
Đội của Ninh lặn lội hơn nửa tháng rồi mà vẫn chưa tìm được lối ra ngã ba con sông Xoài Cóc. Bản đồ chỉ vạch rõ đường từ ngã ba sông này về hướng kho 5 đến kho vũ khí.
Mưa ào ào dội nước ngày đêm xuống những rừng tre gai góc bịt bùng. Anh em trong đội vài người thấm mệt. Nhưng tất cả mọi người đều cố gắng đi tới. Họ lặn lội đi như vậy có khi hàng bốn năm ngày không thấy ánh mặt trời. Trong cái đại dương mênh mông một sắc xanh cây lá không thể dò này, mặt trời là mốc duy nhất để con người tìm ra phương hướng. Nhưng họ chẳng thấy mặt trời đâu cả. Nếu như không có cái địa bàn của đồng chí chính ủy trao cho Ninh lúc lên đường thì có lẽ họ cứ loay hoay mãi giữa rừng, không bao giờ ra được tới sông.
Mưa trút nước xuống chẳng khác nào một con đê vỡ tự trời cao. Áo đi mưa hầu như không còn tác dụng gì. May lắm thì vừa đủ che ba lô quần áo và lương thực, súng ống đạn dược khỏi ướt. Nước lạnh như băng ngấm vào đến tận xương tủy. Mỗi người đội một tàu lá chuối, ngược hướng gió dò dẫm từng bước đi tới.
- Thật chẳng khác gì chúng ta đang mò dưới cái hồ nổi sóng. - Chị Năm vừa nói vừa run, hai hàm răng cứ khua lập cập.
Chung quanh là mưa trắng mịt mù. Cây cối chìm trong một màn nước. Các nhánh lá cây trên đầu người gầm gào như một lớp sóng xô lên lượn xuống, mỗi lúc một dữ dội. Được vài hôm ngớt mưa, nắng lấp lóe chưa đủ khô quần áo thì trời lại đổ nước xuống.
Nước ngập từ ngang ống chân, lên dần đầu gối. Mực nước lên rất nhanh. Ninh trông những cành khô, củi mục xô theo lá vàng trôi ngược về phía đội đang đi tới, anh bám một tay vào thân cây, kêu lên:
- Sắp ra đến sông rồi. Nhưng không thể đi được nữa. Anh em dừng lại thôi!
Nghĩa từ lúc bị mưa đến giờ, ban đầu còn liến láu trêu đùa anh em, sau vì lạnh quá, anh cứ mím môi nín hơi ầm à ầm à trong cổ. Khí lạnh hít vào, bị dồn nén xuống, làm cho tim đập mạnh đưa máu bốc lên đầu, khiến ngực anh thấy ấm lên. Nghĩa bày cho anh em. Đôi người bắt chước làm theo, nhưng chỉ được một chốc, họ đã phá ra cười: “Sao mà như cọp bị mắc nước gào rống vầy nè!”
Nghe đội trưởng ra lệnh dừng lại, Nghĩa cởi súng, ba lô trao cho anh em. Bây giờ mới là lúc Nghĩa trổ nghề. Anh cắn con dao rừng sắc như nước ngang miệng, trèo thoăn thoắt lên cây như con vượn. Anh chặt những nhánh cây to, xô gác lên những cành cây khác mọc chung quanh thành một cái giàn. Một số người chặt nứa đưa lên làm sạp. Chẳng mấy chốc, họ đã dựng được túp chòi cao bám vào lưng chừng một thân cây to, như tổ chim khổng lồ treo lủng lẳng chiếc thang dây.
Khi mọi người đã đặt lưng nằm xuống thì họ đều cảm thấy như không thể ngồi dậy nổi. Mấy người mệt bắt đầu lên cơn sốt. Chị Năm hết lòng lo cho anh em. Những câu an ủi dịu dàng và bàn tay chăm sóc của cô thanh nữ làm cho các anh em ốm phấn chấn lên, nhờ vậy mà họ đã vượt được cơn đau tưởng không còn đủ sức lê bước.
Nước lên có đến hơn bốn thước. Chỉ còn chừng năm tấc nữa thì mực nước dâng ngập lên tới chòi. Cũng may, nước lại bắt đầu rút xuống.
Trời đã hơi tạnh. Nghĩa trèo lên các ngọn cây bắt chim non về làm thịt cho anh em ăn. Những con giang sen 24 non chưa phủ lông cánh, còn viền mép vàng trong khóe mỏ, đã to bằng con gà mái đẻ. Cò, diệc, cả chim gõ kiến rúc trong bộng cây, Nghĩa cũng bắt được. Anh em ăn liền mấy ngày thịt tươi xáo với măng rừng, lá cách, người nào cũng thấy tỉnh hẳn. Họ rất thèm cơm. Chưa bao giờ hình ảnh những cánh đồng cuốn sóng lúa vàng xô tận chân trời của quê hương Nam bộ lại gây lên nỗi nhớ da diết như bây giờ.
Nhờ có cây giá, cây mù u mọc gần đấy nên trong lều, củi đun, củi sưởi ngày đêm cháy không không ngớt lửa. Đó là hai loại cây chặt xuống, thớ gỗ tiết ra một chất nhựa hăng hăng, đem đốt cháy được ngay.
Ninh đứng ra ngoài chòi xem trời. Nắng vài hôm nữa, lũ xuống hết, có thể tiếp tục cuộc hành trình được. Anh hết ra đứng ngắm bóng nắng lại vào loay hoay mở nắp ống thiếc, cắm cúi trên tấm bản đồ.
Ban đêm, anh em mang vũ khí ra lau, mỗi người kể một vài chuyện chiến đấu cũ của mình; cho đến khi ngọn lửa lụi dần mới chịu đi nằm nghỉ.
Nước rút xuống nhanh một cách trông thấy. Mấy hôm sau đội lại tiếp tục lên đường. Trời trở nắng to, dường như mặt trời dồn cả sức nóng để sưởi ấm cho mặt đất và vùng rừng ngập mọc dày những cây cổ thụ bị dầm chân trong mưa giá suốt tháng nay. Gió hình như cũng đã dốc hết lực trong những trận cuồng phong, đã kiệt sức rồi, giờ không còn lay động nổi một chót cỏ mềm. Rừng ngạt thở trong bầu không khí hầm hập đứng im phăng phắc, lâu lâu mới nghe vang vọng tiếng chim hồng hoàng không biết từ hướng nào vẳng đến.
Họ vượt qua những bãi tranh bị mưa dìm rạp xuống. Nước xăm xắp ống chân, nóng bỏng như sắp sôi lên. Đi một chốc, mọi người lại phải chạy. Chạy thì chân càng bị lún sâu xuống bùn. Đành cắn răng bì bõm lội vòng theo một bờ đầm mọc đầy cây chà là rừng. Bước sơ ý một chút là có thể bị những chùm gai đâm vào gan bàn chân nát như xăm mứt gừng.
Chị Năm đang cắm cúi lội bì bõm bỗng lùi lại la lớn:
- Trứng vịt nước nhiều lắm, anh em ơi! - Chân chị vừa giẫm lên một cái gò đất nổi mô mô như cái thúng trẹt úp cạnh gốc cây chà là thì từ dưới lớp đất mỏng trồi ra một đống trứng vỏ trắng. Chị cúi xuống nhặt một quả đưa lên, gọi anh em.
Ngư từ phía sau trông thấy, quát một tiếng lớn, giọng hoảng sợ:
- Chạy tránh mé nước! Chạy mau!
Chị Năm còn đứng đó, chưa biết lí do gì mà Ngư lại tỏ ra khiếp hãi như vậy thì Ngư đã xô tới nắm tay chị, lôi giật lại. Từ dưới lớp cỏ mục nổi lều bều trên mặt đầm, một con cá sấu màu xám, dài có hơn bốn thước đang trừng 25 lên, chạy xộc vào, vung đuôi quật đúng chỗ chị vừa rời đi. Sức quật mạnh đến nỗi cây chà là bật gốc, đổ sầm xuống mé nước. Con cá sấu chống hai chân trước, há họng chơm chởm những cái răng khía nhọn hoắt như răng cưa, chồm lên ổ trứng. Gai lưng nó đóng rêu xanh lè, điểm những vằn hoa, vỏ hà bám trắng lỗ chỗ.
- Để tôi cho nó một phát, lấy thịt ăn! - Nghĩa giương súng lên.
- Thôi, kệ nó. Chúng ta đi đi thôi! - Ninh nói nhưng mắt vẫn không rời con vật bò sát đã sống dưới nước dễ đến trăm năm. Cứ trông cái “bừu” 26 to như cái bát cùng thân hình đồ sộ của nó, thì ước lượng con cá sấu này cũng phải nặng đến nghìn cân.
- Ở vùng tôi, con nít trông thấy trứng cá sấu nó cũng biết. - Ngư nói. - Lớn hơn trứng vịt, dài độ bảy phân. Cá sấu đẻ vào khoảng tháng Bảy dương lịch. Nó cắn nhánh cây hoặc lá cỏ tha về, dùng hai chân trước nhồi lẫn vào bùn, làm tổ. Đẻ từ ba mươi đến sáu mươi trứng. Đẻ xong, nó phủ lên một lớp đất ướt và nằm rình giữ tổ không xa, cách chừng mười thước thôi. Vô phúc cho người nào gặp tổ cá sấu mà lớ ngớ đứng đó...
Chị Năm mặt tái xanh tái xám, đứng nhìn con cá sấu há họng nằm đấy.
- Nhưng không có thứ mẹ nào đoảng và vô trách nhiệm như con vật này. - Ngư nói tiếp. - Hễ nó thấy một con trong trứng nở chui đất bò ra, thì con mẹ bỏ tổ trứng đi nơi khác. Kể như hết bổn phận rồi. Bầy sấu con tự kiếm sống lấy. Cho nên, một tổ chỉ sống được vài ba con thôi. Nếu như sấu mẹ biết giữ gìn con thì có lẽ khắp ao đầm sông rạch, chỗ nào chúng ta cũng không dám thọc chân xuống...
Chị Năm đi dè dặt từng bước, mắt nhìn chỗ nào cũng thấy đất nổi gồ gồ như cái thúng úp. Chị là người đi tránh xa mé nước nhất. Gần xế, đội truy tầm mới ra tới bờ sông.
Cơn lũ vẫn chưa xuống hết, dòng nước vẫn ầm ầm chảy xiết đỏ ngầu phù sa từ nguồn cao đổ xuống, trông đến chóng mặt. Nước cuốn theo từng bụi tre khổng lồ bị nhổ bật cả gốc rễ, cành xanh củi mục trôi phăng phăng, đội cả từng đám rêu to nổi lên như gian nhà.
Tình hình này chưa thể qua sông được. Trong khi chờ nước xuống, Ninh ra lệnh cho anh em chặt chuối và tre nứa đóng bè. Chiếc bè to tướng có thể chở nổi một trung đội, được kiềng bằng dây mây rất chắc, phải làm cật lực cả hai ngày mới xong.
Ninh cắn tay áo rỗng trong mồm, đứng nhìn dòng sông. Ngàn xanh bốn phía. Không nhận nổi đây thuộc về quãng nào. Ngã ba sông Xoài Cóc nằm giữa một vùng rừng mọc dày những cây xoài cổ thụ. Có lẽ đội đi chệch hướng, lọt ra một vùng trên địa điểm ấy. Nghe động tiếng dao búa chặt cây vang rừng, từng đàn chim chẽo chẹt lao quanh như những mũi tên xanh trên mặt nước mênh mông, bay sang bờ kia. Ninh không thấy một chiếc lá xoài nào từ nguồn trôi theo nước xuống. Anh thảo luận với anh em. Toàn đội mười người đều nhất trí thả bè cho xuôi xuống một quãng mười cây số thăm dò xem sao.
Đề phòng bè có thể bị lật, tất cả hành trang và súng ống được buộc chặt vào những dóng tre ngang, trừ khẩu tiểu liên thì giao cho Ngư đứng gác lái bè.
Bè vừa ra đến một phần ba sông bỗng nghe thấy ầm ầm từ thượng lưu vẳng xuống mỗi lúc một gần. Lũ lại đổ xuống do mưa thình lình tận những miền xa mà ở đây mọi người không lường trước được. Luồng nước xô chiếc bè quay tròn băng băng trôi đi. Bơi chèo làm bằng những thanh tre bổ đôi đã trở nên bé nhỏ như cọng tăm nhang, không còn đủ sức điều khiển chiếc bè đang lao nhanh đến chóng mặt ấy.
Mây đen cuồn cuộn bay lướt trên ngọn cây, đe dọa một cơn dông khủng khiếp sẽ kéo tới sập xuống đầu mọi người. Và điều đó họ đã không tránh khỏi. Một tiếng sét nổ chát tai như xé toạc lớp mây dày, tuôn xuống cả một biển nước lơ lửng trên tầng cao.
Gió quật cánh tay áo rỗng của Ninh, vù vù như muốn xé rút ra. Anh hò la, điều khiển mọi người kìm vững bơi chèo cho bè khỏi bị lật và vào bờ. Chị Năm ngồi giữa, bám chặt thanh tre ngang, không ngớt tiếng động viên anh em.
Thình lình mọi người nghe Ninh hét lên một tiếng khủng khiếp. Trước mặt họ chừng hơn ngàn thước, mặt sông như bị một lưỡi dao vô hình khổng lồ chặt ngang, biến mất.
- Buộc dây an toàn vào người. Gặp thác đằng kia rồi!
Chiếc bè lao như một mũi tên, dần dần chúi mũi xuống và bất thình lình đổ ụp. Chị Năm rú lên một tiếng thất thanh, nhắm hai mắt lại. Chiếc bè quay lộn. Tất cả mọi người bị hất văng khỏi bè, dìm trong bọt sóng sôi réo sùng sục.
Trời đã tối. Trong ánh chớp xanh lè, những cái đầu người nhô lên chìm xuống, vật vã chống lại luồng nước của con thác dữ đang gào thét muốn bứt mấy con người bé nhỏ này ra khỏi những sợi dây giữ họ với cái khối cây độc nhất mà nó không sao nuốt được.
Ngư như một con rái cá, là người đầu tiên phăng dây chèo được lên bè. “Phải cứu phụ nữ trước hết!” Anh quơ tay mò được đầu dây an toàn của chị Năm, dốc hết sức kéo lên. Mặt người con gái hiện ra trên đầu sóng. Bỗng nghe Ngư thét gần vỡ cổ họng:
- Ngụp xuống, tránh cây gỗ!
Anh vừa kịp thả cuộn dây. Tiếng kêu lấp mất giữa những tiếng sét rền kinh thông động địa.
