Khả hỏi.

- Mệt thì ngồi nghỉ chớ làm gì.

- Tao e cái mệt của mày rồi đa. Mày liệu hồn!

Tên thiếu úy Lô-răng bảo tên Khả:

- Lúc về tao sẽ cho mày lên đội. - Và hắn ra lệnh cho đám biệt kích dừng lại. - Không cần đuổi gấp. Chúng nó bị mất hướng, như mù rồi!

Bọn chúng khui đồ hộp ra ăn, reo cười inh ỏi. Thằng nào cũng tranh chính tay mình bắn đứt sợi quai da rơi tấm bản đồ lại.

Nửa giờ sau, tên Lô-răng cho bọn biệt kích lần theo. Ba con chó trinh sát dắt tiểu đội xích hầu lên trước. Hai tiếng nổ rền liên tiếp. Vướng lựu đạn gài, một con chết tại chỗ, một con đứt mất quai hàm, giãy giụa bên thây tên xích hầu trúng mảnh lựu đạn đổ ruột nằm cạnh đó.

Tên thiếu úy Lô-răng mặt xám ngắt, thét như điên:

- Đuổi theo, tiêu diệt ngay chúng nó!

Chúng ồ ạt chạy tới. Vướng dây gài lần thứ hai, ba đứa bỏ mạng không kịp ngáp. Chúng nã moọc chê ầm ầm vào rừng, dè dặt đi chậm lại.

- Giữ con chó... Giữ con chó lại... Chúng mày tiến lên trước.

Mặc cho tên chỉ huy hò hét, bọn biệt kích vẫn không đứa nào xông lên.

- Thằng Dũng, lên mở đường! - Tên Võ quát.

Dũng giả đò sợ hãi, rén chân dò dò từng bước. Được một quãng, Dũng trông thấy sợi gai giăng ngang một đám cỏ gãy. Dũng bảo bụng: “Phải làm chậm bọn này được bước nào hay bước ấy. Bây giờ, có dịp cũng nên làm cho nó tin mình một phen”. Anh bèn nhảy giật lùi, hô to:

- Mìn! Có mìn đằng trước!

- Mày muốn khủng bố tinh thần binh sĩ hả? Không thấy mìn thì tao giết mày ngay! - Tên Võ cầm súng lục tiến tới. Hắn bỗng lùi lại ba bốn bước.

Cả bọn đứng chòm nhom, không đứa nào dám lên. Tên Võ bèn lấy dây buộc vào hòn đá ném tới. Hắn cầm một đầu dây kéo lùi hòn đá lại. Hòn đá vướng dây gài. Một tiếng nổ chát chúa vang lên.

Dũng đắc chí, đứng chống nạnh nói trống không:

- Các ông không tin tôi thì cứ liều mạng đi tới đi!

Tên Khả lườm Dũng:

- Vậy chưa phải đã lập được công đâu mà làm bộ!

- Tôi chẳng tranh công tranh cán gì với anh đâu. Nhưng mà anh có gan thì nên tỏ ra cho mọi người thấy, tốt nhất là bằng cách đi lên trước.

Tên Khả lặng thinh, quay ngoắt lại phía sau, không thèm trả lời.

Bọn chúng cứ ném đá dò như vậy mà đi tới như rùa.

- Thưa thiếu úy, xin ngài yêu cầu cho phi cơ tiếp viện! - Tên Võ đề nghị với tên Lô-răng.

- Chúng mày là một bọn khốn kiếp. Còn nhát hơn con chó. Tiếp viện, tiếp viện cái gì? Chúng có mấy đứa mà ta không làm gì được sao? Mày muốn tao chịu nhục với ban tham mưu hả? - Tên Lô-răng giận dữ quát rầm lên.

Đến chiều, bọn biệt kích mới đi được hơn ba ngàn thước.

•O•

Họ ngồi dưới một bóng cây tàng lá rậm đen. Ánh trăng rơi như những đồng tiền vàng trong giấc mộng mà con người khi tỉnh dậy, còn hối tiếc ngẩn ngơ thấy mình không bao giờ nhặt được.

- Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm với cấp trên và các đồng chí vì tấm bản đồ đã rơi lọt vào tay địch! - Ninh nói bằng giọng run run - Chúng ta đã mất Dũng, giờ lại thêm một số đồng bào vì mình mà hi sinh.

Nghĩa ngồi khoanh tay trước gối, nói chậm rãi:

- Nếu như cái rủi không tới một lần, thì điều may cũng không chỉ gặp một lần mà hết. Chúng ta không nhờ các bà con đây, - Nghĩa trỏ vào các anh em thiểu số - thì chúng ta đã hi sinh vì con thác dữ hôm nọ rồi. Biết đâu chẳng vì tấm bản đồ đó mà chúng ta lại rơi vào một cái hố sâu khác. Có khi mất nó, lại là may!

- Đừng có tự an ủi một cách duy tâm như vậy, đồng chí! - Chị Năm nhìn Nghĩa nói gay gắt.

- Thôi, xin các đồng chí không nên cãi nhau trong lúc này. - Ninh hòa giải. - Dù sao chúng ta cũng không đủ sức đánh lại bọn này để cướp lại tấm bản đồ. Tuy nó mất, nhưng tôi vẫn nhớ được tất cả các phương hướng vạch ra trong đó. Chỉ sợ bọn địch tình cờ nhặt được sẽ đuổi theo và tiến tới đó trước ta.

- Vậy thì mình phải cướp đường, đi luôn ngày đêm đi. - Nghĩa nói.

Tiếng giun dế kêu ran chung quanh bỗng nín bặt. Mọi người ngẩng phắt lên. Có tiếng chân giẫm trên lá khô. Tất cả súng đều lên đạn. Anh em nằm rạp xuống. Im lặng hồi lâu, vẫn không thấy gì. Từ một chỗ nào không biết, có tiếng con chim vạc kêu ba lần cách khoảng đều nhau. Một anh em thiểu số đứng dậy nép vào thân cây làm tiếng vạc kêu đáp trả hai lần và chấm dứt bằng một tiếng cú rúc dài.

- Tôi là mẹ sróc đây! - Tiếng nói to từ trong tối vọng ra.

Tất cả mọi người mừng rỡ nhổm dậy. Ông trưởng sróc cầm khẩu các bin dắt theo ba người cầm ná loạt xoạt bước đến.

- Chúng nó đốt cháy gần hết xóm. Nhưng chúng tôi không sợ. Chỉ lo anh em bị thằng Tây đuổi theo bên này. Tôi chèo thuyền qua đây tìm anh em, tìm lâu quá, không gặp...

- Bà con bên ấy có sao không? - Ninh lo lắng hỏi.

- Chúng nó bắn chết hơn ba mươi người. Bà lang cũng bị bắn chết rồi.

Anh em đứng yên lặng hồi lâu. Ông trưởng sróc lại nói:

- Bây giờ các anh theo tôi trở về bên sông. Thằng Tây trở về bên sông thì tôi đưa các anh sang bên này. Mười năm nữa, nó cũng không làm gì được mình.

Ninh cảm động trước tấm lòng lo lắng chân thành của ông lão. Anh cầm tay ông, nói:

- Chúng tôi còn phải đi xa. Nhưng nhất định sẽ có ngày trở lại. Xin mẹ sróc quay về...

- Các anh có việc thì cứ đi thôi. Nhưng tôi thì tôi chưa về đâu. Một người của chúng tôi chạy thoát, nói lại: Thằng Tây có ba con chó to như ba con beo, dữ như ba con cọp. Nó cầm cái áo anh em đánh rơi chỗ cầu thang giúi cho mấy con chó ngửi. Bà lang giật cái áo lại, bị chúng nó bắn chết. Tất cả những người bị bắt xông ra cũng bị chúng nó bắn chết cả. Ba con chó ngửi cái áo, đánh hơi chạy theo đường các anh đi. Tôi qua đây, đón bắn nó. Con cọp trúng mũi tên độc này - ông lão trỏ hai ống tên đeo bên lưng của hai người cầm ná - con cọp bị sướt da thôi, cũng phải chết! Hà hà! Rừng bây giờ không phải như rừng ngày xưa đâu.

Giọng nói dũng cảm của con người sống nhẫn nhục chịu đựng giữa rừng xanh núi thẳm bấy nay có một sức bật choàng dậy, không còn tin nơi mệnh Trời bắt họ phải còng lưng cúi xuống. Ninh thấy vững lòng tin nơi ông trưởng sróc. Nhưng để rơi lại cái áo, anh thấy xót xa đau đớn quá.

- Trong anh em ta, ai để rơi cái áo?

Tất cả lặng thinh. Chị Năm nói: “Không chừng là cái áo của các đồng chí đã hi sinh. Anh em nào mang ra phơi bị gió thổi bay...”

Ninh nén hơi thở trong lồng ngực. Dường như có cái gì nghẹn giữa cổ khiến anh cứ nuốt nước bọt mãi.

Lúc Ngư nghe ông trưởng sróc nói cái áo bị rơi, anh biết chính là cái áo của mình đã cho thằng bé mồ côi. Anh đâu có ngờ cái áo ấy hóa thành vật chỉ đường cho địch. Ngư cúi mặt xuống. Tác hại lớn ấy làm cho Ngư run sợ, và anh đã không đủ can đảm đứng ra nhận lỗi trước mọi người.

Rừng sâu trầm mặc đứng yên dưới ánh trăng xanh biếc. Vầng trăng từ từ nép sau một áng mây bay như không muốn trông thấy cảnh con người bước đi mà cứ ngoái trông nhau.

•O•

Bọn biệt kích đốt lửa suốt đêm trên một ngọn đồi. Chúng bắt đầu lo sợ khi thấy bóng tối từ từ vây phủ chung quanh. Rừng cựa mình trong tiếng gió rú rít. Con vượn hú dài không biết tận nơi nào cũng làm cho những tên đứng gác giật mình nơm nớp.

Tên thiếu úy Lô-răng báo về cho bọn chỉ huy ở Biên Hòa biết là hắn đã tiêu diệt một tiểu đoàn Việt Minh và cướp được tấm bản đồ dẫn đến kho vũ khí. Còn mấy tên sống sót không đáng kể đã chạy trốn vào rừng.

Bọn tên Khả, tên Võ ngồi sau lưng tên Lô-răng nghe hắn truyền đạt lại lời khen của ban tham mưu. Đứa nào cũng có cảm giác như chúng đã tiêu diệt một tiểu đoàn Việt Minh thật sự.

Con chó trinh sát nằm dán mõm xuống lắng nghe tiếng máy phát điện quay o...o... đều đều một nhịp trầm. Bỗng nó chồm phắt dậy, sủa oang oang, hai mắt xanh lè như hai ngọn đèn chọc vào trong tối. Tên Võ nắm dây lôi con chó lại. Hắn bắn một loạt súng tiểu liên không kêu vào cụm cây nghi ngờ sau mô đất. Một con chim đen to tướng quác quác bay lên, đập cánh kêu xé màn đêm.

- Tưởng đứa nào ba đầu sáu tay, dám mò tới đây để...

Tên Võ đang nghếch mặt lên trông con chim, chưa nói dứt câu, bỗng chúi gục xuống.

Bọn biệt kích nhốn nháo, bắn loạn xạ vào rừng. Tên Võ giãy giãy như con chó bị đập đầu, tay chân co rúm lại. Thằng phản bội chết không kêu được một tiếng. Một mũi tên độc cắm đúng vào giữa cổ. Vết thương không chảy máu, chỉ thấy một quầng tím to bằng miệng bát tụ dưới chỗ lộ hầu.

•O•

Đội truy tầm của Ninh càn rừng đi đã bốn ngày. Không nghe tiếng súng nổ, cũng chẳng thấy bọn địch đuổi theo. Ai cũng cho đó là một đám biệt kích, đụng tình cờ. Có lẽ chúng đã rút về rồi.

Trời trở nắng to. Vết chân không còn nước mưa xóa lấp. Cỏ bị giẫm xuống, nằm phơi lá héo sau lưng để lộ con đường tiểu đội đã đi qua. Mọi người lội ngược theo những dòng suối cạn chảy ngoằn ngoèo giữa rừng, đề phòng bọn địch có thể men theo dấu.

Đây là một vùng rừng lắm hổ. Lúc nào cũng nghe có mùi khét lẹt theo sát bên lưng. Trời còn chưa tối, tiếng hổ đã hộc vang hai bên bờ suối. Có khi cả ban ngày hổ hiện ra, sắc lưng vàng cháy giữa mấy vạt cỏ tranh.

Nghĩa đề nghị:

- Cho phép tôi bắn một con lấy thịt ăn. Cứ để nó men theo ghẹo gan hoài, ức lắm.

Chị Năm tán thành ngay. Nhưng Ninh không đồng ý:

- Nổ một tiếng súng lúc này chẳng khác nào bảo “chúng tôi đang ở đây!” Điều đáng lo trước mắt không phải là vấn đề hổ.

- Không lẽ một tiếng các bin lại vang đến tận Biên Hòa? - Nghĩa chưa chịu từ bỏ ý định, làu bàu cãi.

- Chúng ta không phải là đội đi săn thú! - Ninh gắt. Từ lúc ra đi đến giờ, lần đầu tiên mới nghe Ninh to tiếng với anh em.

Thấy Nghĩa cúi mặt xuống đi, Ninh vừa giận vừa thương. Anh em trong đội nhiều người còn trẻ quá. Họ chỉ lo đối phó với những cái trước mắt. Nghe có thịt ăn, cô cứu thương đã vội vàng tán thành, không nghĩ tới cái hại có thể xảy ra sau đó. Người chỉ huy lúc nào cũng phải gắn liền với anh em trong đội. Một hiện tượng bất hòa, ngấm ngầm bực tức lẫn nhau sẽ đi đến chỗ mất đoàn kết, nhất là trong lúc này, để cho anh em nản lòng thối chí thì còn nguy hiểm hơn động biển, sập rừng. Nhưng dù thế nào mặc lòng, phải giữ vững kỉ luật của đội. Mọi vấn đề không thống nhất ý kiến nhỏ khác, sẽ giải quyết sau.

Họ đi đến một con suối thì trời đã xế.

Dòng suối sâu và rộng. Bên trái kia là rừng cổ thụ và bờ đá dựng cao, bên này thì bờ thấp như trườn ra suối, lài lài phù sa. Hoa min trắng mọc dày, do luồng nước đổ mang hạt cây min srao từ trên nguồn rắc dài theo lợi đất mềm. Men ngược con suối này, anh em có thể đi tắt đến kho 1 sớm hai ngày.

Ăn xong bữa chiều, Ninh cho anh em dừng lại nghỉ. Rừng tranh khô san sát chạy dài theo bên này con suối giăng ngang một chiều rộng có đến hai trăm thước, kế đó là bưng lầy, và tít mãi trong xa kia, rừng già dựng lên bức tường cổ thụ tím biếc đang chìm dần vào sương.

Mọi người ngồi đấu lưng vào nhau thành một vòng tròn, cứ mỗi phiên bốn người thay nhau gác bốn mặt. Đêm trùm xuống một màn đen dày đặc mênh mông như làm cho gió bị mù mắt phải dừng lại ở một nơi xa biệt nào. Tiếng chim ụt từ bên kia rừng cổ thụ đột ngột nổi lên, rền rền vang vọng trong ngàn cây như tiếng “hung thần ban đêm” sau một giấc ngủ ngày nặng nhọc. Đã tới giờ thức, “hung thần ban đêm” hóa hình con chim xám giương đôi mắt xanh lè vẫy cánh ra gọi chào bóng tối. Từ một nơi nào đó, tiếng buông buông... krrõi... krrõi lâu lâu lại vẳng đến, lúc gần lúc xa. Chị Năm nhích người ngồi len vào giữa, tự nhiên đầu óc bị xâm chiếm bởi một thứ hoảng sợ lạ kì. Những người ở vùng rừng nghe hai tiếng buông... buông... krrõi... krrõi thành ra hai tiếng buông ra... dõi theo , một thứ tiếng kêu ngân vang như tiếng đồng tiếng sắt của con chim lệnh bay đưa đường cho hổ, dù không phải là người yếu bóng vía, cũng bắt phải rùng mình.

Nhưng đêm ngàn phải đâu chỉ bắt đầu và dừng lại trong tiếng kêu ghê rợn của những loài chim gở. Ngay từ khi vầng dương sập xuống, tất cả mọi thứ côn trùng, động vật trốn ánh sáng mặt trời trong các hang hốc, lau cỏ đã động đậy rời chỗ ẩn trú bò ra. Và trong bóng tối bí mật, hàng nghìn thứ tiếng xôn xao cùng lúc dấy lên: Tiếng bắp chuối hột rừng trổ buồng kèn kẹt, tàu lá chuyển động ào ào, tiếng chim rù rì thủ thỉ bên bờ khe, tiếng kêu uềnh oang, giọng đục ngập nước của con ễnh ương, tiếng rên rẩm lẻn lút trong những lùm bụi rậm của những con vật đang trườn bò, bới đất, đào hang, trổ ngách, đang chôn dấu miếng mồi bắt được, đang gầm gừ cắn nghẹt họng con mồi...

Từ trong màn đêm mênh mông, cây cỏ bỗng dần dần hiện ra trong một thứ sáng xanh như nước. Trăng liềm nhọn hoắt từ từ nhô lên khỏi rừng. Sương bắt đầu thấm lạnh làm cho mọi người không ai ngủ được. Họ ngồi im lặng nghe con chồn chạy sột soạt trong những bụi lau dưới suối, con mang tác tác bên sườn đồi tranh, tiếng cọp gầm chuyển động đầu hôm mỗi lúc một xa dần, con vượn hú dài ảo não trong rừng sâu vừa im tiếng vào lúc giữa khuya thì kế đến tiếng voi bẻ cây rốp rốp tước lá ăn, gọi nhau téc... téc...

- Đốt lửa lên cho ấm đi, anh em! - Chị Năm bỗng nói trống không bằng một giọng không được tự nhiên.

Để cho nữ đồng đội còn non gan này được yên tâm, Ninh rút chiếc bật lửa đưa vào tay Nghĩa. Chốc sau, một đám lửa đỏ cháy bừng lên nhảy múa giữa đám người ngồi vây quanh, xua tan khí lạnh âm u. Những tiếng động kinh khiếp của rừng đêm vây quanh họ cũng dần dần im bặt. Anh em một vài người gối đầu lên ba lô, bắt đầu thiu thiu ngủ.

Ninh ngồi bên đống lửa, vạch ra trong trí những con đường dọc ngang rối nát trên bức bản đồ tưởng tượng. Nếu như Dũng còn đây và cái ống thiếc đựng tấm bản đồ không rơi mất. Anh lắc đầu. Không thể “nếu như” trước những việc trong thực tế đã xảy ra rồi. Dù thế nào mặc lòng, Ninh cũng phải hoàn thành nhiệm vụ của trên giao phó. Anh đưa cánh tay còn lại hơ lên bếp lửa, áp vào hai bên cổ cho đỡ lạnh.

Từ phía đầm lầy, tiếng vịt trời bỗng rộ lên, kêu hoảng hốt. Những con bay trước quàng quạc vỗ cánh lướt ngang trên đầu Ninh. Mấy tiếng chó sủa chói màng tai vừa nghe nổi lên, vụt im bặt.

Mọi người ngồi phắt dậy, Ninh chưa kịp dập tắt hết đống lửa thì đạn trung liên từ phía đầm lầy đã quạt tới rào rào. Tiếp theo đó, tiếng súng nổ liền hai mặt dọc theo bờ suối bắn dồn đến. Bọn biệt kích trông thấy ánh lửa, đã mò tới bao vây. Cánh quân tiến qua đầm lầy bị vịt trời và tiếng chó làm lộ nên đã nổ súng ngay sau đó.

- Vượt qua suối! Địch tới sát bên ta rồi! - Ninh nén giọng xuống, ra lệnh cho anh em.

Tất cả mọi người lao xuống suối, bơi sang bờ kia. Dòng nước lạnh như băng cuốn chị Năm trôi đi một quãng. Ngư nhoài người bơi theo, xốc chị bám vào bờ đá. Ngư trèo qua một đám rễ cây, vừa kéo được chị lên thì bọn biệt kích đã tràn tới bên đống lửa còn đang ngún cháy, tới tấp bắn theo. Đạn veo veo như những đàn ong lửa va vào thành đá, nảy dội ra, bật rơi xuống suối rào rào.

Bọn địch không thấy đối phương bắn trả, bèn rọi đèn pin sang. Im lặng hoàn toàn bên phía bờ kia. Trong bóng tối dày đặc, san sát những cây cổ thụ và hang hốc đen ngòm, cái chết đang rình mò chờ đợi không biết chỗ nào. Hồi lâu, vẫn không thấy động tĩnh gì. Một tên biệt kích ren rén bò xuống suối, khe khẽ bơi sang. Hắn chưa kịp ra đến giữa dòng, Ninh từ sau một gộp đá nhô lên, vẩy một phát súng lục. Tên biệt kích với với rồi chìm xuống, trôi theo nước.

Súng lớn súng nhỏ tập trung hỏa lực, ào ào bắn sang như mưa bấc. Ninh không cho anh em bắn trả lại. Sự im lặng khó hiểu lúc bấy giờ làm cho tên Lô-răng bắt đầu lo ngại. Có thể hắn gặp một toán du kích Việt Minh nào khác chăng?

Tên Khả hỏi Dũng:

- Mày có biết ở vùng này, tiểu đoàn nào đang hoạt động không?

Dũng cố ý nói to cho tên Lô-răng nghe:

- Trong rừng, chỗ nào mà không có họ. Có trời mới biết được!

- Hay đó là mấy thằng đã chạy như chuột, rơi cái ống thiếc ở bờ sông hôm nọ?

- Tốt nhất, anh nên sang bên ấy mà hỏi!

- Mày nói giọng gì vậy mậy?

- Chớ tôi làm sao biết được?

- Cái gì mày cũng không biết. Vậy thì mày đi theo để làm gì?

Bên kia suối, Ninh cố lắng tai nghe xem hai cái bóng đen đang nói gì với nhau, nhưng anh không thể nào nghe được. Đứa thấp lùn đang quơ tay chỉ trỏ, bộ giận dữ, còn đứa khập khiễng một bên chân thì cứ lắc đầu đi lùi lại. Ninh máy Nghĩa bò đến chỗ anh, nói khẽ vào tai Nghĩa: “Ai ở bên kia... như là Dũng!”

Bên này tên thiếu úy Lô-răng nấp sau hòn đá, bảo Dũng:

- Mày đứng ra xưng tên một đơn vị Việt Minh, gọi chúng nó thử coi. Làm như vừa rồi, hai đơn vị đã chạm súng nhầm.

Dũng tỏ ra lo sợ:

- Các ông núp hết, một mình tôi chường 36 ra họ sẽ bắn chết tôi.

- Cứ xưng tên mày. Biết đâu trong bọn đó lại có đứa quen mày?

Dũng khập khiễng bước ra khỏi bụi cây, vo tay lên mồm:

- Anh em nào đó? Tôi là thằng Dũng đây!

Nghĩa nghe ù trong tai, máu dồn lên nóng mặt. Anh nâng súng lên, rít trong kẽ răng: “À thằng phản bội!” Ninh kịp giật tay Nghĩa ra khỏi cò súng.

- Để xem đã... Để xem...

Không nghe bên kia trả lời, Dũng lại cố sức gào to:

- Thằng Dũng đây!

“Thằng Dũng đây!” Hồi âm từ vách đá bên kia như nhại lại Dũng từng tiếng một. Sau đó chẳng còn nghe thấy gì nữa. Sự im lặng hoàn toàn bên phía bờ kia làm cho Dũng tuyệt vọng, một cảm giác sợ hãi ập đến xâm chiếm cả tâm hồn anh.

Dũng đưa hai tay lên ôm đầu ngồi phịch xuống.

Ninh kéo Nghĩa lùi ra sau: “Đi thôi!”

Nghĩa nói gần như muốn khóc:

- Sao anh không để tôi cho nó một phát đạn...

- Tôi chưa tin hẳn là Dũng phản bội.

- Anh vin vào bằng cớ gì?

- Thực tình nó theo địch, thì nó không dại gì xưng tên ra. Có thể đó là một cách Dũng muốn báo cho ta biết có Dũng đang đi trong đám đó. Nếu như nó dắt bọn địch đi đúng vào những lối tắt không ghi trong bản đồ thì chúng ta cũng còn thừa thì giờ.

Sáng hôm sau, đội truy tầm vẫn chưa lọt ra khỏi cánh rừng cổ thụ. Họ lặng lẽ chen lách trong gai góc, lùi lũi đi tới. Không ai nói gì với ai. Không khí nặng nề như đè nặng trên đầu người, khiến cho họ cứ cúi mặt xuống. Từ khi rời Bộ tư lệnh khu, chỉ mới đi chưa được nửa đoạn đường, họ đã trải qua khá nhiều gian nan. Những bước đầu thử thách ấy không hề làm anh em sờn lòng. Nếu như Dũng chết rồi! Một đồng đội hi sinh vì nhiệm vụ bao giờ cũng để lại cho người sống đau đớn, đó là chuyện tất nhiên trong chiến đấu. Nhưng Dũng không chết! Sự có mặt của Dũng giữa bọn địch giờ đây, khiến cho anh em cảm thấy cái mất mát trong đội ngũ càng to lớn và chua xót quá, không thể nào xóa lấp được.

Chỉ có Ninh chưa tin là Dũng phản bội. Dũng đang đứng giữa bọn địch, Nghĩa và Ninh đều trông thấy, nhưng chưa phải vì thế mà vội kết luận, khẳng định rằng Dũng đã đầu hàng, đưa đường cho chúng. Nhưng dù sao đám mây phân vân cũng đã bắt đầu vẩn lên trong lòng anh những bóng xám rối loạn của nghi ngờ.

Họ vẫn lầm lũi vạch cây rẽ lá đi tới. Trước mắt họ, rừng tre gai dày bịt đột ngột hiện ra, khủng khiếp chắn ngang. Từ lưng chừng những thân cây tre to cỡ bắp vế đóng đầy rêu mốc, những nùi dây rừng cuốn lên đến ngọn như hàng nghìn triệu con rắn cuộn mình trong cái tổ khổng lồ. Thấp thoáng trong những kẽ lá rộng của loài dây leo không tên tuổi này, màu hoa đỏ sặc sỡ xòe ra như những bàn tay lửa. Họ dừng lại, ngẩng trông lên. Không một cái lá động, không một tiếng chim kêu. Dường như chim chóc biết chúng nó không thể bay xuyên qua bức tường thảo mộc kinh dị này, nên chẳng con nào bén mảng tới chăng? Không khí lặng lẽ và uy nghiêm của khu rừng kì lạ như ẩn chứa bên trong một sức mạnh không bờ, một sức mạnh huyền bí của thiên nhiên đầy đe dọa và nham hiểm. Con người đứng trước nó phải hồi hộp lo âu.

Nghĩa cầm con dao quơ lên:

- Khoét ruột nó, lấy lối đi chớ!

Chị Năm nhún vai nhìn theo con dao trên tay Nghĩa. Mọi người đưa những cặp mắt bất lực nhìn vào khu rừng. Con thỏ cũng không thể phóng lọt qua những lớp mạng nhện gai xỏ rễ sát mặt đất này.

Không thể tiến tới được nữa. Ninh giở địa bàn ra xem. Chỉ còn một con đường là trở lại theo dấu bọn địch thôi.

•O•

Quả nhiên, hai hôm sau đội truy tầm dò theo vết giày của bọn địch, đến đúng nền kho thật.

Cứ trông những con kiến bò ra luồn vào đục rỗng hết ruột những miếng bánh mì khô rơi vãi, thì biết bọn địch đã rời khỏi nơi đây có hơn một ngày đêm rồi.

Trên nền kho 1 cũ, những chân cột bị đẵn ngang phá đi ngày trước, đã mục tơi ra biến thành thứ đất phân đen. Trên những nơi đó mọc đầy nấm dại màu sặc sỡ. Có những cây nấm bị nhổ lên, xé bỏ vụn từng mảnh héo quắt lại. Bọn địch đã dừng lại khá lâu ở đây. Trong cỏ tranh rạp xuống từng lõm còn hằn dấu lưng của những tên nằm ngủ. Dưới gốc cây ngái, một cái lỗ khoét xuống đất làm bếp đun đã lấp vội vàng còn ló ló mấy vụn than đen. Mươi ống thuốc sốt rét cắt ra tiêm, vứt trong bụi gai mắc cỡ cạnh đấy.

Chị Năm cúi nhặt những ống thuốc cầm lên xem, bỗng reo lên:

- Anh em ơi! Lại coi cái gì đây!

Dưới ánh nắng nghiêng của mặt trời chiều, hai chữ “T” nằm xếp bằng bốn ống thuốc tiêm chói chói lên những tia sáng như gương. Đúng là mật hiệu của đội chỉ hướng tìm theo dùng trong trường hợp có người bị lạc.

- Của Dũng chăng? Sao không vạch lên thân cây?

- Có khi là tình cờ, chúng ném rơi, gác lên nhau.

- Không. Có bàn tay người hẳn hoi...

Anh em bàn tán mỗi người một phách. Ninh đến xem xong, nói quả quyết:

- Đúng là của Dũng rồi. Tìm thêm coi có gì không?

Ninh lần theo hướng đầu tên, vạch cỏ đi tới. Cách đấy mười thước, trên một lõm đất bị nhổ sạch cỏ, năm hòn sỏi xếp cách quãng không đều nhau theo một đường gấp, chỉ năm địa điểm nằm dọc theo bờ con suối. Hệt như trong tấm bản đồ của Ninh đã rơi mất. Tất cả mọi người nhóm lại chung quanh. Từ khoảng giữa hòn sỏi thứ nhất đến hòn sỏi thứ hai, gác chéo hai nhánh cây khô hình chữ thập. Và một chữ “T” nằm chỉ con đường tắt từ hòn sỏi thứ nhất đến hòn sỏi thứ tư có vết que vạch nhì nhằng.

Ninh không cần phán đoán gì nữa, bảo anh em:

- Hai nhánh cây khô gác chữ thập này, là dấu hiệu chỉ con đường không đi được, phải bỏ. Như vậy, theo hướng đầu tên này, chúng ta cứ tiến thẳng đến nền kho thứ tư. Con đường tắt này không có trong bản đồ cũ của Phòng Chính trị khu.

Chị Năm trỏ ngón tay xuống những vệt que vạch lằng nhằng:

- Theo con đường này, chúng ta phải vượt qua một vùng đất bị nước ngập hoặc bưng lầy. Chắc chú chàng muốn vẽ nước đấy.

Ninh đứng dậy đưa bàn tay còn lại vuốt ngược mớ tóc rũ xuống trán. Những nếp nhăn trên vầng trán sạm đen vì nắng gió, ướt bóng mồ hôi, hết giãn ra lại co vào. Hồi lâu, anh nói:

- Tôi có thể khẳng định rằng Dũng không phản bội. Có lẽ bị chúng bắt đưa đường. Vì sao Dũng chịu nhận làm cái công việc đó, chúng ta không rõ được. Phải chờ lúc gặp cậu ta. Bằng cớ hiển nhiên là Dũng bảo chúng ta không nên theo con đường suối từ nền kho 1 đến kho 2. Một là chúng ta sẽ luôn luôn đi sau bọn địch. Hai là chúng ta không thể đối chọi lại một lực lượng đông và mạnh gấp ba chúng ta. Chắc chắn bọn địch đã nhặt được cái ống thiếc đựng tấm bản đồ của ta rồi. Tất nhiên chúng ta đang theo con đường chỉ dẫn trong đó. Chẳng phải Dũng bảo chúng ta theo con đường tắt này, đến trước kho 4 là gì?

Mọi người quyết định đi theo hướng Dũng vạch ra. Họ giở lương khô ra ăn để kịp đi ngay trước khi trời tối. Ai cũng thấy nhẹ nhõm như vừa trút được khối đá đè nặng hai vai.

Chỉ riêng Nghĩa ngồi trầm ngâm lặng thinh không nói gì. Cho tới lúc anh em gọi, anh mới bàng hoàng đứng dậy khoác súng lên vai.

Hình ảnh
« Lùi
Tiến »