Dạ Hành Thực Lục (Bộ 2 Tập)

Lượt đọc: 1032 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 21
hơn 600 học sinh thức trắng đêm, bà chủ cửa hàng tạp hóa biết chân tướng vụ việc

Mùng 2 tháng Mười hai năm 2016, tôi theo Chu Dung tới dự buổi quyên góp ủng hộ tại một trường cấp hai ở ngoại ô. Trong suốt quá trình hiệu trưởng phát biểu, tôi để ý học sinh dưới sân khấu đều vô cùng mệt mỏi, thậm chí chẳng có sức nói chuyện riêng, hoàn toàn không giống trẻ con tuổi này. Bấy giờ, tôi không hề hay biết bí mật của ngôi trường này.

Buổi quyên góp do mẹ Chu Dung đề xướng. Bà là một Phật tử rất năng làm việc thiện. Nghe bạn bè nói thành phố Yên có một trường học dành riêng cho con cái của người ngoại tỉnh lên đây làm thuê, học sinh đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, mẹ Chu Dung thương người, bắt con trai tới ủng hộ 200 nghìn tệ để cải thiện bữa ăn cho các em học sinh.

Trước đó, mẹ Chu Dung đã có lời với nhà trường. 10 giờ sáng mùng 2 tháng Mười hai, tôi và Chu Dung lái xe xuống phía Nam, đến nơi sau hơn ba tiếng đồng hồ. Ngôi trường này rất dễ nhận ra với bờ rào bằng đất (thấp đến nỗi đàn ông trưởng thành dễ dàng trèo qua), cổng trường quay về phía Bắc, bên trái cổng là tên trường được viết bằng phấn: Trường Trung học cơ sở dành cho con em lao động ngoại tỉnh Dục Hưng.

Hiệu trưởng là một người đàn ông ngoại ngũ tuần hói đâu. Ông đứng ngoài cổng đón chúng tôi, bắt tay rồi dẫn cả hai đi tham quan trường.

Chúng tôi đến đúng lúc hết tiết. Các em học sinh mặc đồng phục xám nhạt đi lại trên sân trường nền đất, một giáo viên ở đó trông chừng. Bên phải sân là nhà vệ sinh lộ thiên, mấy cô bé cao hơn một mét đứng xếp hàng trước cửa. Tôi và Chu Dung vào nhà vệ sinh nam ngó thử, thấy vệt nước tiểu két đen dưới đất. Bên trái sân là tòa nhà phòng học cao hai tầng. Ô cửa sổ bên phải trên tầng hai bị vỡ, phải che lại bằng bạt ni lông. Bên trái tòa nhà dựng tấm bảng đen ghi tên các học sinh xuất sắc của tuần vừa rồi, góc phải đề dòng chữ “Chăm chỉ học tập, tiến bộ mỗi ngày” bằng phấn đỏ.

Trước tòa nhà phòng học là cột cờ tổ quốc bằng gỗ cao ba, bốn mét hơi xiêu vẹo, lá quốc kì bay phấp phới có phần cũ kĩ.

Tầng một có 12 phòng học, tầng hai là kí túc xá. Kế bên tòa nhà là nhà ăn rộng rãi nhưng đơn sơ. Theo như lời giới thiệu của hiệu trưởng, các em học sinh ở nội trú trong trường.

Nói chuyện một lúc, hiệu trưởng ngỏ ý tranh thủ buổi thể dục giữa giờ để tổ chức lễ trao tặng. Chu Dung một mực phản đối, nhưng hiệu trưởng bảo đã báo với giáo viên và học sinh xong xuôi, “Các em học sinh nắm thông tin cả rồi, cậu không nể mặt tôi thì cũng nên nể mặt các em chứ?”

Chu Dung đành đồng ý.

Sau khi bài thể dục theo nhạc kết thúc, hiệu trưởng bước lên chiếc bục thô sơ làm bằng khung sắt dựng trước cột cờ xơ xác, cầm loa nói một tràng giang đại hải lời cảm ơn nhà hảo tâm rồi mời Chu Dung lên bục phát biểu. Tiếng vỗ tay uể oải lộp bộp vang lên dưới sân khấu. Chu Dung bước lên bục nói ngắn gọn: Hi vọng sẽ cải thiện được bữa ăn cho các em học sinh, giúp các em khỏe mạnh cao lớn.

Chu Dung còn chưa dứt lời, một cậu bé ngồi dưới đã lăn ra ngất xỉu. Mấy học sinh đứng cạnh dìu cậu bé về kí túc xá.

Hiệu trưởng trao đổi với một giáo viên rồi bảo chúng tôi, “Không sao đâu, em ấy hơi mệt thôi. Ta cứ tiếp tục đi.” Nói rồi, ông cầm loa, phát biểu tiếp về việc ủng hộ.

Thấy cậu bé ngất xỉu, tôi mới nhận ra có gì đó là lạ bên dưới sân khấu. Các em học sinh đều hết sức mệt mỏi. Không ai nói chuyện riêng, cũng chẳng em nào đùa giỡn, chỉ liên tục ngáp ngắn ngáp dài. Lạ quá, trông không giống trẻ con mười mấy tuổi đầu chút nào.

Theo lời hiệu trưởng, chương trình học của trường không nặng, giờ đóng cửa và tắt đèn ở kí túc xá cũng sớm sủa, việc các em lờ đờ thế này là hết sức vô lý. Đây là trường nội trú, đa số phụ huynh học sinh sống ở vùng ven hoặc công trường. Trừ một số cực ít trường hợp ngoại trú ra thì phần lớn các em đều ở trong trường. Con cái có biểu hiện bất thường, người nhà cũng rất khó phát hiện. Tôi quyết định tìm hiểu xem nhà trường có hành vi ngược đãi, trừng phạt thể xác hoặc bắt ép học sinh lao động để kiếm tiền cho trường không.

Hiệu trưởng phát biểu xong cũng đã gần 11 rưỡi. Ông giải tán học sinh, mời tôi và Chu Dung tới nhà ăn của trường dùng cơm, cho biết hôm nay ông đã cẩn thận nhờ đầu bếp chuẩn bị cơm canh tươm tất hơn. Bữa trưa “tươm tất” gồm canh thịt cừu và bánh chiên, cũng khá ngon. Tôi ăn vội hai cái bánh rồi đánh mắt ra hiệu cho Chu Dung và bảo hai người cứ nói chuyện, tôi đi vệ sinh cái đã.

Chu Dung cầm chân hiệu trưởng, còn tôi ra nhà vệ sinh, thấy một cậu bé đeo kính, dáng nhỏ con đang xếp hàng trước cửa nhà vệ sinh nam. Tôi tiến lại hỏi, “Em ơi, sáng nay lúc tập thể dục anh thấy các em hơi mệt, mấy hôm nay trường mình có đại hội thể thao à?”

Cậu bé đáp, “Không ạ, tại mấy hôm nay ngủ không ngon.”

“Sao lại ngủ không ngon?”

“Ơ thì... ngủ không ngon là ngủ không ngon thôi ạ, em có việc nên đi trước đây.” Dứt lời cậu bé chạy mất.

Tôi lại hỏi thêm năm học sinh, ba em miệng kín như bưng, hai em cũng bảo ngủ không ngon nhưng không chịu tiết lộ lý do. Học sinh cả trường ngủ không ngon, sao mà lạ thế.

Thấy không hỏi được gì, tôi trở lại nhà ăn. Chu Dung vẫn đang tán gẫu với hiệu trưởng, tôi ngồi xuống, nói chen vào, “Ban nãy tôi đi vệ sinh, nghe mấy em học sinh nói đêm ngủ không ngon, trường mình tổ chức hoạt động gì à?”

Hiệu trưởng húp miếng canh thịt cừu và phủ nhận, “Chắc buổi tối các em ấy nghịch ngợm trong phòng nên mới thiếu ngủ.”

Không khai thác được thông tin hữu ích, tôi đành lái xe rời đi cùng Chu Dung. Đến đầu đường, tôi bảo Chu Dung dừng xe. Cậu ta phanh lại, “Anh Từ, ban nãy anh ra hiệu cho em giữ chân hiệu trưởng làm gì vậy?” Tôi tiết lộ cho cậu ta suy nghĩ của mình: học sinh trường này hơi bất thường nên tôi muốn điều tra nguyên nhân.

Chu Dung gật đầu, “Được thôi, mình điều tra từ đâu đây?”

Tôi chỉ vào hàng tạp hóa ở đầu đường, “Đi mua bao thuốc đã.” Chu Dung lấy thuốc lá trong khay để đồ, “Khỏi phải mua, em vẫn còn.”

“Động não đi cho tôi nhờ, cậu nghĩ tôi vào đấy chỉ để mua thuốc lá à? Chúng ta điều tra từ hàng tạp hóa.”

Chủ hàng tạp hóa trước cổng trường thường quen thân với vài học sinh và giáo viên, nắm rõ mọi việc xảy ra trong trường. Họ thân thiết cả với đám đầu gấu. Hồi tôi học cấp hai, bọn đầu gấu toàn gửi nhờ vũ khí ở hàng tạp hóa trước cổng trường, vì không tiện mang theo người. Có hàng tạp hóa còn bán những thứ đó cho học sinh. Trường học có vụ đánh nhau nào thì chủ hàng tạp hóa luôn biết đầu tiên.

Vùng ven thành phốamp; thường có những hàng tạp hóa kiểu này. Chủ cửa hàng luôn biết đủ chuyện trên trời dưới đất.

Chúng tôi đỗ xe ở lề đường, bước vào hàng tạp hóa. Một phụ nữ trung niên mặc áo khoác hoa đang ngồi xem ti vi ở quầy thu ngân cạnh cửa. Thấy tôi và Chu Dung, chị ta đứng dậy hỏi mua gì. Chúng tôi chọn hai bao thuốc lá đắt nhất. Lúc tính tiền, tôi bắt chuyện, “Chị ơi, chị cho em hỏi với. Họ hàng của em đang làm thuê ở thành phố Yên, định xin học cho con. Em thấy trường này là trường nội trú, cũng khá phù hợp. Không biết vào có dễ không chị?”

Chị ta đáp, “Dễ lắm, cứ đưa cháu tới thẳng đó là được.”

“Có cần năm loại giấy tờ không?”

“Chẳng cần.”

Chu Dung xen vào, “Liệu trường này có ổn không anh Từ? Em thấy mấy nhóc học sinh đứa nào cũng lờ đờ uể oải, điều kiện ăn ở tệ quá hay sao ấy?”

Tôi quay sang nhìn bà chủ, hỏi có phải thế không. Chị ta đáp, “Không phải đâu, do có hai cô bé mấy ngày nay không về trường nên tối qua trường tổ chức cho học sinh tìm kiếm quanh đây đến tận nửa đêm.”

Chu Dung hỏi, “Thế sao không báo cảnh sát?”

Bà chủ lắc đầu, “Báo cái gì mà báo! Bố mẹ chúng nó hầu như toàn lao động trong thành phố, hầu hết đều theo chân đội thợ xây, nay ở thành phố Yên, mai có khi ở nơi khác. Chuyện học sinh hôm trước vẫn đi học bình thường, hôm sau đã không tới trường nữa không phải hiếm. Chuyện thường ở huyện ấy mà.”

Tôi hỏi chị ta nhà trường đã nói chuyện với phụ huynh chưa, chị ta lắc đầu đáp không biết, chỉ biết hai cô bé mất tích tên là Mạnh Thu Nguyệt và Lâm Hoan, hai đứa là bạn cùng phòng.

Chúng tôi trở lại xe, Chu Dung châm thuốc lá, “Sao họ lại không báo cảnh sát nhỉ?” Tôi không trả lời thẳng mà hỏi cậu ta có biết năm loại giấy tờ gồm những giấy tờ gì không. Cậu ta lắc đầu, tôi bèn giải thích rằng trẻ con vùng khác muốn học ở thành phố Yên cần nộp năm loại giấy chứng nhận, lần lượt là:

1. Giấy xác nhận công tác, lao động tại thành phố Yên của bố mẹ hay người giám hộ trên pháp luật của trẻ em đủ tuổi đến trường;

2. Giấy chứng minh nơi cư trú hiện tại ở thành phố Yên;

3. Sổ hộ khẩu;

4. Giấy đăng kí tạm trú tại thành phố Yên;

5. Giấy chứng minh không thuộc diện bị giám sát tại địa phương do ủy ban phường hoặc ủy ban nhân dân tại xã, thị trấn nơi đăng kí hộ khẩu thường trú cấp.

Không có năm loại giấy chứng nhận này đừng mơ làm học bạ. Ngoài ra, mỗi khu vợc tại thành phố Yên lại có những yêu cầu khác nhau, phải thỏa mãn điều kiện mới được học trong thành phố. Trường này không đòi hỏi năm loại giấy tờ, cũng chẳng đưa ra điều kiện kèm theo, làm sao mà làm học bạ cho học sinh được. Cũng có nghĩa đây là “trường chui”.

Nhằm kiểm chứng phòng đoán này, tôi truy cập vào trang web của ủy ban Giáo dục thành phố Yên, tra cứu xem ngôi trường này có tồn tại không. Câu trả lời là không.

Chu Dung ngạc nhiên, “Gì thế này, trường học mà cũng có ‘trường chui’ á?”

Tôi đáp, “Đương nhiên, với lại e là mẹ cậu đổ tiền xuống sông xuống bể rồi.”

Trước kia tôi từng đọc một bài phóng sự đặc biệt về trường học dành cho con cái của lao động ngoại tỉnh. Trong số đó có rất nhiều cơ sở không đủ điều kiện thành lập trường dân lập, chỉ là “trường chui”. Mấy năm trước, thành phố Yên từng tổ chức rà soát nghiêm ngặt và yêu cầu đóng cửa, dỡ bỏ 24 cơ sở.

Nhiều người mở trường học kiểu này không phải vì công ích mà nhằm kiếm tiền. Họ coi trường học như cơ sở kinh doanh. Theo phóng sự trên, sau khi khấu trừ các khoản chỉ tiêu, mỗi năm họ thu về hai, ba trăm nghìn tệ lợi nhuận. Cộng thêm 200 nghìn tệ mẹ Chu Dung ủng hộ, lợi nhuận năm nay có thể vượt con số 500 nghìn tệ.

Chu Dung chửi thề, “Nên chúng mới không báo cảnh sát!”

Tôi gật đầu, báo cảnh sát thì khả năng cao sẽ bị chính quyền phát hiện là nhà trường không đáp ứng điều kiện dạy học và yêu cầu đóng cửa. Hai cô bé học sinh hoặc đã mất tích, hoặc cũng có thể chỉ cùng người nhà chuyển đi nơi khác. Kể cả các em mất tích thật thì hậu quả cùng lắm chỉ là trường học bị đóng cửa, nên họ chọn cách không báo cảnh sát.

Chu Dung căm phẫn, “Lũ khốn! Bà chủ hàng tạp hóa cũng nên báo án chứ, sao cái đám này không có chút lòng thương người nào thế!”

“Hàng quán quanh đây phụ thuộc cả vào trường học. Trường mà đóng cửa thì họ cũng khỏi làm ăn.”

Giờ chuyện quan trọng nhất là tìm cho ra tung tích của hai cô bé kẻo xảy ra chuyện không may thật.

Một số người trẻ thích giết thời gian ở quán bida.

Tôi và Chu Dung xuống xe, xem xét khu vợc quanh trường. Nơi đây hoang vu hẻo lánh, chỉ lác đác mấy quán ăn nhỏ và hàng tạp hóa chuyên bán cho học sinh, gần như không có bóng người. Từ hàng tạp hóa đi thẳng về hướng Đông khoảng hơn 100 mét là gặp một quán ăn nhỏ. Ngoài biển hiệu ra, bên cạnh quán còn dựng một tấm biển nhỏ khác, đề: Tầng hầm: phòng bida.

Theo kinh nghiệm của tôi, quán bida gần trường học thường là địa bàn tụ tập của đám đầu gấu học đường. Tôi và Chu Dung quyết định vào xem thử. Dân đầu gấu chẳng bao giờ tuân thủ nội quy trường học. Nhà trường nghiêm cấm lan truyền thông tin, vậy thì khai thác tin từ mấy nhóc này sẽ dễ hơn các học sinh bình thường nhiều.

Tôi và Chu Dung bước vào quán ăn rồi đi xuống cầu thang phía hông nhà, vào phòng bida.

Căn phòng tối tăm, nồng nặc mùi thuốc lá, ánh đèn vàng vọt chập chờn. Mùi thuốc lá rẻ tiền khét khét quyện với mùi ẩm mốc do thiếu ánh nắng khiến tôi hơi buồn nôn. Trong phòng chỉ bày ba bàn bida nhưng lại có mấy chục người chen chúc nhau, phần lớn là học sinh, chỉ có ba người lớn.

Góc Đông Nam phòng bida có một quầy bar, thực đơn đồ uống đề những loại nước tôi không tài nào hiểu nổi. Rượu đắt nhất ở đây mang tên “-Tình khó nắm bắt°C”, giá 19 tệ. Mặc đồng phục vẽ hình trang trí, mấy cô cậu học sinh ngồi quanh quầy bar gọi rượu và cười nói ầm ĩ, văng tục chửi bậy. Đám con trai vây quanh bàn bida hầu như đều cầm thuốc lá, lúc đánh bida thì ngậm trong miệng.

Ba người lớn đều rất ra dáng “đại ca”, độc chiếm bàn bida khá mới nằm ở góc trong cùng, ôm ấp mấy cô bé trẻ măng so với mình. Mấy cậu bé đứng quanh, hễ thấy các đại ca đánh trúng lỗ là vỗ tay hoan hô.

Chu Dung hỏi, “Anh Từ, sao em thấy mình cứ lạc quẻ thế nào ấy?”

Tôi chưa kịp trả lời, một trong ba “đại ca” ở góc phòng, mặc áo măng tô nỉ đen đã tiến lại, “Hai anh đến chơi bida hay có việc gì?”

Tôi bảo mình muốn tìm hai cô bé tên Mạnh Thu Nguyệt và Lâm Hoan, không biết họ có quen không. Anh ta đáp có, quay đầu hỏi một “đàn em” có biết Mạnh Thu Nguyệt và Lâm Hoan ở đâu không. Đàn em đáp, “Em không biết, hai con cave ấy không về trường mấy hôm nay rồi.”

Áo Nỉ Đen gật đầu, quay sang tôi và Chu Dung, “Hai anh đổi đứa khác đi. Tôi nhớ là phòng chúng nó còn một con cũng ngon, nở nang lắm. Hay chờ tan học, hai anh ra cổng trường xem thích đứa nào thì để tôi dắt mối cho.”

Chu Dung toan đáp, tôi đã cản lại, “Thế thì chọn đứa cùng phòng mà anh bảo đi.”

Anh ta đồng ý, hỏi tôi muốn đi tàu nhanh hay qua đêm, tàu nhanh thì 500 tệ, qua đêm 1.500 tệ nhưng hôm sau phải đưa về. Tôi bảo Chu Dung chuyển cho anh ta 1.500 tệ.

Trường tan học lúc 4 rưỡi chiều. Đàn em của Áo Nỉ Đen dẫn một nữ sinh mặc đồng phục tới, ra hiệu cho cô bé đi theo chúng tôi. Tôi và Chu Dung đưa cô bé lên xe, đến trung tâm thương mại gần nhất để ăn tối. Cô bé rất căng thẳng, chỉ nói đúng một câu “Gì cũng được” lúc tôi hỏi muốn ăn gì, rồi không mở miệng nữa.

Ăn xong, đưa cô bé trở lại xe, chúng tôi trấn an và bảo sẽ không làm gì cả, chỉ muốn hỏi chuyện liên quan đến Mạnh Thu Nguyệt và Lâm Hoan. Cô bé gật đầu, tôi và Chu Dung thay phiên nhau hỏi mấy vấn đề. Tôi mau chóng nhận ra cô bé thích trả lời câu hỏi của Chu Dung hơn nên im lặng, ra hiệu cho cậu ta tiếp tục.

Cô bé đúng là bạn cùng phòng của Mạnh Thu Nguyệt và Lâm Hoan, chơi thân với Mạnh Thu Nguyệt nhưng không ưa Lâm Hoan. Chu Dung hỏi lý do, cô bé nói mình và Mạnh Thu Nguyệt đều bị Lâm Hoan hãm hại.

Lâm Hoan có bạn trai cùng lớp. Hồi mới lên cấp hai, cậu ta bị đám đầu gấu lớp khác trấn lột, do không có tiền nên ăn đòn mấy lần liền, về sau, cậu ta bắt đầu giao du với bọn đầu gấu từng đánh mình, không chịu đi học, ngày nào cũng chơi bời lêu lổng ngoài trường. Để nâng cao địa vị của mình, cậu ta chuốc say Lâm Hoan, hiến cho “đại ca” mình quen ở phòng bida.

Một thời gian sau, Lâm Hoan mượn cớ tổ chức sinh nhật để mời cô bé này và Mạnh Thu Nguyệt đi hát karaoke, rồi pha thuốc vào đồ uống. Hai cô bé bị cưỡng hiếp, sau đó còn bị đánh và chụp ảnh hở hang ép bán dâm. Tính tới giờ cũng đã được hơn bốn tháng.

Chu Dung hỏi, “Thằng ở phòng bida bảo anh thích nữ sinh nào trong trường nó cũng bắt mối được, nó nói có thật không?”

Cô bé bảo chắc là thật. Trường có tổng cộng hơn 600 học sinh thì khoảng hơn 20 người là đàn em của anh ta.

Chu Dung ngờ rằng những học sinh bị làm nhục có chung một đặc điểm nào đó nên mới dễ bắt nạt thế. Tôi kể ra năm kiểu học sinh dễ bị bạo lực học đường đã được tổng kết lại:

1. Kiểu bị ghen ghét: Đạt thành tích xuất sắc, gia đình giàu có, diện mạo xinh đẹp nên bị người ta đố kị, hãm hại.

2. Kiểu kiêu căng: Ngạo mạn, coi thường người khác, ăn nói khoác lác, cư xử thiếu khiêm tốn nên dễ nảy sinh mâu thuẫn, xung đột với bạn học.

3. Kiểu tự ti: Tự thấy mình nhỏ bé, vụng về hoặc yếu ớt nên thường bị bạn bè bắt nạt.

4. Kiểu cô độc: Đi học, tan học một mình, không chơi với ai nên dễ bị cô lập, thành người bị hại.

5. Kiểu dễ bắt nạt: Gặp phải chuyện gì cũng bấm bụng chịu đựng, không phản kháng.

Nhưng nghĩ kĩ thì năm kiểu người này đã bao gồm toàn bộ các kiểu học sinh. Theo tôi, bất cứ ai trong trường học đều có thể trở thành mục tiêu bị bắt nạt.

Chu Dung gật đầu, “Chuyện Mạnh Thu Nguyệt và Lâm Hoan mất tích liệu có liên quan tới mấy tay đại ca ở phòng bida không?”

Tôi nghĩ là không, vì lúc tên hai cô bé được nhắc tới, những kẻ trong phòng bida đều cư xử bình thường. Hơn nữa gã “đại ca cầm đầu” cũng phải hỏi đàn em mới biết hai cô bé không đến trường.

Cô bạn cùng phòng nhớ lại, mấy hôm Mạnh Thu Nguyệt và Lâm Hoan mất tích, chỉ có một chuyện khác thường xảy ra. Đó là vào ngày đầu tiên, Lâm Hoan đăng một tấm ảnh ăn mặc thiếu vải lên Weibo, hỏi có đẹp không. Tôi nhờ cô bé tìm lại bài đăng đó cho chúng tôi xem, nào ngờ tài khoản của Lâm Hoan đã bị khóa. Thêm vào đó, ngoài bạn cùng lớp, thầy cô và bọn đầu gấu ở phòng bida, gần đây Lâm Hoan và Mạnh Thu Nguyệt chỉ tiếp xúc với khách làng chơi. Mạnh Thu Nguyệt từng kể dạo này có một khách quen thường xuyên đến gặp cô bé, nhưng người này trông ra sao thì cô bạn cùng phòng không biết vì chưa gặp bao giờ.

Hỏi han xong đã hơn 9 giờ, tôi và Chu Dung lái xe đưa cô bé về trường rồi đỗ ngoài phòng bida. Khoảng 11 giờ, vài tốp khách lục tục ra về, có người đi về phía trường học, có người đi hướng khác. Nhưng Áo Nỉ Đen không hề xuất hiện.

Chu Dung mất kiên nhẫn, “Tên này định mọc rễ ở phòng bida tới bao giờ?”

Tôi không trả lời. Ban nãy có hơn 30 người rời khỏi đây, áng chừng tương đương với tổng số người ở phòng bida hồi chiều, hơn nữa đã nửa tiếng không có ai ra ngoài, lẽ nào Áo Nỉ Đen chính là chủ phòng bida?

Chúng tôi xuống xe, bước vào cửa hông của quán ăn, xuống phòng bida. Áo Nỉ Đen đang kéo cửa sắt, định đóng cửa. Tôi bước tới giữ cửa, anh ta nhìn tôi, vừa định cất lời đã bị tôi đẩy ngược vào trong, tôi cũng cúi đầu chui vào. Chu Dung theo sau rồi kéo cửa xuống.

Áo Nỉ Đen ngơ ngác, “Sao thế, hai anh chơi không đã à?”

Tôi nói, “Ừ, bọn tôi thích Mạnh Thu Nguyệt hơn. Con bé bảo chắc Mạnh Thu Nguyệt bị khách quen đưa đi rồi, nên tôi muốn hỏi xin số liên lạc của tay khách này.”

“Số liên lạc của khách thì tôi có hết, nhưng sao tùy tiện đưa cho người khác được.”

Chu Dung chìa 5.000 tệ mới rút trên đường cho anh ta, “5.000 tệ đổi lấy số điện thoại.”

Anh ta cân nhắc một lúc rồi nhận tiền, lấy điện thoại đọc cho chúng tôi một dãy số di động. Ghi lại số xong, tôi bước tới giật lại 5.000 tệ trong tay anh ta, đưa cho Chu Dung, “Gọi cho chị họ cậu, báo cảnh sát đi.”

Áo Nỉ Đen quay lưng lấy gậy bida, định sống mái một phen, nhưng tôi đã kịp tóm áo khoác anh ta, còn Chu Dung đứng chân trước mặt để cản đường.

Cảnh sát giải Áo Nỉ Đen đi, còn chúng tôi tới đồn cảnh sát cung cấp lời khai. Rời khỏi đồn, tôi gửi số điện thoại của tay khách kia cho anh Khổng hành nghề thám tử tư, nhờ anh ta kiểm tra giúp. Chẳng bao lâu sau, anh Khổng nhắn lại cho tôi địa chỉ nhà trọ của người này.

Tôi và Chu Dung lái xe đến đó. Theo kế hoạch, chúng tôi sẽ đóng giả nhân viên giao hàng, nếu hắn không ra thì báo cảnh sát luôn. Tôi nấp cạnh cửa, Chu Dung bê thùng giấy lấy trong xe, gõ cửa. Người trong nhà hỏi ai đấy, Chu Dung đáp mình là nhân viên giao hàng. Một thanh niên hơi mập mạp mở cửa, Chu Dung ném thùng giấy xuống đất. Thấy bất thường, hắn định đóng sầm cửa lại nhưng Chu Dung đã thò chân chặn, hai chúng tôi hợp lực mở cửa ra. Thế là hắn lấy hết sức đẩy chúng tôi ra rồi bỏ chạy.

Hãy cẩn trọng, đừng tùy tiện mở cửa cho nhân viên giao hàng.

Chu Dung toan đuổi theo nhưng bị tôi kéo lại, “Hắn thuê nhà bằng tên thật, không trốn được đâu, ta vào trong xem thế nào.” Một cô bé 13,14 tuổi đang ngồi xem ti vi trên sofa phòng khách. Tôi hỏi, “Em là Mạnh Thu Nguyệt?”

Cô bé gật đầu. Tôi hỏi Lâm Hoan ở đâu. Mạnh Thu Nguyệt bèn chỉ vào phòng.

Tôi để Chu Dung trông cửa rồi vào phòng ngủ. Một cô bé ăn mặc hở hang, miệng dán băng dính, đang bị trói chặt trên giường, người đầy vết thâm tím vì bị đánh đập. Tôi cởi áo khoác đắp cho cô bé rồi xé băng dính ra, trấn an rằng đừng sợ, tôi tới để cứu cô bé. Cô bé òa khóc, nước mắt nước mũi chảy tèm lem, “Đừng để Mạnh Thu Nguyệt chạm vào điện thoại của em, đừng để nó lấy điện thoại của em gửi ảnh.”

Tôi hỏi cô bé nói thế nghĩa là sao. Đúng lúc này, Mạnh Thu Nguyệt bước vào, vung vẩy một chiếc điện thoại màu đen, “Khỏi gào, tao gửi ảnh của mày cho tất cả mọi người rồi.”

Tôi và Chu Dung không biết xử lý mớ bòng bong này thế nào, đành báo cảnh sát và lên đồn thêm lần nữa.

Cảnh sát dẫn cả Mạnh Thu Nguyệt lẫn Lâm Hoan đi, chắc tay mua dâm giúp đỡ Mạnh Thu Nguyệt cũng chẳng trốn được lâu. Chúng tôi cũng không rõ vụ việc sẽ được xử lý ra sao.

Hai hôm sau, tôi và Chu Dung quay lại trường Dục Hưng kiểm tra tình hình. Đám đầu gấu trong trường đã bị dẹp sạch. Ngay cả trường học cũng không còn tồn tại, cổng khóa chặt, dán giấy niêm phong, trên tường viết chữ “Phá Dỡ”, hàng tạp hóa ngoài đầu đường cũng đề biển “Sang Nhượng”.

Mỗi lần gặp phải những chuyện tăm tối thế này là Chu Dung lại ủ ê mất mấy ngày. Tôi thường dãn cậu ta đi uống rượu, ăn cơm để khuyên bảo. Đương nhiên Chu Dung là người thanh toán.

Tối đó chúng tôi đi ăn đồ nướng. Ăn xong, cả hai hút thuốc lá, tản bộ trên phố cho tiêu cơm, đang đi thì trông thấy biển quảng cáo một bộ phim điện ảnh ở bến xe buýt.

Tôi thử khuyên nhủ Chu Dung, “Đừng buồn nữa, lần này mình đã giúp mấy đứa trẻ bị bắt nạt, cũng coi như làm việc tốt đấy chứ.”

Cậu ta gật đầu, “Em đang định bảo anh, mai mình đi xem phim đi.”

“Tại sao?”

Cậu ta chỉ biển quảng cáo, “Mẹ em rót vốn cho phim này, em phải tăng doanh thu phòng vé giúp mẹ chứ.”

« Lùi
Tiến »