
Họ đang kẻ nằm người ngồi trên một gò đất cao, dưới tàng cổ thụ xòe cái tán lá đen bằng mấy chục ngôi nhà. Dưới chân họ, cách có đến năm sáu thước, dòng sông lấm tấm ánh sao vẫn lặng lẽ chảy hút vào màn đêm mênh mông. Lâu lâu, một cơn gió thổi đến làm bốc phừng ngọn lửa của đám cháy đã tàn bên kia. Mặt sông rực sáng như trời bình minh, ánh lửa rọi đến tận chỗ họ ngồi trong thoáng chốc, và sau đó, tất cả lại chìm vào màn đêm đen, tưởng như canh sẽ dài không bao giờ hết.
Vừa mệt vừa lạnh nên không ai ngủ được. Ninh đứng tựa lưng vào cái rễ phụ to có đến một vòng tay ôm, nhìn xuống dòng sông:
- Để tôi thức gác cho. Anh em cứ ngủ đi, phòng có chuyện gì xảy ra thì còn sức mà đối phó.
Nghe Ninh nói hai tiếng “đối phó”, Nghĩa lồm cồm đứng dậy:
- Từ lúc đi đến giờ, anh em mình cứ luôn luôn bị động. Theo tôi, bây giờ mình phải giành lại thế chủ động, chuyển phòng ngự sang tấn công.
- Đề nghị anh em cử đồng chí Nghĩa làm tham mưu trưởng đi. - Chị Năm nằm gối đầu lên ba lô, quay mặt về phía Nghĩa, nói khe khẽ.
Anh em nhiều người không nín được, cười lên thành tiếng.
- Tôi nói thật đấy. - Nghĩa đã hơi cáu - Ngày mai, anh em cứ đi đi. Một mình tôi ở lại, tiêu diệt chúng nó. Một khẩu súng chỗ cao điểm này, thừa sức chặn đứng một... đại đội.
Một anh ngồi khuất trong gốc cây, nói ra:
- Làm như giặc chỉ toàn bắn mã tử 42 . Máy bay nó cất cánh để làm giàn trồng hành 43 hết rồi chắc?
- Có sợ địch thì nói đi, chứ đừng dùng phát ngôn cái kiểu đâm họng đấy nhá!
Ninh phải dàn giải mọi người:
- Ý kiến của tất cả anh em đều đúng. Cần thiết và đủ sức thì tại sao chúng ta không xóa cái lực lượng luôn luôn cản trở con đường tiến của chúng ta? Nhưng nhiệm vụ trước mắt là chúng ta phải làm sao đến kho vũ khí trước chúng nó.
- Có chín người cũng chẳng khuân đi đâu kịp! - Nghĩa nói giọng chán nản.
- Đến đấy, ta sẽ có thừa vũ khí chiến đấu. Biết đâu lại chẳng còn lương thực dùng được, và cố thủ ở đó một thời gian. - Ninh vẫn bình thản nói. - Nếu như trong trường hợp bức bách bị chúng nhảy dù xuống, thì ta cũng đủ thì giờ, không để những vũ khí ấy lọt vào tay bọn địch.
Mọi người lặng thinh. Chẳng ai nói ra, nhưng ai cũng nghĩ đến Dũng. Trong đội, chỉ có Dũng là người thuộc đường đi nước bước, biết rõ địa điểm cất giấu của cái kho vũ khí bí mật ấy. Nhưng Dũng đã rơi vào tay bọn địch. Chúng lại đang đuổi sát gót theo anh em. Không biết giờ đây, Dũng đang một mình đối phó ra sao với bọn chúng...
Chị Năm đang quay mặt ra phía bờ sông, nằm gác tay lên trán, bỗng ngồi phắt dậy:
- Anh em ơi! Y như là có tiếng gọi mẹ...
Chị vụt đứng lên. Tiếng gọi mẹ hãi hùng của đứa bé vọng ra trong ngôi lều đêm xuyên vùng bị tạm chiếm, lại như vẳng vào tai chị. Chị đứng lặng hồi lâu. Lạ quá, sao chẳng nghe thấy gì nữa? Chung quanh chị, chỉ có tiếng gió động lào xào trên đầu cây và tiếng côn trùng tỉ tê đâu trong các lùm bụi dưới bờ sông.
Nghĩa chép miệng:
- Chị Năm đang ngủ hay thức đó? Thức à? Vậy mà tôi cứ tưởng chị nói mê chớ!
- Tôi nghe như là tiếng của Dũng...
- Thôi, ngủ đi chị ơi! Chắc là tiếng con hươu gọi mẹ thôi.
- Con hươu, sao chỉ kêu có một tiếng?
- Người sao lại không gọi được đến tiếng thứ hai?
Chị Năm bị Nghĩa trêu tức, giận quá không nói gì được, bèn nằm xuống cố nhắm mắt lại ngủ để quên đi, nhưng vẫn không sao ngủ được. Tiếng gọi “Mẹ ơi!” vẳng đâu từ một chỗ nào cứ làm cho chị băn khoăn suy nghĩ mãi. Trong chiến đấu, chị đã từng chứng kiến giờ phút cuối cùng của nhiều anh em đồng đội hi sinh. Họ trầm tĩnh nở một nụ cười mà đi vào cõi chết với tất cả hãnh diện và tự hào của một công dân đã làm xong nghĩa vụ. Chỉ có hình ảnh thiêng liêng của người mẹ và tiếng gọi mẹ mới có thể làm cho họ chảy nước mắt thôi. Người anh hùng trước khi chết và đứa trẻ thơ đứng trước một nguy biến kinh hoàng nào đó, đều cũng cất tiếng gọi mẹ như nhau... Biết đâu Dũng chẳng đang tìm cách để theo anh em... Biết đâu Dũng đã bị thương kiệt sức ngã xuống rồi... Đôi mắt chị Năm cứ nhìn xuyên đêm dày, như muốn lục tìm xem người gọi mẹ ấy đang nằm xuống chỗ nào. Cho đến khi trời sắp sáng, anh em lục tục thức dậy sửa soạn đi, chị Năm không thể đừng được nữa, cương quyết nói:
- Để tôi quay lại xem. Các anh chờ tôi chút!
- Cọp nó tha chị thì không ai biết đâu nhá! - Nghĩa nói vậy nhưng khi chị Năm đi được một quãng, anh cũng lò dò cầm súng lần theo.
Dũng nằm mê trong bụi cỏ đến lúc vừng đông. Sương thấm ướt khắp người làm anh dần dần tỉnh lại. Anh mở mắt ra nhưng vẫn không thấy gì, chỉ nghe trong tai ran tiếng gà rừng báo sáng.
Gió ban mai lành lạnh mang theo mùi hương ngát của một loài hoa lạ nào đằm vào khí trời trong suốt. Cho đến khi những tia nắng đầu tiên chiếu xuyên qua cánh rừng, rọi vào những hạt sương long lanh đọng trên đầu ngọn cỏ làm cho sương rung rung buông xuống thì mùi hương sực nức kia cũng tan dần theo hơi ấm của mặt trời mỗi lúc một nhô cao.
Dũng cố ngồi lên, nhưng lại ngã vật xuống. Cơn sốt đêm qua còn làm cho đầu óc Dũng quay cuồng, nhìn đâu cũng thấy mọi vật như đảo lộn. Hồi lâu. Dũng mới nhớ rằng mình đã bơi theo dòng sông, bám nhánh cây mà lên tới chỗ này. Dũng chống hai tay đỡ lấy ngực, ngẩng lên trông chung quanh. Cây cỏ bị giẫm đạp xuống đã ngóc đầu đứng dậy trong đêm, xóa lấp tất cả mọi dấu vết của con người đã xâm phạm đến nó, như vây nhốt lại, không cho họ tìm đâu ra lối chạy thoát.
Trong bầu không khí yên tĩnh của rừng ban mai, từ con châu chấu búng chân trong cỏ đến con chim sâu rúc rích trên vòm lá cao, mỗi tiếng động đều vang nghe mồn một. Từ nơi xa, tiếng chân giẫm sột soạt trên lá khô bỗng vẳng vào tai Dũng. Tiếng chân mỗi lúc một gần.
“Hay anh em trở lại tìm mình?” Hi vọng vừa lóe lên chợt tắt ngay trong đầu Dũng. “Làm sao anh em biết mình đang ở đây? Có thể là bọn địch đang dò theo tìm ta chăng?” Dũng sờ sờ bên hông, khẩu súng lục vẫn còn giắt trong bao da. Một sức mạnh bất thần vùng dậy trong người Dũng. Dũng chống tay ngồi lên. Trong khẩu súng, một viên đạn đã tự động lên nòng sau lúc Dũng bắn mất sáu phát vào cái máy truyền thanh vô tuyến đêm qua, và hai viên còn dưới băng.
Dũng núp sau một gốc cây, lăm lăm ngón tay trong cò súng, hướng về chỗ có tiếng động. Trước mắt Dũng, những ngọn cỏ cao xô qua xô lại, đầu cỏ động đậy vạch một đường thẳng đi dần về phía Dũng. Dũng nhìn không chớp mắt vào một chỗ cỏ thưa đợi chờ cái mõm con chó trinh sát hoặc cái mũ vải của một tên địch ló ra. Lùm cỏ vừa ngả rạp, Dũng nâng mũi súng lên, bỗng buông rời ra khỏi tay:
- Chị Năm! - Dũng chỉ kịp kêu lên có hai tiếng.
Sự xúc động đột ngột giữa lúc thần kinh đang hết sức căng thẳng đã làm cho Dũng ngất đi.
•O•
Ninh đã đoán chắc rằng trước sau gì Dũng cũng tìm được cơ hội trốn thoát khỏi bọn địch, nhưng gặp Dũng, Ninh vẫn cảm thấy như một chuyện không ngờ. Anh em cáng Dũng lên vai, tiếp tục hành trình, trong khi Dũng bị trận cảm nước vẫn còn mê man chưa tỉnh. Mỗi ngày, chị Năm tiêm cho Dũng mấy mũi thuốc. Nhờ sự tận tâm chăm sóc của mọi người, ba hôm sau Dũng đã bình phục, khập khiễng bước được theo anh em.
- Tôi đã phá hủy được cái máy truyền tin vô tuyến của chúng.
Đó là câu Dũng thốt ra đầu tiên khi tỉnh dậy, làm cho tất cả mọi người mừng rỡ reo lên. Sau đó, Dũng lần lượt thuật lại đầu đuôi câu chuyện từ lúc mình bị thương, được đồng bào đưa về trạm dân y thế nào, bị địch bắt trong trận càn ra sao... Khi Dũng kể đến lúc gặp thằng Khả ở Phòng Nhì, thì Ninh vỗ bàn tay còn lại vào trán, kêu lên:
- Có phải hắn là tên chột mắt mà cậu đã thốt ra trong cơn mê sảng lúc bị thương nằm tại quân y không?
- Chính nó đấy. Nó có tật hay nheo một bên mắt trái như nhắm súng mỗi khi nhìn một người nào mà nó không ưa. Tôi ghét cái kiểu nhìn người như thế, nên đã gọi nó là thằng chột trong khi mê man... Khi đồng chí chính ủy hỏi thì tôi lại không nhớ ra, vì nó có chột mắt đâu.
Và Dũng lại tiếp tục kể. Tới đoạn bị Lưng Gấu tưởng lầm là Dũng phản bội theo địch, đã bắn Dũng như thế nào, thì mọi người cùng thở ra một lúc và ai cũng đưa mắt nhìn nhau.
Nghĩa cúi mặt xuống. Cái đêm Dũng bị bọn địch bắt đứng ra gọi anh em, Nghĩa cũng đã nâng súng lên. Trong một chớp mắt nữa thôi, không có bàn tay Ninh ngăn lại thì Nghĩa đã giết oan một đồng đội của mình rồi!
Anh em ngồi im chăm chú lắng nghe Dũng kể cho đến dứt câu chuyện.
- Tôi tưởng không còn gặp được anh em. Thật không ngờ!
Mặc dù Dũng chưa khỏe lắm, nhưng trên đường gấp rút tiến về địa điểm kho 5 cũ, Dũng luôn luôn lên trước mở đường.
- Bọn địch bị cắt đứt liên lạc với bọn chỉ huy ở Biên Hòa, như con cua gãy càng. Nhưng lực lượng chúng so về người và vũ khí, vẫn còn mạnh gấp mấy đội chúng ta. - Ninh vừa đi vừa bàn với Dũng. - Hơn nữa, chúng đã nắm được trong tay tấm bản đồ, đang đuổi theo chúng ta bén gót. Theo ý tôi, khi đến kho 5, chúng ta nên chia làm hai toán. Tôi sẽ ở lại chặn chúng dọc đường. Dũng đưa một số anh em đi trước.
- Nếu cần thì tôi sẽ ở lại đây chiến đấu. - Dũng đáp. - Đồng chí là chỉ huy, linh hồn của đội, đâu có thể tách ra như vậy được.
- Nhiệm vụ trước mắt của chúng ta là phải chiếm trước kho vũ khí, không để lọt vào tay địch. Khi đi, chúng ta cũng đã chuẩn bị sẵn sàng đối phó với mọi khó khăn trở ngại dọc đường, nhưng chúng ta vẫn không lường được phải lâm vào một tình thế bị động như vầy.
- Đồng chí là đội trưởng, cấp trên đã giao trách nhiệm...
Ninh quay sang nhìn vào mắt Dũng, cắt ngang bằng một giọng đanh thép:
- Trách nhiệm chỉ huy? Tất nhiên! Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm với cấp trên về vấn đề này. Chính vì vậy mà tôi ra lệnh cho đồng chí phải đưa anh em đi trước. Chỉ có đồng chí biết rõ đường từ kho 5 đến kho vũ khí. Còn tôi? - Ninh đưa cánh tay còn lại hất mớ tóc ra sau. - Đồng chí lo cho tôi à? Trừ phi tôi mất nốt cánh tay này, chúng nó mới có thể đuổi kịp theo anh em ta. Kìa, sao lại cúi mặt xuống? Dũng, cậu có nghe tôi nói không? Hãy nhìn vào đây. Trong chiến đấu, đừng để tình cảm mềm yếu làm cho chúng ta do dự.
Anh em đi sau nghe Ninh và Dũng to tiếng một lúc. Khi thấy Dũng cúi đầu lặng lẽ đi sát bên Ninh thì mọi người đều biết là Ninh đã quyết định như vậy rồi.
Chẳng phải Dũng không nhớ lời đồng chí chính ủy căn dặn lúc lên đường: “Trong bất cứ trường hợp nào, tiếng nói của Ninh cũng là mệnh lệnh”. Nhưng Dũng thương Ninh quá. Chặn địch bằng bấy nhiêu người? Tất nhiên Ninh có thừa can đảm làm được việc ấy với một cánh tay còn lại của anh. Nhưng liệu rồi anh em có còn gặp lại nữa không?
Nghĩa quay sang nói khẽ với Ngư:
- Mình sẽ ở lại với đồng chí Ninh. Phát súng đầu tiên, nhất định sẽ cho “thằng chột” vĩnh viễn không còn nhìn thấy ánh sáng trên mặt đất này!
- Chưa biết ai sẽ được chọn. Nhưng mình thì mình thấy cần và nhất thiết phải ở lại chặn chúng nó. - Ngư vừa nói vừa cúi mặt xuống. - Mình phải gỡ lại...
Không ai nhận thấy đôi môi Ngư mấp máy, run run như toan nói ra một điều gì nhưng lại thôi không nói nữa.
Những con suối đã bị mặt trời nóng bỏng làm khô cạn, và đất khát cũng đã hút nốt những giọt nước còn đọng lại trong mấy cái vũng cuối cùng. Cây trút xác lá chết phủ mất lối dò độc nhất của con người khi lạc vào rừng, làm cho đội truy tầm chật vật mãi mới tìm ra được vị trí của kho 5.
Cây găng mọc từng chòm rậm rịt trên nền đất cũ, vươn cành tua tủa đầy gai nhọn lên nền trời tai tái. Mặt trời đã xuống khuất bên kia ngọn núi phía Tây. Ánh sáng nhờ nhờ của một ngày sắp tắt còn vương trên mấy lá găng xanh, cây cỏ héo rũ mệt mỏi cúi gục xuống, rung rung trong hơi thở nhẹ của rừng chiều. Một mảnh bát vỡ nằm trơ trọi chỗ góc bếp ngày xưa, anh ánh lớp men đục như tròng mắt người nằm dưới cỏ khi nghe tiếng động chợt hé mắt nhìn ra.
Ninh bồi hồi nhớ lại những ngày cũ, lúc anh em trong ban quân nhu trung đoàn đang ở Lồ Ô, được gọi cấp tốc đi xây dựng những cái kho giữa chốn rừng bụi ngút ngàn này... Chung quanh, nhìn đâu cũng thấy cây. Nhưng phải lặn lội hàng mấy cây số chặt cây ở nơi khác đem về cất kho, sợ máy bay trông thấy dấu cây bị hạ gần quanh sẽ tìm ra mục tiêu ném bom. Hồi đó, tình báo chúng cũng phong thanh nghe ta sắp mở chiến dịch lớn ở vùng tam giác ba biên giới Việt - Lào - Miên, nên ngày nào máy bay trinh sát của chúng cũng lượn khắp vùng này tìm dấu vết bộ đội ta. Lương thực chuyển đi ban đêm theo đường sông Đa Dung tới, đưa lên bộ, chở xe bò xuyên rừng tới bốn năm mươi cây số... Anh em lại phải vác từ vùng ranh cấm vào đến đây mươi cây số nữa. Bao gạo bốn mươi cân xẻ đôi, mỗi người vác một nửa, trừ những đêm tối trời phải đốt đuốc đèn chai soi đường, còn thì cứ nối nhau người này bám sát người kia, mò đi trong ánh trăng. Một người cầm “đèn soi nhái” theo sau nhặt từng hạt gạo rơi. Ban ngày, anh em chui vào lùm bụi nằm vật ra ngủ như chết, khỉ trên cây trèo xuống dỡ rá cơm ra ăn ngay bên cạnh chân. Mặt trời vừa lặn, lại tiếp tục vác đi. Mỗi lần đi qua những vùng đất trảng, lại phải trồng cỏ lại, có khi phải tưới nước cho cỏ xanh để lấp dấu mình vừa đi qua. Một hạt gạo đưa đến đây, đổi bằng bao nhiêu mồ hôi và máu. Anh em công binh cũng cầm súng tác chiến như mọi người khác. Họ luôn luôn hăng hái quên mình vì nhiệm vụ. Bây giờ, khói lửa đã thổi dạt họ đi khắp mọi chiến trường. Nhiều đồng chí đã hi sinh, số anh em ngày cũ không còn lại mấy người... Chỗ góc bếp này, đêm nào bác Tấn già cũng ngồi bên đống lửa gác súng lên vai, nhìn ra ngoài rừng tối đen, sợ voi đến phá kho. Những đàn voi hàng mấy mươi con, thấy nhà mới dựng, đêm cứ chạy vòng quanh... Lúc đồng chí Hòa tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 7 đến mượn ba người lính ở kho đi, bác Tấn vác súng ra một quãng còn quay trở vào bỏ mấy củ khoai giống vào ống bương nhét nút lại, sợ chuột phá. Người lính già, cần cù chịu thương chịu khó nhất trung đội ra đi bận ấy, không quay về nữa...
Anh em đã dừng lại giở lương khô ra ăn. Thấy Dũng cầm miếng bánh thửng 44 khô đi tới, Ninh nói:
- Cái hình ảnh bác già tôi đã nói với cậu lúc gặp nhau ở trạm 23, cậu còn nhớ không? Chỗ này đây, chính ngay chỗ này, đêm nào bác Tấn cũng ngồi thức canh ngọn lửa...
Dũng cúi nhìn xuống chỗ đất lõm đất bị đốt cháy đỏ sẫm đã rắn lại như gạch, tay bóp vụn miếng bánh khô, đứng lặng hồi lâu không nói gì. Dũng như nghe mơ hồ trong tai tiếng vó ngựa chạy lọc cọc, đầu ngọn roi chọc vào căm xe khua lách cách. Bác đánh xe ngựa già đã giắt ngọn roi trong mui, đẩy chiếc xe vào gác càng dưới chái lều lụp xụp, cầm cây súng đi chiến đấu. Chỉ mong ngày giải phóng đất nước, cuộc sống dễ chịu hơn, bác lại sẽ trở về nghề cũ, mắc ngựa vào xe chở những quả bưởi vàng của quê hương... Ước vọng tầm thường và hết sức nhỏ nhoi đó, cha Dũng đành không thực hiện nổi sao?
- Anh em ơi, có người chết bao giờ ở đây này! - Tiếng kêu đột ngột của chị Năm cắt đứt những hình ảnh và ý nghĩ đau xót đang hiện ra chập chờn trong đầu óc Dũng.
Dũng chạy theo Ninh đến dưới gốc cây săng máu, chỗ chị Năm đang gọi. Một bộ xương người nằm rũ trong cỏ, khẩu súng trường còn dựng bên cạnh gốc cây. Vài mảnh vải đen mục rơi ra nằm lẫn lộn trong mớ xương đã bị chim rỉa thịt ăn, rứt bỏ từng lóng lổn nhổn.
- Khẩu súng của trung đội công binh! - Ninh cầm khẩu súng trường kiểu ngắn của bọn lính thủy đánh bộ Pháp báng đã mục, sờ đến chỗ nào thớ gỗ rơi ra từng mảnh chỗ đó. Ninh cúi xuống, lùa tay vào mớ xương nhặt ra được hai quả lựu đạn, một cái bật lửa. - Có dấu khắc của trung đội ngày trước đây này!
Dũng trông thấy cái bật lửa, giật phăng cầm đưa lên. Vệt sáng cuối cùng của hoàng hôn sắp tắt soi vào cái nắp vỏ thau đóng một lớp rỉ xanh, còn hiện lờ mờ những đường khắc hình con ngựa mà ngày xưa bác Tấn thường cầm mài mài vào ngực áo, nói với con: “Chẳng phải là ngựa thường đâu nhá. Đây là con ngựa biết bay của Tiết Nhơn Quý bay xuống biển cứu Đường Thế Dân đấy. Nó thuộc về ba rồi!” Giờ đây con ngựa khắc như đang chồm hai vó trước lao vào trong một lớp bụi mù tìm theo cứu người chủ cũ.
- Bật lửa này là cái bật lửa của cha tôi!
Dũng chỉ nói có mỗi câu, mặt từ từ ngước lên, hai đầu xương quai hàm nổi vồng vồng dưới mép tai xanh mét. Cho đến bây giờ, Dũng mới khóc.
Anh em trong đội đứng cúi đầu nín lặng.
- Người chết này không phải là bác Tấn đâu! - Ninh nói bằng một giọng thản nhiên, đầy vẻ tự tin của một người biết chắc nơi điều mình thốt ra.
Dũng cho là Ninh muốn an ủi mình, bèn nói:
- Hi sinh là chuyện có thể xảy ra trong chiến đấu thôi. Đâu phải vì một người thân, anh em cha mẹ của mình mất đi mà...
- Không. Chắc cậu tưởng mình nói cho cậu đỡ buồn và để cho cậu nuôi một hi vọng còn có thể gặp lại ông già cậu một cách vô ích chăng? Chúng ta đâu cần cái kiểu an ủi giả dối đó. Tôi quả quyết rằng ba người lính của trung đội công binh do đồng chí Hòa mượn đi ngày ấy đã đến kho vũ khí. Đây là một trong ba đồng chí đó. Tôi nói không phải là bác Tấn, vì khẩu súng của bác đeo là khẩu súng trường kiểu Anh, và bác không hề mang lựu đạn bao giờ. Chắc cậu cũng biết, tay phải bác Tấn không ném lựu đạn xa được. Một là đồng chí này, - Ninh trỏ xuống đống xương, - được hai người kia phái đi tìm đồng đội sau một thời gian đợi chờ ở kho vũ khí lâu quá mà không thấy anh em đến. Hai là anh chàng trốn đi, đã đánh cắp cái bật lửa của bác Tấn, vì một lẽ gì đó không biết, anh ta đã chết ở đây.
- Đồng chí Ninh nói rất có lý. - Nghĩa vừa nói vừa đưa mắt kín đáo nhìn Dũng, dò xem tâm trạng Dũng thế nào.
Dũng đứng thần người trông xuống đống xương hồi lâu, dặng hắng một tiếng nhỏ trong cổ, nói:
- Thôi, anh em ta đào cái hố đi. Dù sao thì mình cũng phải chôn chớ, để vậy sao? Tôi nghĩ đồng chí Ninh nói có thể đúng.
Chỉ trong một thoáng, họ đã làm xong cái công việc quen thuộc của những người lính ở chiến trường đối với đồng đội tử vong.
Ninh đứng bên gốc cây săng máu, bảo Dũng:
- Ta đã mất một đồng chí ở dọc đường. Giờ đội còn lại mười người. Dũng đưa sáu anh em đi. Tôi ở lại đây với hai đồng chí nữa. Một tổ ba người có thể chiến đấu được rồi.
- Tôi ở lại với đồng chí Ninh!
- Tôi ở lại!
- Tôi ở lại!
Ai cũng đưa tay tranh nhau. Chỉ riêng chị Năm đứng lặng, thỉnh thoảng nhìn cánh tay áo rỗng của Ninh không chớp mắt.
- Không ai đi trước cả sao? - Ninh ngạc nhiên hỏi.
- Chúng tôi cùng ở lại với đồng chí...
Ninh lúc lắc cổ, nói có vẻ bực tức:
- Như vậy thì tất cả đội ở lại hết sao? Đâu được! Tôi chưa bao giờ thấy đội viên không tuân theo lệnh chỉ huy...
- Như trường hợp này, - Nghĩa nói lấp ngang lời Ninh, - Chẳng thà cùng chết với nhau, chớ anh em không nỡ để anh ở lại một mình.
Ninh rất cảm động trước tình đồng đội sống chết không rời ấy, nhưng anh cố giữ vẻ mặt nghiêm nghị nói:
- Hoàn thành nhiệm vụ là vấn đề trên hết. Chúng ta ai cũng sẵn sàng hi sinh. Nhưng các đồng chí nghĩ sao nếu như cả đội chết hết mà kho vũ khí ấy vẫn lọt vào tay địch, trong khi chúng ta có thể vừa chặn chúng ở đây vừa đưa một bộ phận tới đó chiếm trước chúng?
Dũng đưa tay lên, nói:
- Tôi đồng ý đi. Đồng chí có thể chỉ định theo tôi hai người.
- Vậy cũng được. Thôi, đồng chí Nghĩa, đồng chí Bảy và chị Năm theo lệnh tôi, chuẩn bị đi ngay. - Giọng Ninh rắn như thép, khiến cho những người được gọi tên lập tức đứng ra, không ai dám nói năng gì nữa.
Những người ở lại xếp thành hàng đứng lặng lẽ trong tối. Dũng, Nghĩa, Bảy và chị Năm đến bắt tay từng anh em:
- Chúng ta hẹn sẽ gặp nhau ở kho vũ khí...
- Chúc may mắn! - Ninh trao cho Dũng cái la bàn, không nói thêm gì nữa.
Cuộc chia tay chỉ diễn ra nhẹ nhàng trong thoáng chớp, nhưng chị Năm cảm thấy những giờ phút này sao nó nặng nề, dài lâu hơn bất cứ một cuộc chia tay nào. Thường sau những cái bắt tay vội vàng nhưng không muốn buông ra đó, người ta không còn mấy khi gặp lại nhau.
Dũng đưa ba đồng chí đi trước với mình lội theo con suối cạn khô. Trời tối quá. Ánh sao lờ mờ chỉ đủ cho họ trông thấy lưng nhau cách mấy bước. Dũng cứ dò theo lạch cát lổn nhổn những hòn cuội bị nước mài nhẵn từ không biết bao nhiêu đời ở dưới chân mình mà đi tới. Họ đi cho đến sáng. Chung quanh chỉ thấy cây rừng và đá núi lặc lè một màu xanh lạnh lùng dữ dội. Dũng cố tìm những cây dầu con mọc theo bờ suối mà mình đã phạt ngang ngày trước, hi vọng sẽ tìm thấy những dấu chạc cây lớn lên. Nhưng rừng sâu cũng như biển rộng, có như đồng bằng đất thuộc, dễ dàng chịu bó tay khuất phục trước mọi tấn công của con người đâu! Chỉ một thời gian buông lơi ngắn thôi, nó sẽ vùng dậy xóa ngay dấu vết của mọi bàn tay đã xâm phạm đến nó.
Cái la bàn của Ninh đưa cho Dũng cầm đi, đối với Dũng như không có tác dụng gì. Dũng chỉ quen trông sao và mặt trời để tìm phương hướng. Không biết cây dương cụt đứng ở ngọn đồi nào, mặc dù nó là cái cây cao nhất bị sét đánh mất ngọn, nhưng từ thật xa người ta cũng dễ dàng nhận ra ngay. Tìm được cây dương cụt thì kể như tìm được lối dẫn vào kho vũ khí. Dũng và Nghĩa thay nhau trèo lên cao ngóng nhìn về phía mặt trời mọc, nhưng chỉ thấy những đầu cây lô nhô xanh biếc vờn lên như sóng dưới ánh nắng chói chang.
- Chị Năm đi đâu mất rồi? - Nghĩa bỗng kêu lên khi anh vừa từ trên một ngọn cây tụt xuống.
- Chị Năm ơi... Chị Năm!
- Quái, mới vừa lúc nãy chị ấy còn đi sau tôi đây mà!
- Chị Năm ơ...ơ...ơi!
Bảy và Dũng vừa hú gọi vừa ngóng tìm quanh quất. Chẳng nghe tiếng đáp, cũng chẳng thấy chị đâu.
Nghĩa đứng chống nạnh, mặt lầm lầm không nói gì.
- Kìa, cậu này sao cứ đứng im, lạ vậy? - Bảy ngạc nhiên hỏi.
- Gọi làm gì nữa. Cọp nó vồ bả 45 rồi!
- Chỉ nói bậy!
- Bậy hả? Vô kỉ luật thế, khi về tôi sẽ phê bình, giã cho một trận.
- Cậu nói cái gì lạ vậy?
- Từ lúc sáng, bả cứ đi tụt lại sau. Mình đã nghi bả có ý muốn quay lại. Đáng lẽ mình phải báo cho các đồng chí biết. Nhưng lại nghĩ, bả là phụ nữ, đến năm người cũng chẳng dám đi qua quãng rừng vừa rồi. Mình bèn đe “Cọp vùng này khiếp lắm. Đừng có mà toan trốn”. Bả còn bảo lại “Anh thách tôi à? Tôi chẳng sợ đâu!” Tưởng nói vậy thôi, ai dè...
Bảy quay ngược lại. Trên lối chị vừa đi qua, có một mảnh giấy cài vào thân cây, viết nguệch ngoạc: “Tôi trở lại với anh em chặn địch ở nền kho 5. Xin chịu kỉ luật sau”.
Cô gái cứu thương độc nhất của đội không đành bỏ anh em, đã trốn quay lại rồi. Dũng gỡ mảnh giấy nói:
- Kỉ luật thì tất nhiên quá! Chúng ta đi thôi. Quay theo gọi chị ấy lại làm gì. Không còn đủ thì giờ nữa... - Nhưng bụng Dũng nghĩ “Thật là một người con gái dũng cảm!”
Ba người còn lại tiếp tục đi.
Nghĩa đi trước, trỏ tay lên, nói:
- Lúc nãy, tôi thấy ở xa có nhiều chim sáo lượn vòng một chỗ. Cứ đi về hướng đó xem sao. Loài chim này đậu ở những ngọn cây cao nhất thôi.
Dũng và Bảy theo hướng Nghĩa vạch, đạp bừa lau sậy đi tới. Đến trưa, đang đi, Nghĩa vỗ tay reo lên:
- Có đúng không? Tôi kinh nghiệm mà!
Cây dương cụt đứng trơ trụi trên một ngọn đồi, như cây trụ chỉ đường, thả những cánh chim đen bay lượn vòng chung quanh kêu những tiếng xé tai giữa trời trưa nắng.
Dũng đến đúng chỗ ngày xưa anh và đồng chí Hòa đã đứng trông xuống chân đồi.
Cỏ tranh và cây gai móc ó lá khô vàng mọc dày như đan, không nhận đâu ra dòng suối lấp lánh ngũ sắc chảy qua đám cỏ năng mịn màng như những sợi chỉ xanh ngày trước.
- Tìm theo dấu cây cỏ mực. - Nghĩa nhổ một cây đưa lên. - Cây cỏ mực chỉ mọc theo hai bên lạch nước.
Bảy nói:
- Tôi muốn đốn cây dương này. Bọn địch mò đến đây thì cũng còn lâu. Mất ngọn cây chỉ đường, chưa chắc chúng nó tìm được ngọn đồi này.
Bảy nói có lý. Nhưng cây dương to hơn hai vòng tay ôm, chặt bằng dao thì cũng phải mất cả tuần lễ.
- Thôi, ý kiến đó để... sang năm hãy thực hiện. Bây giờ nên đi gấp thôi! - Nghĩa nói.
Theo kinh nghiệm của Nghĩa, họ tìm dấu cây cỏ mực đi tới. Đi một quãng, Bảy bỗng kêu lên:
- Tôi thấy chỗ nào cũng có cây cỏ mực. Nó mọc tràn lan khắp nơi. Cứ gì lạch nước!
Nghĩa đứng tưng tửng. Dũng cúi xuống nhặt một hòn cuội đen chùi vào áo. Trên mặt vải bị hòn cuội xát qua, bết một lớp bụi nhờn, kê lên mũi ngửi thấy mùi dầu.
- Con suối đã chảy qua đây. Cứ dò theo những chỗ có cuội đen mà đi.
Họ chui trong cỏ, vạch tìm dấu. Chốc chốc, Bảy lại reo lên: “Đây rồi!” Dũng và Nghĩa lại theo chỗ có tiếng kêu chạy tới.
- Sao mà y như một cuộc đi bòn vàng vậy, các cha!
Anh em bắt đầu cười nói râm ran. Họ sắp tới kho vũ khí rồi. Sắp đến vạt đất bằng có ba cây dương thấp trồng theo hình tam giác ngày trước, Dũng vừa trèo lên vừa nghĩ bụng: “Ba cái cọc xanh ấy, dễ đã cao có đến mười mấy thước rồi!”
- Sao lạ thế này?
Dũng đưa tay dụi mắt mấy lần. Có lẽ đây là lần đầu tiên, Dũng không tin nơi thị giác của mình. Mặt đất trần trụi phơi lưng dưới nắng, chỉ có những con châu chấu đất màu xám nghe động bước chân người vụt bay lên rào rào.
Nếu bị gió ngã đổ thì ít ra cũng còn lại dấu thân cây mục chớ? Ba người tìm mãi vẫn không thấy gì. Hồi lâu, Dũng nghe có tiếng chuột đồng kêu chí chí, bèn quay lại. Bên nấm đất tổ chuột đùn lên, ló ra một nhánh dương con, chòm lá mới to hơn bàn tay.
Dũng chạy tới, quì xuống bươi đất ra xem. Gốc cây dương bị đẫn ngang mặt đất, chuột đến đào hang dưới đó, đùn đất lên, đất đã lấp gốc lại, nhờ vậy mà cây không chết. Còn hai gốc cây kia, nắng mưa và gió cát đã xóa đi vĩnh viễn rồi. Dũng cầm dao đào nát chung quanh vẫn không tìm được cái nón sắt chứa những viên cuội trắng chôn giữa ba gốc cây dương hồi nọ.
- Bọn địch cũng đang sống chết tìm đến kho vũ khí này. Như vậy là chúng chưa tới đây. Không lẽ ba đồng chí ở trung đội công binh đã xóa mất dấu tìm vào để chịu chết ở đấy?
Dũng nghĩ mãi không ra. Anh đứng chỗ gốc cây dương còn lại, quay nhìn bốn phía. Bốn chung quanh là đồi. Biết ngọn đồi nào? Giá gặp một cơn mưa to thì Dũng nhắm mắt cũng đi đến chỗ hầm chứa súng trung liên được. Anh nghĩ: “Nước mưa đọng lại, chảy qua đó. Mỡ bôi súng trôi theo... từ mé núi đổ xuống triền đồi như vạch một đường thẳng...”
Dũng gọi anh em lần theo mặt đồi phía trước đi thẳng tới. Đất sỏi rắn như gạch ở triền đồi, cỏ mọc lưa thưa không lấp mất vết suối khô, nên họ đã tìm được ngay sau đó.
Hì hục trèo lên tới mé núi, mò đến khe cũ thì Dũng lảo đảo đưa tay vịn vào gộp đá kêu lên, giọng như lạc đi:
- Ai bốc mất cả rồi!
Cái hầm rộng ăn vào lòng núi to gần bằng năm, bảy gian nhà, há miệng đen ngòm trống hốc. Dơi bay loạn hàng bầy, những cặp mắt đỏ ngời như những viên hồng ngọc chiếu ra giữa ánh đèn pin lia vào, vụt sáng, vụt tắt, khiến Dũng ngơ ngẩn như lúc tỉnh dậy còn bàng hoàng nhớ tiếc cái kho báu đã tìm gặp trong giấc chiêm bao.
