“Trò cớm tốt, cớm xấu đã thành nhàm rồi,” Lamont nói khi ông ta và William đang lái xe ra khỏi Scotland Yard để tới Pentonville. “Trong trường hợp của chúng ta, một thằng bé năm tuổi cũng có thể nhận ra ai là ai. Tuy nhiên, chúng ta cần phải quyết định mình đang cố đạt được điều gì trong cuộc gặp này.”
“Chắc chắn ưu tiên của chúng ta,” William nói khi xe dừng lại ở Quảng trường Tralfagar, “phải là tìm hiểu xem liệu bức The Syndics đã bị phá huỷ hay chưa, và nếu chưa thì giờ nó đang ở đâu.”
“Đó sẽ không phải là ưu tiên đầu tiên của tôi, nhóc,” Lamont nói, trọng âm Scotland của ông thậm chí còn đậm đặc hơn bình thường. “Tôi muốn chứng minh mối liên hệ giữa Leigh và Miles Faulkner, bởi vì tôi sẵn sàng hi sinh nửa số lương hưu của mình để tống được hắn vào sau chấn song.”
Tôi thì sẵn sàng từ bỏ tất cả lương hưu để được sinh ra với tài năng như của Eddie Leigh, William nghĩ, trong lúc chiếc xe lái vào đường Kingsway, nhưng anh không thốt ra suy nghĩ của mình.
“Thế thì phải bàn chiến thuật đã,” Lamont nói. “Tôi sẽ điều khiển cuộc thẩm vấn, nhưng nếu tôi ngồi lại, nghĩa là lúc đó cậu nên phụ trách. Nhưng trước khi ấy thì không được cắt lời tôi, vì tôi biết chính xác mình muốn theo đuổi mạch thẩm vấn nào.”
“Chuyện gì sẽ xảy ra nếu anh ta đi theo hướng mà cả hai ta đều không ngờ tới?”
“Khó xảy ra chuyện đó. Đừng quên, chúng ta đang đối mặt với một gã tội phạm đã biết chính xác gã sẽ nói gì từ rất lâu trước khi gặp chúng ta.”
Một lần nữa, William không đưa ra ý kiến của mình.
“Còn nếu tôi bắt đầu mặc cả với gã, thì cứ giả ngơ. Hawk đã nói rõ tôi có thể đi xa đến đâu.”
“Viễn cảnh xấu nhất là gì?” William hỏi khi xe ô tô rẽ trái vào Đường Grays Inn.
“Là gã từ chối trả lời bất kì câu hỏi nào, trong trường hợp đó thì cuộc thẩm vấn sẽ chỉ mất vài phút, và chúng ta đã lãng phí thời gian của mình.”
“Đây sẽ là chuyến thăm nhà tù đầu tiên của tôi,” William tự kể, sau khi cả hai không ai nói câu nào trong mấy phút.
Lamont cười. “Lần đầu của tôi là một anh chàng Ai-len vui tính khiến tôi cười suốt vì mấy câu chuyện Đảo Emerald của anh ta.”
“Anh ta vào tù vì tội gì?”
“Cướp bưu điện, mà hoá ra để chứng minh việc đó lại khá là khó khăn, vì thậm chí anh ta còn chưa tới được mặt quầy, và vũ khí duy nhất của anh ta lại là một quả dưa chuột. Cũng may anh ta đã nhận tội.”
“Kể nữa đi, nữa đi,” William đòi.
“Để lần khác,” Lamont nói lúc họ đỗ lại ngoài cổng Nhà tù Pentonville.
“Ông không thể trách Nữ hoàng được,” William đùa, “nếu bà ấy quyết định mình có thể sống mà không cần thêm nhà tù vào trong danh mục.”
“Nếu có thì bà ấy sẽ phải chấp nhận không có Cung điện Buckingham trong danh mục ấy,” Lamont nói khi chiếc xe rẽ vào Đường Caledonian.
William ngước nhìn qua bức tường cao vào toà nhà gạch lừng lững đằng sau, chiếm trọn khung cảnh.
Chiếc ô tô dừng trước rào chắn, một cảnh sát mặc đồng phục bước tới. Lamont kéo cửa kính xuống và trưng thẻ công vụ.
“Ông Langley đang chờ thưa ông,” anh cảnh sát nói sau khi đọc tấm thẻ. “Ông vui lòng đỗ xe đằng kia, tôi sẽ cho ông ấy biết là ông đã tới.”
Tài xế đưa xe vào chỗ trống đầu tiên và tắt máy.
“Tôi không chắc chúng tôi mất bao lâu, Matt ạ,” Lamont bảo người lái xe, anh ta đang lấy một cuốn sách bìa mềm ra khỏi ngăn đựng găng tay. “Nhưng khi chúng tôi quay lại, cậu có thể cho tôi biết cuốn mới nhất của Len Deighton có bõ công đọc trong kì nghỉ năm nay không.”
“Nó là tập ba trong bộ ba, sếp ạ, nên tôi khuyên ông nên bắt đầu từ tập đầu tiên, tựa là Berlin Game 28* ”
28* (Trò chơi ở Berlin)
Khi họ ra khỏi xe, một quản giáo cấp cao tiến lại chỗ họ, biển tên gắn ở bộ đồng phục của ông ta đề “SO Langley.”
“Anh khoẻ không, Bruce?”
“Không thể phàn nàn, Reg ạ. Đây là thanh tra Warwick. Để mắt đến cậu ta nhé. Cậu ta đang nhắm vào vị trí của tôi đấy.”
“Chào ông,” William nói khi cả hai bắt tay nhau.
“Đi theo tôi,” Langley bảo. “Tôi rất tiếc vì các thủ tục an ninh rườm rà, nhưng chúng là tiêu chuẩn của các nhà tù hạng B.”
Cả hai kí vào phiếu đăng kí ở trạm gác cổng, trước khi được phát thẻ đi lại cho khách. William đếm được năm bộ cửa cả mở cả đóng trước khi họ đi qua tù nhân đầu tiên.
“Leigh đang chờ hai vị trong phòng thẩm vấn, nhưng để tôi cảnh báo anh nhé, Bruce, sáng nay anh ta đặc biệt không chịu hợp tác đấy. Vì anh đã bắt anh ta ba lần trước rồi, nên tôi không nghĩ anh ta thích anh lắm đâu.”
Trong lúc họ đi bộ qua một hành lang dài lát gạch màu xanh, William để ý thấy các tù nhân quay lưng về phía họ, thường có đi kèm một lời chửi tục, hoặc đơn giản là phớt lờ họ. Nhưng có một ngoại lệ, một người đàn ông trung niên đã dừng việc lau sàn nhà để nhìn anh kĩ hơn. William nghĩ ở ông ta có gì đó quen quen, và tự hỏi có phải mình đã bắt được ông ta vào lúc nào đó hồi còn làm nhiệm vụ tuần tra ở Lambeth không.
William không thể giấu nổi ngạc nhiên khi họ dừng lại bên ngoài một căn phòng hình vuông bằng kính trông nhìn giống như một tác phẩm điêu khắc đương đại hơn là phòng thẩm vấn. Bên trong là một tù nhân đang ngồi, đầu cúi gằm, anh đoán người này là Eddie Leigh.
“Trước khi cậu hỏi,” Lamont nói và chỉ vào hộp kính, “cái đó vừa là để bảo vệ cậu cũng như bảo vệ anh ta. Hồi tôi còn là một trung sĩ trẻ tuổi, tôi từng bị buộc tội đấm tù nhân trong một cuộc thẩm vấn. Đúng là tôi đã rất muốn đấm hắn, nhưng tôi đã không làm,” ông ngừng nói, “vào dịp đó.”
“Cà phê và bánh quy nhé?” Langley hỏi.
“Cho chúng tôi vài phút với gã trước nhé, Reg,” Lamont bảo.
William và Lamont đi vào phòng và ngồi đối diện Leigh. Không ai nhắc tới việc còng tay hay cho một cảnh sát đứng sau lưng anh ta. Đặc quyền này chỉ dành cho những người không hề có tiền sử bạo lực. Chắc hẳn Leigh đã bỏ qua quyền đòi có một luật sư hiện diện.
William chăm chú nhìn tù nhân đang ngồi ở bên kia bàn. Mới thoạt trông, kẻ làm hàng giả bốn mươi bảy tuổi này cũng giống hệt bao tù nhân khác, trong bộ áo tù kẻ sọc xanh theo quy định và chiếc quần bò cũ. Anh ta chưa cạo râu, tóc tối màu và mắt nâu, nhưng điều làm William ngạc nhiên là đôi bàn tay anh ta. Làm thế nào một kẻ có đôi tay cục mịch như thế lại làm ra được một bức tranh tinh tế đến vậy? Rồi sau đó anh ta cất tiếng, hé lộ việc anh ta cũng đến từ cùng một vùng đất như Lamont.
“Ngài có thể cho chúng tôi điếu thuốc không, thưa ngài?” Anh ta lịch sự hỏi.
Lamont đặt một bao thuốc lên bàn, lấy ra một điếu và đưa cho tù nhân. Thậm chí ông còn châm nó cho anh ta. Món quà hối lộ đầu tiên đã đưa ra và được chấp nhận.
“Tôi là Chánh thanh tra Lamont,” ông nói như thể họ chưa từng gặp nhau, “còn đây là đồng nghiệp của tôi, thanh tra cảnh sát Warwick,” Leigh thậm chí không liếc mắt nhìn William. “Chúng tôi muốn hỏi anh vài câu.”
Leigh không đáp lại gì ngoài việc thở ra một bụm khói lớn màu xám.
“Chúng tôi đang điều tra vụ đánh cắp một bức tranh của Rembrandt từ Bảo tàng Fitzmolean ở Kensington, khoảng bảy năm về trước. Gần đây chúng tôi đã bắt gặp một bức tranh giả mà chúng tôi có lí do để tin rằng chính anh đã vẽ nó.”
Leigh hút thêm một hơi thuốc nữa, không nói năng gì.
“Có phải anh đã vẽ nó không?” Lamont hỏi.
Leigh vẫn không tỏ dấu hiệu gì là sẽ đáp lại, gần như anh ta không nghe thấy câu hỏi.
“Nếu anh hợp tác với chúng tôi,” Lamont nói, “có lẽ chúng tôi sẽ đưa vài lời gợi ý có lợi lên Hội đồng Phóng thích khi anh trình diện trước mặt họ vài tháng nữa.”
Vẫn không có gì. Trong lúc nhìn vào cặp mắt sưng sỉa của Leigh, William đã bắt đầu nhận ra những xúc tu của Miles Faulkner vươn xa đến đâu.
“Mặt khác, nếu anh không hợp tác, chúng tôi cũng có thể báo cáo việc đó với Hội đồng. Lựa chọn là ở anh.”
Kể cả điều này cũng có vẻ không lay chuyển nổi Leigh. Vài giây sau cánh cửa mở ra và một tù nhân được tin cậy mang theo khay cà phê và bánh quy vào, anh ta đặt nó lên bàn trước khi nhanh chóng rời đi. Leigh cầm lấy một cốc cà phê đen, thả bốn viên đường vào và bắt đầu khuấy. Lamont ngồi lùi lại trên ghế của mình.
“Anh Leigh,” William nói, ý thức rõ rằng không một quản giáo nào lại gọi anh ta là Anh trong suốt bốn năm qua, “vì rõ ràng là anh không định trả lời bất kì câu hỏi nào của chúng tôi, tôi chỉ muốn nói một lời trước khi chúng tôi ra về.” Lamont thêm một cục đường vào cốc cà phê của mình. “Tôi là một kẻ cuồng nghệ thuật, một người hâm mộ, anh muốn gọi sao thì gọi, nhưng quan trọng hơn là, tôi vô cùng ngưỡng mộ tác phẩm của anh.” Leigh quay sang nhìn William, một mẩu tàn thuốc lớn rơi khỏi đầu điếu thuốc của anh ta lên mặt bàn. “Bức Vermeer của anh, Girl at a Virginal 29* , quả là hoàn thiện, mặc dù nó không thể lừa được các học giả Hà Lan hàng đầu, đặc biệt là ông Ernst van de Wetering. Nhưng bức The Syndics thì không còn nghi ngờ gì nữa, đúng là tác phẩm của một thiên tài. Hiện nó đang nằm trong văn phòng chúng tôi ở Scotland Yard, và tôi sẽ phải miễn cưỡng trả lại nó cho Miles Faulkner, ông ta tuyên bố nó là của ông ta. Thật tiếc vì anh đã không sinh ra ở Amsterdam ba trăm năm trước, khi đó anh đã có thể là học trò của một vị họa sĩ bậc thầy, hay chính bản thân anh đã thành một bậc thầy. Nếu tôi chỉ có một phần nhỏ tài năng của anh, thì tôi đã không màng tới việc gia nhập ngành cảnh sát.”
29* (tạm dịch: Cô gái bên cây đàn Virginal)
Leigh tiếp tục nhìn William chằm chằm, không còn hút thuốc nữa.
“Tôi có thể hỏi anh một câu không liên quan gì đến yêu cầu của chúng tôi không?”
Leigh gật đầu.
“Làm thế nào mà anh tạo được hiệu ứng màu vàng như thế trên khăn quàng của các vị quan.”
Mất một lúc Leigh mới nói, “Lòng đỏ trứng.”
“Phải, tất nhiên rồi, tôi ngu ngốc thật,” William nói, dù anh biết rõ rằng Rembrandt đã thử nghiệm với lòng đỏ trứng chim mòng biển khi trộn hỗn hợp màu của mình.
“Nhưng tại sao anh lại không thêm chữ kí RvR thường thấy của Rembrandt vào? Đó là điểm duy nhất khiến tôi nhận ra nó không phải là bức tranh gốc.”
Leigh rít thêm một hơi thuốc nữa, nhưng lần này không đáp lời, có thể vì lo sợ rằng mình đã đi quá xa. William chờ thêm vài phút nữa, trước khi chấp nhận rằng Leigh sẽ không trả lời thêm câu hỏi nào.
“Cảm ơn anh. Tôi chỉ muốn nói rằng thật vinh hạnh khi được gặp anh.”
Leigh lờ anh đi, nhìn sang Lamont và nói, “Tôi xin thêm một điếu nữa được không?”
“Cứ giữ cả bao,” Lamont nói trước khi quay sang và gật đầu với Sĩ quan Langley, để ám chỉ rằng cuộc thẩm vấn đã kết thúc.
Langley vào hộp kính cùng với họ. “Quay lại phòng của anh đi, Leigh, và khẩn trương lên.”
Leigh từ từ đứng dậy khỏi ghế, nhưng gói thuốc lá đã nằm trong túi quần, rồi nghiêng người qua bàn và bắt tay William. Lamont không thể giấu nổi sự ngạc nhiên. Không ai nói gì cho đến khi Leigh rời khỏi phòng.
“Không còn nghi ngờ gì chuyện anh ta đã vẽ bức tranh giả,” Lamont nói, “điều đó càng làm tôi tin tưởng hơn chuyện Faulkner chính là kẻ phải chịu trách nhiệm cho vụ trộm. Cậu có để ý thấy hai bàn tay Leigh run rẩy khi chỉ nghe nhắc tới tên hắn không? Chúc mừng cậu, William.”
“Cảm ơn sếp.”
“Reg này, anh vẫn còn nghe các cuộc điện thoại của Leigh đấy chứ?”
“Có. Mỗi tối thứ Năm, sáu giờ, và luôn là gọi cho vợ.”
“Còn nhắc nhở gì đến Picasso nữa không?” William hỏi.
“Không một mảy may,” Reg đáp.
“Tất nhiên là không,” Lamont nói. “Leigh sẽ không mạo hiểm lặp lại một lời nhắn đến hai lần đâu, vì thế Hawk sẽ phải quyết định nó có đủ để chúng ta lập một chiến dịch toàn diện không.”
“Nếu là tôi thì tôi sẽ làm,” William nói.
“Cậu còn chưa ngồi được ghế của ông ấy đâu, nhóc.”
Việc đầu tiên William làm sau khi trở về Scotland Yard là tìm kiếm một số điện thoại trong tập danh bạ từ S-Z.
“Tôi là thanh tra Warwick,” anh nói với cô gái trả lời điện thoại. “Cô có thể cho tôi biết liệu từng có sinh viên nào ở trường Slade tên Edward Leigh không? Có thể là khoảng đầu những năm 1960.”
“Chờ tôi một lát, anh Warwick, tôi sẽ tìm kiếm cái tên đó.” Vài phút sau cô cầm máy trở lại. “Vâng, ông ấy tốt nghiệp loại xuất sắc năm 1962. Thực ra, năm đó ông ấy đã đạt giải thưởng của nhà sáng lập trường, và buổi trưng bày riêng của ông ấy đã được bán hết sạch vé.”
“Cảm ơn cô, chi tiết rất hữu ích.” William đặt điện thoại xuống và mỉm cười sau khi anh kiểm tra một hồ sơ nữa xác nhận rằng Faulkner cũng theo học ở Slade từ năm 1960 đến 1963. Fred Yates đã dạy anh không bao giờ được tin vào những điều trùng hợp.
William dành một tiếng tiếp theo để viết bản báo cáo về chuyến thăm Pentonville. Sau khi đặt nó lên bàn làm việc của Lamont, anh xem đồng hồ. Mặc dù mới 5 giờ 30, anh cảm thấy mình có thể ra về trước khi đèn dưới cửa phòng Hawk tắt.
Anh cầm áo khoác và định chuồn đi thì Jackie nói, “Chúc cuối tuần vui vẻ. Cậu xứng đáng được nghỉ.”
“Cảm ơn chị,” William nói, nôn nóng được gặp Beth và kể cho cô nghe rằng rất có thể cô sẽ được tái ngộ với người đàn ông thứ hai trong đời mình.
Quay lại căn hộ ở Trenchard House, anh tắm rửa và thay bộ quần áo thường ngày. Anh đang mong ngóng một cuối tuần chơi bời. À, ý tưởng chơi bời của anh – một bữa ăn tại nhà hàng Elena, vài ly rượu vang đỏ, một cuốc chạy quanh Công viên Hyde vào buổi sáng và buổi tối đi xem bộ phim mới nhất – bất kì phim gì không có cảnh sát – rồi chui vào chiếc giường ấm áp cùng Beth tầm mười một giờ.
Anh quyết định đi bộ đến nhà Beth để có thể chọn vài bông hoa trên đường. Đến lúc anh tới được trước cửa nhà cô, anh đã thấy tim mình đập nhanh hơn. Anh gõ cửa hai lần và một lát sau Jez xuất hiện, nhìn vào bó hoa và nói, “Cho tôi đấy à?”
“Cứ mơ đi.”
“Nhưng Beth đi vắng cuối tuần này rồi.”
“Hả? Tôi tưởng…”
“Cô ấy bảo tôi xin lỗi hộ. Có việc đột xuất vào phút cuối. Cô ấy sẽ gọi cho anh ngay khi quay về.”
“Vậy thì chúng đúng là cho cậu,” William nói, nhét bó hoa vào tay cậu ta.
Jez nhìn theo anh chàng si tình tuyệt vọng quay bước và từ từ rời đi, đôi vai trĩu nặng. Anh đóng cửa và quay vào phòng khách, ở đó anh đưa bó hoa cho Beth và nói, “Cậu không nghĩ đã đến lúc cậu kể cho anh ấy nghe sự thật à?”