
Từ sau lúc bị Dũng phá hủy cái máy truyền thanh vô tuyến và thất bại trước một tiểu đội nhỏ của đối phương, mặc dù hắn đã vận dụng chiến thuật đốt rừng và gọi cả đến máy bay trợ chiến, tên thiếu úy Lô-răng như điên như cuồng, lúc nào cũng la hét, đánh đập bọn lính biệt kích không tiếc tay.
Tại sao khẩu súng lục hắn giao cho Dũng trong băng chỉ toàn là những viên đạn rỗng mà Dũng lại có thể bắn vỡ được cái máy?
Tên biệt kích bị bắn chết đã theo cái máy hỏng trôi chìm mất dưới lòng sông, không bao giờ hắn có thể khám phá được là Dũng đã đánh tráo băng đạn. Hắn đâm ra nghi ngờ bọn lính. Nội bộ hắn bắt đầu tan rã rồi chăng? Trông đứa nào, hắn thấy cũng có thể đó là tên đã thông đồng với Dũng. Sự nghi ngờ như một chất axít cứ mỗi ngày một ăn khuyết đầu óc mà xưa nay hắn vẫn tự phụ là rắn như thép của hắn.
Thằng Khả thì lồng lộn theo chủ, chẳng khác gì con chó săn bị thương lại để con mồi chạy thoát. Hắn đã ở gần bên Dũng bao nhiêu lâu, hắn thừa biết sự can đảm ở mặt trận và lòng trung thành của Dũng đối với quân đội Kháng chiến thế nào rồi. Nó có phải là đứa khiếp sợ nhục hình và dùng tiền bạc mua chuộc được đâu. Cần Dũng đưa đường? Nó làm chậm bước tiến của đội biệt kích thì có... Tại sao tên Lô-răng ngu xuẩn này lại tin cẩn đến giao cho nó khẩu súng? Hắn mà là chỉ huy thì hắn đã cho thằng nhãi ăn một viên đạn ngay từ lúc cướp được tấm bản đồ của Việt Minh ở ngã ba sông Xoài Cóc. Hắn chẳng đã phát hiện ra vấn đề này với tên Lô-răng là gì? “Hừ! Tao biết thừa. Nhưng bây giờ phải cần có nó!” Tên Lô-răng cần có nó để nó phá hủy cái máy, cắt đường liên lạc... Càng nghĩ, thằng Khả càng ức với tên chỉ huy của hắn. “Chúng mày có bị Việt Minh tiêu diệt thì cũng mặc mẹ chúng mày. Ông chỉ lo cái kho. Cái kho ấy biết đâu chẳng có những hòm vàng khối trong đó tuột khỏi bàn tay ông...” Thằng nhãi mà chạy về được với bọn kia, chiếm trước kho thì bao nhiêu tiền bạc, mề đay, cái lon kim tuyến đang chờ đợi hắn, sẽ trở thành những sắc óng ánh rực rỡ của cái bọt xà phòng.
Hắn trút tất cả sự hậm hực ấy lên đầu bọn lính. Hắn đã bắn chết một tên biệt kích ngay trên xuồng cao su, khi tên này để rơi chìm mất bơi chèo.
Mất cái máy truyền thanh vô tuyến, không gọi tiếp viện được nữa, bọn biệt kích nhiều đứa bắt đầu lo sợ. Nhưng trước sự hung hăng của tên thiếu úy Lô-răng, nhất là tên Khả đã lên chức chỉ huy phó và lúc nào cũng lăm lăm cò súng, nheo một mắt rình chúng từng bước, bọn biệt kích không đứa nào dám tỏ ra nhụt nhuệ khí. Bọn chúng vẫn hùng hổ theo sau tên Khả và con chó trinh sát luôn luôn chạy trước dò đường.
•O•
Sáu người ở lại chia làm hai tổ. Một tổ ba người do Ngư được chỉ định làm tổ trưởng án ngữ ở mặt gò phía trái, và một tổ ba người do Ninh trực tiếp phụ trách chiếm giữ chỗ điểm cao ngay trên đầu dốc. Một đường hào cạn đào cắt ngang vạt cỏ tranh nối liền hai tổ chiến đấu. Bằng con hào đó, họ có thể bò qua lại yểm trợ cho nhau. Sau lưng họ, kéo dài một khoảng đất rộng mọc lúp xúp những cụm cây mua, và trong sâu kia là rừng cây tra dày bịt. Cái rãnh hẹp của con suối khô chạy qua khu rừng tra ấy là con đường hào thiên nhiên đào sẵn mà họ có thể dùng làm đường rút lui khi cần thiết. Về mặt bố trí địa hình chiến đấu, họ chiếm lợi thế tuyệt đối hơn địch nếu phải đương đầu với một lực lượng tương đương. Nhưng nếu bên phía địch chỉ cần có một máy bay trợ chiến thôi, chúng chẳng xung phong xung phiếc gì cả, cái ổ phục kích nằm phơi lưng trên gò cao này cũng có thể bị hủy diệt ngay trong nháy mắt.
Điều đó anh em không lo ngại mấy. Cái máy truyền thanh vô tuyến độc nhất, phương tiện liên lạc với không quân Biên Hòa, đã bị Dũng phá hủy rồi.
Bố trí xong, họ nằm nghỉ ngay trên công sự. Có thể là năm ba ngày nữa bọn địch mới mò tới. Cũng có thể là năm mười phút sau. Ma quỷ nào biết được chúng sẽ ập tới lúc nào. Anh em chỉ thay phiên nhau mỗi lần một người xuống mấy vũng mội lấy nước uống, tắm qua loa cho mát.
Lúc nào ngẩng dậy, Ngư cũng thấy cái mũ vải xanh lá ngụy trang của Ninh lấp ló trên bờ hào công sự. Mặc dù có anh em gác, Ninh vẫn không chịu nằm nghỉ. Dường như tinh thần trách nhiệm và đức tính hi sinh đã làm tăng thêm sức dẻo dai chịu đựng trong người cán bộ chỉ huy không hề có lúc nào tỏ ra mệt mỏi này.
Ngư tựa lưng vào bờ công sự, mơ mơ màng màng trông những cụm mây trắng lóa đang nhích đi uể oải trên nền trời xanh ngát. Sự vắng lặng ban trưa thường gây nên cho anh em một cảm giác buồn buồn vô cớ, và những lúc ấy Ngư thường hồi tưởng lại những ngày mình sống ở quê nhà, bên bà mẹ suốt ngày lặng lẽ ngồi vá lưới trước ngôi lều ven sông. Ánh nắng chếch rọi vào mắt Ngư làm cho anh nghe hai hàng lông mi nhột nhột, Ngư cũng không buồn kéo mũ xuống che, cứ ngồi yên nhắm mắt lại và anh ngủ thiếp đi lúc nào không biết.
Ngư thấy dòng sông Cửu Long mênh mông hiện ra trong giấc mơ, những con sóng nhẹ xạc xào gợn đùa lên bãi. Ngư mới mười lăm tuổi đang đứng cởi trần nhìn con sào cắm giữ cái rộng tôm, nước chảy quật qua quật lại như có đứa bé lặn dưới đó ôm cái chân sào mà lắc vậy. Con bé nhà hàng xóm cầm cái vợt lội theo bờ, nó bảo với Ngư là mẹ nó ốm, bỏ cơm mấy ngày rồi. Bà thèm ăn món tôm kho vơi cháo trắng. Nó lội cả buổi rồi mà chưa xúc được con nào. Ngư bèn gọi con bé đến, nắm cây kéo cái rộng lên, bắt ra ba con tôm càng xanh to bằng cổ tay đưa cho nó. Con bé vác cái vợt rột roạt ba con tôm, hí hửng chạy về. Chốc sau có người đến hỏi mua tôm. Mẹ Ngư kéo cái rộng lên thì chẳng còn con nào. Ngư giật mình nhớ ra là khi anh thả rộng xuống, anh đã quên cài nắp lại. Chiều nay lấy tiền đâu mà đong gạo? Ngư sợ quá, không dám thú lỗi mình. Mẹ Ngư đứng dậm chân trên cầu, giương cặp mắt nghi ngờ sang nhà bà hàng xóm rủa quân ăn cắp. Mùi tôm kho từ bên ấy bay tỏa ra như chọc vào mũi. Bà hùng hổ chạy lên. Ngư toan đuổi theo giữ mẹ lại, nhưng chân không nhấc lên được. Anh chưa kịp gọi mẹ thì đã giật mình tỉnh dậy...
Chiều xuống từ lâu, nhưng hơi nóng từ đất vẫn hừng hực bốc lên. Ngư đưa lưng bàn tay quệt mồ hôi ướt đẫm trên vầng trán nóng hầm. Mẹ Ngư không còn nữa. Bà đã chết trong khi anh vắng nhà, đi bộ đội. Ngư rướn người vịn vào thành đất đứng lên, nghĩ bụng: “Mình còn có biết bao nhiêu lỗi với mẹ, với anh em đồng đội mà chưa nói ra đây!” Anh có ngờ đâu, trong chốc lát nữa thôi, trước khi tắt bóng mặt trời, một cuộc chiến đấu ác liệt sẽ diễn ra, và có những điều trong mộng cũng như ngoài thực tế, Ngư không còn kịp thú ra nữa.
Tiếng Ninh từ trong công sự chỗ đầu dốc gọi sang, giọng nén xuống: “Anh em bên đó dậy chuẩn bị. Có thể là bọn địch đang tiến về phía chúng ta đấy!”
Ngư vớ vào khẩu tiểu liên, kéo cơ bẩm 46 lên đạn. Anh khóa chốt an toàn khom lưng nhìn ra. Đằng xa, trên những chòm cây xanh mọc theo rìa suối, một bầy chim sáo bay vù lên. Bầy chim lượn vòng trên cao, đáp xuống ở một chỗ gần Ngư hơn. Chốc sau, lại thấy bầy chim hoảng hốt bay tỏa ra, có mấy con đập cánh lướt vụt qua đầu Ngư kêu léc chéc inh tai.
- Địch tới gần lắm rồi. Tất cả sẵn sàng chiến đấu! - Ninh ra lệnh cho anh em, mắt vẫn không rời quãng trống ở một chỗ ngoặt của lòng suối cạn dưới chân mình.
Im ắng đến tưởng chừng như có thể nghe cả tiếng rung không khí. Một con dế chóc mái trong bụi cỏ dưới xa, lâu lâu lại cất tiếng gáy một hồi lanh lảnh. Không thấy động tĩnh gì. Lại nghe nó cất tiếng gáy lần nữa. Bận này, con dế vừa mới kêu lên mấy tiếng vụt nín bặt.
Ninh trông thấy con chó trinh sát to như con báo đen đang rạp cổ xuống, ló đầu ra chỗ quãng trống. Một thằng Tây cao lớn, cởi trần, thò tay nắm cái quai da niệt 47 cổ, kéo con chó lùi lại. Ba tên biệt kích mặc quần áo đen, cầm súng lom khom đi tới. Bàn chân thằng đi trước vướng vào sợi dây rừng mắc hai trái lựu đạn gài vừa dỡ lên. Hai tiếng nổ vang dội liền theo đó. Ninh chỉ kịp thấy trong quầng khói, một cánh tay văng lên. Tiếng súng từ phía dưới bắn lên điếc tai.
Giữa lòng suối cạn, tên thiếu úy Lô-răng đang nấp sau một mỏm đá. Hắn đưa bàn tay vỗ vỗ vào đầu con chó trinh sát nằm yên. Hắn ngó xác hai tên biệt kích chết nằm ngửa cách hắn có mấy thước và ngước lên nhìn gò đất cao, hai đầu chân mày hơi nhíu lại. Hồi lâu, không thấy có súng bắn trả, hắn quay lại bảo tên Khả đang nằm dán xuống cạnh đấy, giọng bình thản như chẳng có chuyện gì xảy ra:
- Hay là Việt Minh đã đi xa rồi? Mày lên coi?
- Không chắc đâu. Chúng nó hay nín kiểu này để đánh một cú bất ngờ. - Tên Khả ngẩng đầu lên đáp.
Hắn do dự chưa biết phải đối phó thế nào, nhưng bắt gặp đôi mắt trừng trừng của tên Lô-răng, hắn bèn chồm dậy thét to:
- A lát-xô 48 ! A lát-xô!
Mấy tên biệt kích lao tới. Chúng chạy qua trước họng tiểu liên của Ngư. Ngón tay cái của Ngư đã đẩy chốt khóa ra rồi, mà sao vẫn không nghe Ninh nổ súng. Ba thằng giặc chạy tới chỉ còn cách Ninh khoảng năm thước. Ba tiếng súng lục nổ chát chát liên tiếp, hất ba cái xác ngã lộn ra sau. Tên Lô-răng ra lệnh cho bọn biệt kích lùi lại. Chúng quạt trung liên rào rào như mưa bấc. Moọc-chê bắt đầu nã lên gò, bứng từng cụm đất hất lên trời. Ngư cứ nhắm vào những bụi cỏ động đậy dưới rìa suối bấm cò bắn từng ba phát một.
Bọn giặc tập trung sau một gò đất. Tên Khả nói:
- Đám này chỉ có chín đứa. Giỏi lắm thì chúng cũng chỉ bố trí được ba tổ tam tam. Nhưng chúng đang án ngữ chỗ điểm cao, khó xung phong lên được. Theo tôi, một là chúng ta đi tránh lối khác. Hai là chúng ta chia làm hai toán, một toán ở đây bắn cầm chừng, một toán bò vòng về phía rừng tra bao vây, đánh bọc hậu.
- Tiêu diệt chúng sớm chừng nào tốt chừng ấy. Không thể kéo dài tình trạng bất lợi phải đối phó với một nhúm Việt Minh cứ bất thình lình xuất hiện và biến đi như ma thế này. - Tên Lô-răng bảo Khả.
- Ăn uống, ỉa đái cho xong trong mười lăm phút. Mở đợt tấn công mới ngay đấy, chúng mày liệu đi thì vừa! - Tên Khả ra lệnh cho bọn biệt kích.
Trời đã tối, chưa bao giờ những tên giặc cầm dao cắt cổ người không run tay, cướp bóc, đốt phá, hãm hiếp hung hãn như một bầy quỉ khát máu người lại sợ bóng tối như lúc này. Chúng nhìn ra phía lùm bụi nào cũng thấy có những cặp mắt căm thù và những họng súng đen ngòm đang chọc về phía chúng. Đã có nhiều tên lẻn vào các hốc đá, mở nút bi đông rượu ra uống lén vài ngụm để tăng thêm can đảm, thứ rượu rởm chỉ được dùng trong lúc bị thương và khi được tên Lô-răng cho phép.
Trên gò cao, Ninh nhìn mãi xuống chỗ gò đất, vẫn không thấy bọn giặc rục rịch gì. “Có lẽ chúng nó chờ sáng mới tấn công,” Ninh nghĩ thầm. Và anh bảo anh em ngồi xuống nghỉ lấy sức cứ để mình đứng gác. Bên gò phía trái, Ngư nhấp nhổm nhiều lúc muốn bò ra. Sự yên lặng đột ngột của bọn địch làm cho Ngư nóng lòng sốt ruột không chịu được. Chúng đang toan tính gì đây? Ý định muốn bò ra thám thính dò xem tình hình địch cứ thôi thúc mãi. Ngư ra lệnh cho hai anh em trong tổ ở lại, rồi anh cầm khẩu tiểu liên trèo lên khỏi công sự. Anh bò đi một quãng, gặp xác một tên biệt kích nằm ngửa mặt lên. Hắn bị một vết đạn đúng vào giữa ngực. Bàn tay hắn còn nắm vạt áo co ro. Trong cơn đau giãy chết, hắn đã giật đứt cả hàng cúc, dường như muốn phanh áo để móc cái đầu đạn nóng bỏng đã chui vào đốt cháy cả tim phổi trong lồng ngực. Trông bàn tay hắn nắm chặt cái vạt áo kaki đen, Ngư chợt nhớ tới cái áo của mình đang bị giặc dùng làm vật cho chó đánh hơi. Một ý định chưa bao giờ nghĩ tới, vụt nảy ra trong đầu óc Ngư nhanh như tia chớp. Ngư nhổm lên trông chung quanh và gấp rút cởi cả bộ quần áo tên biệt kích, mặc ngay vào người. Anh còn lột cả đôi giày cao su của hắn mang vào chân cẩn thận. Và Ngư rút lưỡi dao rừng ra cắn ngang mồm, bò tới.
Trong tối nghe có tiếng một thằng hỏi: “Tân đấy hả?” Tim Ngư đập thình thịch. Nó trông thấy Ngư rồi chăng? Ngư nằm im không động đậy. Một giọng thằng khác đáp: “Uyên đây!” À! Khẩu lệnh của chúng là “Tân Uyên”. Ngư mím môi cắn chặt lưỡi dao bò tới. “Giết thằng Tây chỉ huy thì bọn giặc như rắn mất đầu!” Ngư có thể lợi dụng bóng tối và bộ quần áo này thực hiện việc liều lĩnh ấy và chạy thoát về được chăng? Anh không cần nghĩ nữa. Trông bóng mấy thằng giặc đi loáng thoáng dưới suối, anh liền đứng dậy, tay trái xách khẩu tiểu liên, tay phải cầm dao đường hoàng đi tới. Bằng khẩu lệnh nắm được, Ngư vượt qua hai chặng gác. Anh đã thấy bóng thằng Tây ngồi bên gò đất, bộ mặt trông nghiêng cắt rõ hình sống mũi khum khum như mỏ diều hâu quay qua quay lại giữa khoảng trống của hai lùm cây rậm.
- Tân đấy hả? - Một tiếng hỏi sát bên tai Ngư.
- Uyên! - Ngư đáp.
Tên biệt kích nghe chỉ có một tiếng “Uyên” đáp trả cộc lốc hắn bèn bấm đèn pin chiếu vào mặt Ngư. Ánh đèn pin đặc biệt chọc ba làn ánh sáng như ba sợi chỉ vừa lóa vào mắt Ngư thì tên biệt kích lùi lại, kêu lên:
- Việt Minh!
Bọn giặc nhốn nháo chạy tới. Không đứa nào nghe được hết tiếng kêu cuối cùng. Lưỡi dao rừng sắc như nước trong tay Ngư đã lia ra, phạt ngang cổ họng tên biệt kích. Hắn đổ gục xuống như một cái bị thịt ngay dưới chân Ngư. Ngư quơ khẩu tiểu liên lên bắn chưa hết nửa băng đạn, bỗng nghe nhói hai ba cái giữa ngực. Những tia lửa chung quanh Ngư vụt tắt. Trước mắt anh chỉ còn là một khoảng không tối đen. Ngư lảo đảo khuỵu xuống, bàn tay rời khẩu súng đang chúc nòng xuống cát. Bọn giặc bu quanh xác Ngư, trông bộ quần áo kaki đen, chúng cứ trố mắt ra. Những tia mắt đầy sợ hãi của bọn biệt kích cứ lấm lét nhìn nhau.
Mười phút sau, toán biệt kích do tên Khả chỉ huy bắt đầu trườn vào cỏ, bò tới...
Ninh men theo đường hào trở về vị trí, lòng nặng trĩu, đau xót chen lẫn buồn giận và bực tức không nói ra được. Khi nghe tiếng súng và bọn giặc la hét dưới suối, Ninh đã hơi đoán ra là có người của mình liều lĩnh mò xuống đó. Anh không ngờ lại chính là Ngư. Giá như Nghĩa thì còn có thể hiểu được. Từ lúc ra đi đến giờ, Ngư có bao giờ tỏ ra là một chiến sĩ vô kỉ luật, tự động làm việc gì mà không xin ý kiến của cấp trên đâu. Bát nước đổ còn không hót đầy lại được, huống chi là máu con người. Chắc hẳn Ngư đã hi sinh rồi...
Vào lúc gần bốn giờ sáng, Ninh đứng gác cằm lên bờ công sự trông xuống suối. Anh đang tập trung tinh thần chống với cơn buồn ngủ và sự mệt mỏi rã rời lúc nào cũng chỉ chực vật anh nằm xuống, bỗng nghe có một hơi thở sặc sụa mùi rượu sát bên lưng. Ninh quay phắt lại. Cái mũ vải của một tên biệt kích hiện ra bên trên mặt hầm. Ninh chỉ kịp né người tránh lưỡi dao chém phập vào bờ đất. Hai đội viên đang ngủ gà ngủ vịt dưới chân Ninh nghe tiếng động vụt choàng dậy. Tên biệt kích mất đà, rơi vào công sự. Trước khi bị đâm chết hắn còn lồng lộn cắn nát một mảnh da bên vai anh đội viên đã chộp lấy nó.
Ninh biết mình bị bao vây rồi, bèn ra lệnh cho anh em rút đi. Năm người vừa băng qua khoảng đất rộng thì bị bọn biệt kích núp trong những cụm cây mua bắn ra tới tấp. Hai đội viên thuộc tổ Ngư tiến lên trước, hi sinh ngay tức khắc. Ninh bị một viên đạn các bin từ dưới vai xuyên qua bên trên ngực. Vết thương không trúng phổi, nhưng máu ra nhiều lắm, làm cho cánh tay anh dại đi. Khi Ninh chạy tới cái rãnh hẹp của con suối cạn trong khu rừng thì anh khuỵu xuống, không nhấc chân lên nổi. Ninh bảo hai anh đội viên còn lại:
- Các đồng chí cứ để mặc tôi ở đây... Theo đường suối đi trước. Cách đây năm trăm thước, có một gò đá tổ ong. Chặn bọn địch lại đấy!
- Để tôi cõng anh đi! - Một anh tháo cuộn băng tẩm thuốc ra vừa băng vết thương cho Ninh vừa nói.
- Không... Để lại cho tôi mấy quả lựu đạn! - Giọng Ninh đã yếu nhiều hơn trước.
- Hai đồng chí cứ để anh Ninh đó, tôi lo cho. - Tiếng người con gái quen thuộc bỗng thình lình vọng ra từ trong tối.
- Chị Năm đó hả? - Anh đội viên đang đỡ Ninh mừng rỡ kêu lên.
- Tôi đây!
Ninh rướn người dậy, hỏi:
- Anh em đã tới chưa? Sao chị quay lại?
Chị Năm giằng lấy mối băng trong tay anh đội viên, tiếp tục băng vết thương cho Ninh:
- Có lẽ các anh ấy đã tới rồi!
- Sao lại có lẽ? - Tiếng Ninh đã bắt đầu phều phào, cố gượng hỏi.
- Đi được nửa đường, tôi trốn quay lại. Tôi không đành lòng để anh em ở đây mà...
Một loạt súng trung liên lấp ngang lời chị Năm đang nói. Tiếng hò hét và tiếng lựu đạn nổ vang dội ở chỗ Ninh vừa rời đi. Chị Năm dìu Ninh đứng lên, nhưng Ninh không còn đủ sức đứng được nữa. Trong bóng tối, con chó săn trinh sát vẫn gầm gừ sủa oang oang.
- Các đồng chí... rút ngay đi... chặn chúng! - Ninh chỉ nói được có thế. Anh thiếp đi trong tay người nữ cứu thương.
Chị Năm ghé vai cõng đồng chí chỉ huy của mình trèo lên bờ đất, bò rẽ ngang vào rừng.
Hai anh đội viên cầm súng mò theo đường rãnh chạy bươn tới. Họ đều có cái linh cảm như biết trước rằng chẳng bao giờ mình gặp lại anh em đồng chí nữa. Điều đó, chẳng những không hề làm họ run sợ trước cái chết, mà còn biến thành một sức mạnh lạ lùng khiến cho cả hai đều trấn tĩnh giữ vững vị trí chiến đấu, chặn đứng bọn địch tại gò đá tổ ong tới viên đạn cuối cùng. Họ còn dùng lựu đạn vừa rút lui vừa chiến đấu cho đến khi mặt trời gần đứng bóng mới chịu hi sinh.
Con đường Dũng vừa đi qua hôm trước còn để lại những dấu vết rành rành. Tên thiếu úy Lô-răng cũng thừa biết rằng hắn chưa phải đã hoàn toàn hủy diệt được cái lực lượng nhỏ đáng sợ này của đối phương. Nhưng dù sao, chiến thắng vừa rồi cũng làm cho hắn vênh vang tự đắc:
- Tiến tới! Về Biên Hòa tao sẽ cho mỗi đứa thăng lên hai cấp. Lấy được vàng thì vợ con chúng mày tha hồ mà đánh bạc nhé!
Bọn biệt kích chưa bao giờ trông thấy viên chỉ huy của mình ra lệnh vừa cười đùa như thế bao giờ. Với một thứ bản năng và trung thành của súc vật đối với chủ dấy lên trong người, bao nhiêu lo âu sợ hãi về cái chết bất ngờ đang rình mò chung quanh bị hình ảnh những thoi vàng mười hiện ra chói lọi xua tan đi, bọn chúng hùa theo tên Lô-răng nói cười, la hét inh ỏi, ầm ầm chạy tới.
Khoảng xế chiều thì bọn chúng kéo đến khoảng đất trống chỗ ba cây dương xanh bị đẵn mất. Không cần giở bản đồ ra xem nữa. Đã có con chó trinh sát ve vẩy đuôi chạy theo dấu chân còn in lờ mờ trên cát. Tên thiếu úy Lô-răng cho cả bọn dừng lại:
- Chúng mày phải tỏ ra là những người lính biệt kích can trường, xứng đáng. Trận chiến đấu này, tự chúng mày quyết định tương lai của chúng mày. Một là chức tước, tiền bạc, mề đay. Hai là nhà tù. Tưởng chúng mày cũng thừa thông minh để chọn lấy một trong hai điều đó. A lê! Cho tất cả uống rượu. Nhưng không được uống say đấy!
Còn một điều thứ ba, quan trọng nhất, là cái chết, thì tên Lô-răng không nói đến. Tên Khả đã mang máng cảm thấy điều đó đang đợi chờ hắn trên mỏm núi đá kia. Nhưng ma lực của những tia vàng nhấp nhánh cứ như hút hắn phải lao tới khiến hắn không còn thì giờ để nghĩ đến cái chết nữa. Hắn cầm bi đông trong tay nhấm nháp từng chút, như một tay thưởng thức rượu sành sỏi. Hắn chỉ uống vài ngụm để ấm người thôi. Bây giờ đâu phải là lúc nên uống nhiều. Hắn cần có đủ tỉnh táo và sáng suốt trong trận quyết định cuối cùng tại kho vũ khí này.
Nửa giờ sau tên tên thiếu úy Lô-răng ra lệnh nã moọc-chê lên núi. Gần như có bao nhiêu đạn, những tên biệt kích say rượu mang ra bắn không tiếc tay.
- Con kiến cũng không chạy thoát phen này!
- Mẹ nó, tao chỉ sợ “lát-xô” lên, chỉ gặp toàn xác chết. Chẳng đánh đấm gì thì buồn lắm!
Bọn chúng bắt đầu tiến tới, vừa chạy vừa bắn. Ba khẩu trung liên quạt không ngớt tiếng. Men rượu và mùi thuốc súng làm cho cả bọn hăng lên, nghe lửa bốc rừng rực trong đầu, đứa nào cũng cảm thấy chân tay ngứa ngáy, thèm mùi máu, muốn xông vào một cuộc chém giết ngay tức khắc. Sống chết đối với chúng lúc này không có nghĩa gì, miễn là được sát phạt một trận cái đã.
Tên Khả chạy trước dẫn đường. Trèo qua khỏi dốc đá, hắn trỏ cái cửa hang, hô to: “A-lát-xô!” Trong khi cả bọn lao tới, thừa lúc những cụm khói moọc-chê vừa bắn ra chưa tan hết, hắn lùi lại nấp sau một hòn đá to.
Những tiếng mìn kinh thiên động địa nổ rền liên tiếp xô hắn ngã chúi, tưởng chừng như đá dưới chân hắn sụt cả xuống. Trung liên từ trên núi bắn xuống từng chặp ba phát một, quét nốt những tên còn sống sót đang cố bò lộn lại. Tên Lô-răng và con chó trinh sát trúng mìn, tan xác tại chỗ.
- Nó đó! Nó đó, núp sau gộp đá!
Tên Khả nghe rõ ràng tiếng Dũng nói trên cao, mặc dù tai hắn còn ù lên vì tiếng mìn chát chúa vừa rồi. Hắn thu người lại, nằm im không nhúc nhích.
- Thằng Khả có đứng lên không? Mày chắp cánh cũng không trốn thoát được nữa rồi! - Dũng nhô ra cầm hòn đá trứng ngỗng ném xuống.
Nghe tiếng lăn lọc cọc, tên Khả tưởng lựu đạn, vùng dậy chạy vòng sang bên kia gộp đá. “Đứng lại!” Tiếng quát bất thình lình của Nghĩa và mũi súng đen ngòm chọc ra từ một hốc đá cạnh bên, bắt hắn chôn chân tại đấy. Hắn từ từ đưa hai tay lên, mặt tái xanh tái xám, nhưng vẫn đảo mắt nhìn quanh. Mặt trời bắt đầu xuống khuất sau những dải núi phía Tây. Chưa bao giờ hắn cầu mong cho đêm tới bằng lúc này, chỉ còn có bóng tối, bạn đồng lõa duy nhất có thể cứu hắn chạy thoát thôi.
- Bỏ tất cả vũ khí trong người ra! - Nghĩa quát.
Tên Khả lần lượt tháo mấy quả lựu đạn và hai khẩu súng lục đặt xuống chân. Hắn loay hoay mãi vẫn chưa cởi được cái bao da giắt con dao găm thắt vào xanh-tuya-rông 49 .
- Nhanh lên! - Nghĩa lại thét vào tai hắn.
- Tay chân tôi run quá, cởi không kịp, xin đồng chí thư thả cho tôi...
- Thằng phản trắc! Không ai đồng chí đồng rận gì với mày!
Tên Khả rút con dao găm nhanh như chớp, đâm ngược mũi nhọn vào chỗ tiếng nói vừa phát ra sau lưng hắn. Nhưng Nghĩa đã có cảnh giác rồi, anh quật nòng súng các-bin đánh bật lưỡi dao văng ra khỏi tay hắn. Thừa lúc Nghĩa mất đà, loạng choạng, Khả co giò vụt chạy. Hắn nhảy qua mấy hòn đá, uốn lưng như con rắn, toan bò vào một cái khe.
Một bàn tay to lớn như cái kìm sắt kẹp gáy hắn lôi dậy:
- Mày quay mặt lại, coi ai đây?
Tên Khả chớp chớp mi mắt từ từ quay lại, ngước mắt lên hoảng hốt nhìn bác Tấn. Hắn đã nhận ra người cha nuôi hắn trong con người khiếp đảm hình dung cổ quái, râu tóc xồm xoàm này. Hắn run run cặp môi xám ngoét nói không thành tiếng:
- Trời ơi! Ba ơi! Ba đó hả?
- Tao không “cha con” gì với mày!
- Con lỡ lầm mới theo chúng nó. Xin ba sinh phúc tha cho con lỡ dại một lần đầu.
Nghĩa chạy tới giơ báng súng lên, toan nện hắn mấy cái cho đỡ tức. Bác Tấn đưa tay ra ngăn lại. Vừa lúc ấy, Dũng và Bảy cũng xách súng chạy đến, đứng vây chung quanh.
Bác Tấn nhìn tên Khả từ đầu đến chân, thở hắt ra một hơi dài như trút cái khối nặng đang đè trong ngực mình.
- Mày chắc không ngờ lại gặp ông cha nuôi mày tại đây hả? Mày còn muốn nói gì trước giờ phút đền tội này không?
Tên Khả đã bắt được nỗi đau khổ trong lòng bác Tấn qua tiếng thở dài. Tính gian quyệt của hắn lại tỉnh dậy. Hắn vờ mếu máo:
- Có thằng Dũng đây, ba hỏi nó coi. Có phải lúc nào nó bị bắt ở Biên Hòa, con đã nói với nó “Tao có gặp ba thì tao cũng quay mũi súng tránh, hoặc bắn chỉ thiên thôi!” Ba không tin, ba hỏi lại coi.
- Nhưng tao thì tao phải bắn mày! - Bác Tấn gầm trong cổ, quát to lên.
Rồi bác dặng hắng một tiếng khẽ, nói bằng giọng trầm hẳn xuống, đượm đầy chua xót:
- Trước kia tao cứu mày thoát chết. Bây giờ chính tay tao lại giết mày. Không phải tao muốn sát nhân làm gì. Bởi tao đã cứu nhầm một con rắn độc. Mà này, mày có phải là con người nữa đâu. Mày nghĩ lại xem, mày đã gây bao nhiêu tội ác và tổn hại cho kháng chiến. Những năm tao sống ở đây vẫn chưa bù đắp và chuộc được cái lỗi đã cứu mày! Giết mày bây giờ là muộn lắm...
Tên Khả quì sụp xuống, hai tay chắp trước ngực:
- Bề nào thằng Khả này cũng là con của ba. Ba đã cứu con, xin ba tái tạo con một lần nữa. Con nguyện theo ba, làm trâu làm ngựa suốt đời...
Nghĩa co chân đạp tên phản trắc ngã xuống đất, nói như quát:
- Trâu ngựa là những con vật có ích. Còn mày, mày là một con rắn độc!
Nòng súng các-bin trên tay Nghĩa chúc xuống. Một tia lửa chớp. Tiếng nổ đã kết thúc đời tên phản trắc, vừa lúc hắn nghe xong tiếng phán cuối cùng.
...Ánh lửa từ hang đá chiếu ra một vầng sáng hồng như mặt trời mọc đột ngột trong đêm. Một cơn lốc nhẹ thổi qua, cuốn theo cả mùi thuốc súng, bay đưa tản ra rất xa trong rừng rậm tối đen.
Bác Tấn cầm khẩu súng, bước ra ngoài hang đá:
- Dũng ở đây trông chừng. Ba quay lại chỗ kho 5 tìm các đồng chí. Cậu Nghĩa đi với tôi!
Núi rừng im lặng lắng nghe từng hơi thở dồn dập và tiếng chân người thoăn thoắt bước trong đêm.
Hè 1961