
Trong lúc Dũng cứ mò mẫm lục tìm trong cái hốc đá một cách tuyệt vọng thì Nghĩa và Bảy đứng trước hang tì tay lên đầu súng ngóng về hướng có tiếng súng nổ.
- Quay lại thôi, mày ạ! - Nghĩa nói.
- Có mỗi sáu người và một cô phụ nữ mà phải đương đầu với gần một trung đội địch. Còn chúng ta thì lại đứng không ở cái xó hang trống rỗng này!
- Thì cứ quay lại đi!
- Không được đâu. Còn phải chờ ý kiến của Dũng. Dù ở đây cậu ta trẻ tuổi nhất, nhưng là đội phó, chỉ huy chúng ta. - Bảy nói, giọng đắn đo.
- Nghe tiếng súng, tao sốt ruột quá, không chịu nổi.
- Thôi, cố tìm chút nữa, may ra có dấu vết gì không....
Cả hai chia nhau đi mỗi người một hướng. Hồi lâu, bỗng nghe tiếng Nghĩa từ dưới một lòng khe gọi lên:
- Anh em ơi. Xuống đây, xuống đây!
Ánh đèn pin loang loáng chiếu lên vách đá tai mèo cho người trên thấy lối bám tụt xuống.
Nghĩa cầm một băng đạn tiểu liên giơ lên cho Bảy xem. Băng đạn đen ngòm, có khắc mấy chữ Nhật Bản còn loáng bóng mồ hôi tay người.
- Tao nhặt được dưới khe này. Nhất định có người còn quanh quẩn ở đây! - Nghĩa nói cách quả quyết.
- Hay là bọn thổ phỉ đã bắt gặp cái kho này. Chúng chuyển đi hết rồi?
- Không. Tao ngờ là của hai đồng chí chúng ta.
Nghĩa đang nói đến đấy thì Dũng vừa bám đá tụt xuống. Nghe Nghĩa kể, Dũng thấy tỉnh hẳn người lại: “Cứ dò theo lòng khe xem sao?”
Họ soi đèn đi tới một quãng thì gặp lổn nhổn một đống xương người, sọ dừa nằm lẫn lộn giữa những lưỡi cuốc chim han rỉ.
- Lạ quá! Người ở đâu chết nhiều vầy nè?
Dũng nhặt một cái sọ dừa đóng mốc meo xanh lè cầm lên xem:
- Những người này chết đã lâu lắm. Có lẽ là dân phu bị Nhật bắt chuyển vũ khí đến đây. Chúng nó đã giết họ để khỏi tiết lộ bí mật. Ngày trước, lúc đồng chí Hòa phát hiện ra cái kho này, vì vội quá, chúng tôi chưa mò xuống đây. Vả lại bấy giờ, cái khe đang đầy nước, cũng chẳng ai lặn xuống được.
Ba người tiếp tục đi tới. Lòng khe dốc ngược mãi lên. Trước mắt họ, trổ ra một lỗ trống to hơn cái nong. Họ lần lượt chui qua. Ngẩng lên, bỗng thấy trên đầu đầy sao. Hóa ra đó là một cái ngách ăn vòng ra trước cửa hang.
Họ vào trong hang nhặt củi khô đốt lên. Dơi thấy ánh sáng kêu léc chéc inh tai, đập cánh vù vù như một cơn lốc đen xoáy ra ngoài rừng tối.
Nghĩa cầm súng đứng gác bên ngoài. Tiếng súng từ hướng kho 5 lâu lâu lại nổi lên, vang dội từng chập. Nghĩa chăm chú ngóng về phía có tiếng nổ một lúc, chợt anh có cảm giác như đang bị một cặp mắt ai nhìn xoáy vào gáy, anh bèn quay lại. Bên phía trái, trong những gốc cây lờ mờ ánh sao xanh biếc, một bóng đen chạy vụt đi, biến nhanh như con vượn, tuyệt không nghe một tiếng động. Lớp rêu đóng dày như nhung quanh những gốc cây đã nuốt mất tiếng chân, dường như hai chân người kia chạy mà không chạm đến đất vậy.
- Ai? Đứng lại! - Nghĩa quát lên.
Dũng và Bảy trong hang túa ra, chiếu đèn pin lùng khắp chung quanh. Bảy nói:
- Hay là cậu hoảng quá, tự mình lại nhát mình đấy?
- Tôi trông rõ ràng mà!
Hồi lâu, không thấy gì, hai người toan quay vào, bỗng có hòn đá nảy lọc cọc từ trên cao lăn xuống, rơi trước cửa hang. Nghĩa bắn “đoàng” một phát súng chỉ thiên. Tiếng thét “Đứng lại! Ai? Đứng lại!” của Nghĩa dội vào núi đá, tan biến trong im lặng của rừng xa mù mịt.
- Lạ quá, đồng chí Dũng ạ! Nếu người của ta còn quanh quẩn đâu đây, sao họ không đến gọi mình?
Nghe Nghĩa cố nén giọng run run, Dũng hỏi:
- Cậu sợ ma à?
- Không. Làm gì có ma mà sợ. Nhưng mình vẫn thấy nó thế nào ấy, không cắt nghĩa được.
Khi Dũng và Bảy vào trong hang giở lương khô ra ăn, chỉ còn mình Nghĩa đứng bên ngoài, Nghĩa mới thấy sự hốt hoảng vừa rồi của mình thật là vô lí. Anh khóa chốt an toàn lại và ngồi xuống hòn đá. Tiếng súng xa đã tắt từ lâu. Không biết giờ đây, Ninh và anh em đang thế nào? Nghĩa cố xua khỏi đầu óc những hình ảnh ghê rợn của chiến trường khi im tiếng súng. Bên tai Nghĩa có tiếng thở phào nhè nhẹ. Nghĩa cho là Bảy ra đổi gác thay mình, nhưng anh cũng không buồn ngoái lại. Một bàn tay to và nặng đặt lên vai Nghĩa. Nghĩa cảm thấy lớp da lên chai sần sùi của bàn tay cọ trên vai áo mình rắn như một lớp vỏ cây. Anh quay phắt lại. Suýt nữa thì Nghĩa buông tay súng. Một gương mặt người tóc râu xồm xoàm rủ xuống chung quanh, đang nhìn Nghĩa bằng một đôi mắt dò hỏi, đôi mắt ngạc nhiên hiền lành như mắt trẻ con, có một cái gì rợ rợ ẩn chứa buồn rầu bên trong:
- Anh em... đến tìm tôi... phải không?
Nghĩa không kịp nói gì. Sự mừng rỡ và xúc động đột ngột đã làm cho anh líu lưỡi lại.
- Tôi là... tiểu đội trưởng công binh... ở giữ chỗ này... - Người lạ mặt ấy nói bằng một giọng khàn khàn giữa cổ.
Bấy giờ Nghĩa mới kêu lên được hai tiếng “Trời ơi!”
Nghĩa cầm chặt hai bàn tay to đầy lông lá kéo vào hang.
Ánh lửa đỏ rực lung linh soi vào thân hình cao lớn của một “người rừng” tay cầm khẩu súng trường Anh, đứng sững lại giữa hang, há hốc mồm ra nhìn mọi người.
Chính là bác Tấn.
Bộ ngực trần bị ánh nắng mặt trời thiêu đốt lâu ngày đã sạm lại, hun hun một màu đồng đỏ. Lông đen dài mọc tua tủa giữa ngực, trên hai cánh tay và hai lưng bàn tay. Mỗi lúc bác rướn người lên thở thì những giẻ sườn lại nổi hằn lên dưới lớp da nhăn nhíu, khô khô mốc mốc dường như đã chết hết các tế bào. Bác mặc một cái quần đùi, không còn ra quần nữa, làm bằng một mảnh bố tời đã xơ ra như tước. Chỉ có chiếc thắt lưng da đen bóng mồ hôi mà cái khoen đồng vì cọ xát luôn hãy còn vàng chóe và khẩu súng trường cũ kĩ cầm trên tay là hai vật chứng tỏ rằng kẻ đứng đó là một con người. Đôi mắt nhìn không chớp vào ngọn lửa từ từ nhắm lại. Và khi hai vành mi nhấp nháy mở ra, hai giọt nước mắt long lanh trong suốt từ hai khóe mắt răn reo động đậy lăn rơi xuống đôi gò má hóp.
- Tôi là ... Nguyễn Văn Tấn!
Từ lúc bác Tấn bước vào, Dũng không kịp nhận ra người này là ai. Nhưng trong đôi mắt phảng phất giống đôi mắt cha mình ngày trước, tim Dũng đã bắt đầu đập mạnh trong lồng ngực. Đến khi nghe câu ấy chưa thốt hết, thì Dũng đã lao tới ôm chầm lấy bác Tấn.
- Dũng đây! Con của ba đây! Trời ơi, lâu nay con cứ tưởng là ba...
Người cha như bị một vật gì bất thình lình chạm mạnh vào tim, choáng váng, phải ngửa người ra sau cho khỏi ngã. Hai bàn tay to lớn nâng cằm đứa con lên, bác cứ đứng im như vậy một lúc lâu nhìn vào mặt con. Bảy và Nghĩa thì há hốc mồm ra trước cảnh tượng đột ngột, không ai lường trước được.
Hai mắt bác Tấn bấy giờ mới chớp chớp. Dường như bác còn ngờ đây là cuộc gặp gỡ trong giấc chiêm bao. Những ngón tay chai của bác run rẩy lùa vào tóc con, xoa đi xoa lại như xoa tóc con ngày bé. Những câu nói dịu dàng thắm thiết mà bác vẫn lẩm bẩm lặp đi lặp lại một mình mỗi khi nhớ tới con, giờ đây vụt biến tan đâu mất. Xúc động đột ngột làm cho cổ bác như bị nghẹn ngang. Đứa con mà bác ngỡ không còn có ngày gặp nữa, hiện đang đứng trước bác đây. Nó cao lớn, khác trước biết bao. Bác cứ nhìn mãi vào mặt con, lắp bắp:
- Dũng... Vậy mà... Ba có nhận ra con đâu!
Một lúc sau, bác mới chậm rãi cầm tay con ngồi xuống một hòn đá. Nụ cười ngượng nghịu trên môi bác vừa giống như nụ cười trẻ thơ, vừa giống như cái gượng cười của một người sắp khóc.
- Nói cho ba nghe nào, Dũng! Kìa, anh em nói chuyện đi. Nói cho tôi nghe với... Chà, lâu nay, tôi thèm nghe tiếng người quá!
- Ba ở đây có một mình hả?
- Không. Còn một người nữa... Đồng chí Trung.
- Đâu rồi! Đồng chí ấy đâu? - Nghĩa và Bảy cùng nhổm lên, hỏi một lúc.
Dường như bác Tấn không nghe, bác đang mải mê ngắm chiếc đồng hồ dạ quang đeo trên cổ tay con...
- Lâu thấy cái đồng hồ quá... Mày cho tao nghe nó chạy chút coi!
Bác vừa nói vừa cầm tay Dũng đưa lên, nghiêng tai áp vào mặt kính chiếc đồng hồ. Cái máy chạy hay quá. Y như có thằng bé tí xíu đang chống nạnh, dạng rộng hai chân, lúc lắc cái đầu, nhảy qua nhảy lại hoài một chỗ. Mà dường như nó quen với bác lắm, nó cứ nhảy qua nhảy lại khiến bác không kịp xem nó là ai. Khi bác vừa thở mạnh một cái, tức thời tiếng chân thằng bé trong ruột chiếc đồng hồ liền biến đi.
Thấy bác Tân ngẩng lên, Nghĩa bèn hỏi lại:
- Hồi nãy, bác vừa nói còn đồng chí Trung... Đồng chí ấy đâu rồi?
Trong tai bác Tấn còn vang lên nghe mồn một tiếng máy tích tắc... tích tắc... chạy đều đều như tiếng mạch đập của thời gian. Bác nói chậm rãi, bằng một giọng tưởng chừng như hết sức bình thản, nhưng người nghe thì cảm thấy giọng ấy đang bóp thắt tim mình:
- Chết rồi. Chết có hơn hai năm rồi... Ngày nào cậu Trung cũng trèo lên núi ngóng, đinh ninh rằng thế nào anh em cũng sẽ tới tìm chúng tôi... Mộ đồng chí Trung chôn cách đây một quãng rừng...
Và bác Tấn bắt đầu kể lại, giọng run run ngắt quãng từng lúc vì xúc động:
- Hồi chúng tôi đến đây tất cả là ba người. Cậu Trung, thằng Hòe, và tôi. Đồng chí Hòa bảo ở giữ cái kho vũ khí vừa phát hiện được. Chừng một tuần lễ, đồng chí sẽ trở lại. Chúng tôi chờ lâu lắm. Không ai mang theo gạo muối gì... Cũng chẳng nhớ là chờ bao nhiêu lâu. Có một số đồ hộp trong kho của bọn Nhật, chúng tôi bàn nhau lấy ra ăn dần đến hết. Thằng Hòe bắt đầu dao động, bảo chúng tôi nên bỏ về, chẳng dại gì chịu chết ở đây. Tôi và Trung không nghe. Nó nói hay là để nó và Trung về tìm anh em. Cậu Trung không đồng ý. Một hôm thấy mất nó, chúng tôi hú gọi tìm khắp nơi, sợ nó bị hổ vồ. Tìm gần nửa ngày không gặp. Trở vào hang thấy mất cái bật lửa, mới biết là nó đánh cắp cái bật lửa trốn đi rồi!
Nghĩa kêu lên:
- Thằng khiếp nhược đã chết rũ dưới gốc cây săng máu chỗ nền kho 5 cũ. Biết vậy, chúng tôi chẳng thèm chôn bộ cốt nó làm gì.
Bác Tấn quay sang Nghĩa:
- Sao đồng chí biết là nó?
Nghĩa không đáp, đưa mắt nhìn Dũng. Dũng móc cái bật lửa ra trao cho cha:
- Con đã lấy lại cái bật lửa của ba đây này...
Bác Tấn cầm cái bật lửa ngắm nghía hồi lâu, đoạn bác lau vào lớp quần bố trước khi giắt vào thắt lưng, như sợ nó làm bẩn người mình. Bác lại kể:
- May là trong đống tro bếp còn cháy mấy hòn than. Ngọn lửa còn cháy tới giờ. Đồng chí Trung và tôi giữ ngọn lửa ấy như giữ lòng tin và sự sống của mình. Chúng tôi đập đất gò mối và chọn loại cây nào cháy ít khói, đốt giữ đống lửa. Máy bay địch cũng thường qua đây luôn, nhất là mấy năm trước, vào mùa mưa nó quần vùng này dữ lắm. Sợ nó thấy khói, biết có người ở đây. Chúng tôi ngờ thằng Hòe trốn về đầu hàng, đã báo cho giặc biết địa điểm của kho vũ khí này...
Dũng cười nhạt, cắt ngang lời cha:
- Nếu nó không chết rũ xác giữa đường, thì nó cũng dám làm cái việc ấy đấy. Nhưng đã có một thằng khác còn nguy hiểm hơn thằng Hòe. - Dũng toan thuật lại chuyện tên Khả cho cha nghe, nhưng thấy ông đang kể, anh không muốn câu chuyện bị đứt quãng giữa chừng, bèn ngồi im nghe cha nói.
Bác Tấn nhìn ngọn lửa hồi lâu, như cố ôn lại những ngày sống ở đây. Bác dặng hắng một tiếng khẽ trong cổ, nói tiếp bằng một giọng buồn buồn:
- Tôi và cậu Trung mới bàn nhau chặt ba cây dương để máy bay địch không tìm ra dấu. Đồng chí Hòa có chỉ cho chúng tôi biết chỗ ấy. Hết lương thực dự trữ, chúng tôi bèn đặt bẫy và săn thú rừng lấy thịt. Chúng tôi thèm muối lắm. Hình như thiếu chất muối, mắt chúng tôi bị mờ đi. Phải đốt cây dền gai và cỏ tranh ăn thay muối. Trong hoàn cảnh nào, con người cũng phấn đấu với thiên nhiên để tự nuôi sống được. Nhưng tự mình tranh đấu với bản thân mình để xua đuổi nỗi buồn vì sống xa đồng đội, đồng bào thì thật là khó. Cho đến lúc cậu Trung bị sốt rét rừng cướp đi, còn lại mình tôi... Bấy giờ, tôi mới thấy sự cô độc thật là đáng sợ hơn tất cả mọi thứ nguy hiểm chết người trên đời này. Đôi lúc, tôi cũng chớm có ý nghĩ lội về tìm đơn vị. Nhưng tôi là một Đảng viên Cộng sản, dù chết cũng không bỏ nhiệm vụ. Nếu tôi đi, nhỡ bọn thổ phỉ tìm gặp, chúng cướp cả thì sao? Biết đơn vị đóng ở nơi nào? Trước khi thằng Hòe trốn đi, Trung có tìm về kho 5, nhưng kho đã dỡ đi lâu rồi. Nhỡ trong lúc tôi đi, anh em đến bốc khí giới đi hết, tôi trở lại thì biết đường đâu mà về? Và nếu tôi chết mất tích giữa rừng, sau này anh em có đến tất sẽ cho là tôi đào ngũ. Thằng đào ngũ và thằng phản bội hình thù có khác nhau, nhưng cũng là một dòng máu của hai anh em ruột thịt mà thôi...
Ngọn lửa cháy rừng rực giữa hang nâng cái bóng đen to lớn của bác Tấn lên, in vào vách đá như một hình người cổ đang ngồi trầm ngâm suy tưởng lại thời kì ông bà mình mới tìm ra lửa. Những người ngồi quây quần bên ngọn lửa đó cũng chẳng ai nghĩ rằng khi cầm ngọn lửa, điều khiển được nó trong tay, là lúc con người bước ra khỏi kiếp ăn lông ở lỗ, hãnh diện thấy mình là chúa muôn loài. Trong đầu óc giản dị của họ, còn có một thứ lửa đáng quý hơn. Ấy là ngọn lửa của lòng tin, chỉ cháy trong tim người sống và chiến đấu cho một lí tưởng tốt đẹp.
Bác Tấn tiếp tục nói:
- Tôi tin rằng tôi sẽ sống đến ngày gặp lại các đồng chí. Trong những ngày dài chờ đợi ở đây, đề phòng kho vũ khí có thể bị địch đến cướp đi, tôi đã chuyển tất cả sang một nơi khác. Công việc cũng chẳng dễ dàng đâu. Tôi phải vác từng khẩu súng, khuân từng hòm đạn các thứ, hết ngày này sang ngày khác, kiên nhẫn như con kiến leo núi. Lâu lâu tôi mò về đây xem có các đồng chí đến tìm mình không. Ban chiều, nghe tiếng súng nổ. Chà! Lâu lắm không nghe tiếng súng. Tiếng súng khác thường làm tôi sinh nghi bọn địch đang mò gần tới đây. Tôi đã chuẩn bị gài mìn sẵn. Cùng lắm thì tôi sẽ cho nổ tung kho vũ khí, không để lọt vào tay chúng. Khi thấy anh em đến, tôi chẳng biết là ai. Tôi núp trên cao, cho đến lúc biết chắc rằng đây là người của mình, mới bò xuống chỗ đồng chí đứng gác...
- Đúng như bác phòng xa, bọn địch đang mò đến kho vũ khí này. - Nghĩa nói. - Một số đồng chí chúng ta đang chặn chúng ở địa điểm kho 5 đấy. Đồng chí Ninh, trước là trưởng ban quân nhu trung đoàn 10 đang chặn bước tiến của bọn giặc.
- Đồng chí Ninh à? Người chỉ huy cũ của tôi đấy! - Bác Tấn vụt đứng lên một cách hết sức nhanh nhẹn, hỏi dồn. - Bọn địch có đông không?
- Một trung đội thôi, nhưng trang bị đầy đủ. - Dũng đứng ngay lên theo cha. - Khó lòng tiêu diệt được chúng ở kho 5. Nếu anh em không đánh cầm chân chúng tại đó được tới trưa mai, có thể chúng mò tới đây vào khoảng chiều mai thôi.
Bác Tấn ngó ra ngoài, “hừ” một tiếng, vặn hai bàn tay vào nhau:
- Súng đạn ở kho này còn tốt nguyên vẹn. Có cả mìn. Lựu đạn thì vô khối. Các đồng chí theo tôi. Chúng ta vác một mớ về đây. Ở chỗ điểm cao này, chúng ta có thể quét một đại đội địch.
Bàn tay của người cha bao nhiêu năm xa cách, giơ ra nắm chắc lấy tay con:
- Dũng, con đi lên trước với ba!
