Beth gọi điện cho William ở nhà vào tối Chủ nhật để xin lỗi, giải thích là cô phải tới thăm một người bạn ở bệnh viện, và cô đã ngại không muốn gọi cho anh ở chỗ làm.
“Tất nhiên em có thể gọi nếu có chuyện quan trọng đến mức khiến anh mất ngủ,” William nói.
“Tối mai anh qua ăn tối có được không?”
“Nếu không có việc gì khác,” William nói, hối hận vì lời lẽ của mình có vẻ gay gắt như thế ngay khi anh cúp máy.
William là người đầu tiên đến văn phòng sáng thứ Hai. Anh ngồi xuống bàn và định mở một tập tài liệu của mình thì điện thoại đổ chuông. Anh lập tức nhận ra giọng nói ở đầu bên kia.
“William, anh đã bảo tôi cho anh biết ngay khi Carter được cấp giấy phép tìm kiếm tàu Patrice,” Trung uý Monti nói. “Nó đã được đóng dấu sáng nay, và gửi tới địa chỉ nhà hắn qua đường bưu điện. Vậy là hắn có thể sẽ nhận được nó vào cuối tuần này.”
“Cảm ơn anh, Toni. Tôi sẽ báo cáo sếp ngay lập tức.”
“Báo tôi cái gì cơ?” Lamont nói, ông vừa mới đi vào phòng.
“Carter đã được nhận giấy phép thám hiểm, nên gã có thể sẽ hành động ngay trong vài ngày tới.”
“Tôi sẽ gọi Sở cảnh sát Devon và yêu cầu họ canh chừng gã. Tôi cũng sẽ cảnh báo Jim Travers ở bên Hàng không để anh ta để ý, anh ta sẽ cho chúng ta biết ngay khi có đặt chỗ nào xuất hiện dưới tên Carter. Cậu không đi đi à?”
“Đi gì ạ?”
“Đáng lẽ sáng nay cậu phải có mặt ở Toà đại hình Snaresbrook để làm chứng. Chúng tôi nhận được một cuộc gọi sau khi cậu chuồn mất vào chiều thứ Sáu, họ nói rằng trước sự ngạc nhiên của tất cả mọi người, Cyril Amhurst đã kêu oan, và vụ việc sẽ được đưa ra toà sáng nay. Tốt nhất cậu nên đi ngay nếu không muốn thua vụ đầu tiên trước mặt quan toà thậm chí trước cả khi tiến hành các bước tiếp theo.”
William nhanh chóng lấy tập hợp hồ sơ vụ Amhurst – Churchill từ ngăn kéo bàn làm việc và mặc lại áo khoác.
“Đảm bảo hắn ngồi hai mươi năm luôn nhé,” Lamont nói.
“Ít nhất là thế,” Jackie nói, cô vừa xuất hiện ngay lúc anh lao ra cửa.
Chuyến tàu dài tới Snaresbrook cho William cơ hội để nhớ lại các chi tiết của vụ án, nhưng khi anh đọc tới trang cuối của tập tài liệu, anh vẫn không tài nào hiểu được tại sao Amhurst lại kêu oan.
Con tàu đi vào nhà ga ngay sau 9 giờ 45, ngay khi bước lên phố anh đã hỏi một người bán báo đường đến Toà đại hình. Anh đi theo lời chỉ dẫn của người ấy và chẳng mấy chốc đã trông thấy toà nhà lừng lững hiện trước mặt. Anh chạy lên các bậc thang và đẩy cửa bước vào ngay trước mười giờ. Kiểm tra bảng thời gian biểu của toà án, anh thấy rằng vụ án Chính quyền kiện Amhurst đã được lên lịch lúc mười giờ ở toà số năm. Anh chạy lên một bậc thang khác tới tầng một, ở đó anh tìm được một người đàn ông trẻ tuổi mặc áo choàng dài và tay đang cầm một bộ tóc giả đi qua đi lại, trông có vẻ sốt ruột.
“Anh là Hayes phải không?” William hỏi.
“Tôi đây, và tôi hi vọng anh chính là thanh tra cảnh sát Warwick.” William gật đầu.
“Điều đầu tiên tôi phải nói với anh,” Hayes nói, “là vụ án Amhurst đã được thông báo rất vội, tôi có thể nộp đơn xin trì hoãn và đặt lịch phiên toà muộn hơn.”
“Không, cứ làm luôn hôm nay đi,” William nói. “Gã chết tiệt đó làm gì có tí bằng chứng nào để kêu oan.”
“Tôi đồng ý, nhưng bằng chứng của anh vẫn là tối cần thiết, nên tôi sẽ nói qua với anh thật nhanh những điểm mà tôi cho là chính yếu.”
“Anh nghĩ chúng ta sẽ được gọi lên lúc nào?” William hỏi khi họ ngồi xuống một chiếc ghế băng bên ngoài phòng xử án số năm.
“Có vài đơn xin nộp bảo lãnh cần được toà xem xét, và một yêu cầu xin cấp phép bán rượu trước chúng ta, nên chúng ta sẽ được gọi khoảng tầm 10 giờ 30.”
Sau khi Hayes đã duyệt qua một lượt với William, anh càng thấy tự tin hơn nữa rằng Amhurst sẽ chỉ kêu oan vô ích, mặc dù anh đã thừa nhận với Hayes rằng đây là lần đầu anh lên bục nhân chứng trước toà.
“Tôi chắc là anh sẽ ổn,” Hayes nói. “Tôi phải để anh một mình ở đây để chuẩn bị bục của tôi trong toà đã. Cứ ở đây đến khi thấy được gọi tên nhé.”
William không nấn ná ở lại. Anh đi lên đi xuống hành lang, mỗi phút trôi qua lại càng hồi hộp hơn. Cuối cùng, người thông báo của toà xuất hiện từ bên trong và tuyên bố, “Thanh tra cảnh sát Warwick.”
William lo lắng đi theo ông ta vào phòng xử án. Anh đi qua chỗ bị đơn đang ngồi trên ghế bị cáo, không nhìn ông ta mà hướng thẳng tới bục nhân chứng.
Thư kí phiên toà đưa cho William một cuốn Kinh Thánh và anh đọc lời tuyên thệ, mừng khi nghe thấy giọng mình có vẻ chắc chắn hơn cảm giác trong lòng anh. Nhưng khi anh Hayes đứng lên, chút tự tin của William liền biến mất.
“Thanh tra cảnh sát Warwick, anh vui lòng kể cho toà nghe anh đã liên quan đến vụ án này như thế nào.”
William bắt đầu bằng việc tả lại cuộc gặp với ông Giddy, quản lý cửa hàng Hatchards, và mối lo ngại của ông ta rằng có thể mình đã được bán cho một bộ Thế chiến thứ hai của Winston Churchill với những chữ kí giả. Anh kể tiếp cho toà nghe mình đã ghé thăm các cửa hàng sách khác ra sao, vài người trong số họ đã được mời chào, và vài người đã mua, tổng cộng là hai mươi hai cuốn sách hồi kí của Churchill mà người bán tuyên bố là do chính vị cựu thủ tướng kí.
“Và chuyện gì đã xảy ra tiếp theo?” Hayes hỏi.
“Tôi nhận được một cuộc gọi từ người trợ lí ở Nhà sách John Sandoc ở Chelsea, kể với tôi rằng nghi phạm đã quay trở lại nên tôi đi thẳng tới cửa hàng đó. Nhưng ông ta đã rời đi.”
“Vậy là anh làm mất dấu ông ta?”
“Không. Người trợ lí kia kịp chỉ vào người đàn ông trong lúc ông ta đang đi về phía Quảng trường Sloane. Tôi đã đuổi theo ông ta và suýt bắt kịp thì ông ta biến mất vào ga tàu điện ngầm tại đó. Tôi tiếp tục đuổi theo ông ta, và vừa vặn nhảy được lên toa tàu mà ông ta đã lên ngay trước khi cửa đóng lại.”
“Rồi chuyện gì đã xảy ra?”
“Nghi phạm xuống ở Đông Dagenham, khi tôi đi theo ông ta tới một ngôi nhà trên đường Monkside Drive. Tôi đã ghi lại địa chỉ nhà, rồi bắt tàu điện ngầm về lại Scotland Yard. Ngày hôm sau tôi đã có được lệnh khám nhà bị cáo, ở đó tôi tìm được nhiều cuốn sách có chữ kí, bao gồm một bộ hoàn chỉnh cuốn Thế chiến thứ hai của Ngài Winston Churchil, ba trong số đó đã được kí, và vài tờ giấy có nhiều hàng chữ kí viết tay của Churchill.”
“Tất cả đều đã được liệt kê trong bảng tang vật, thưa Toà,” Hayes nói trước khi quay lại với nhân chứng. “Và anh còn phát hiện ra điều gì khác đặc biệt đáng quan tâm không?”
“Có, thưa ngài. Tôi tìm được một ấn bản đầu tiên của cuốn Khúc ca mừng Giáng sinh , có chữ kí Charles Dickens.”
“Thưa quý toà,” Hayes nói, “cái đó cũng nằm trong nhóm vật chứng. Có lẽ ngài và bồi thẩm đoàn sẽ muốn xem xét bảng tang vật.”
Quan toà gật đầu và bồi thẩm đoàn dành thời gian xem xét các cuốn sách, cũng như những tờ giấy có chữ kí của Churchill, trước khi chúng được trả lại cho viên thư kí toà.
“Anh đã làm gì tiếp theo, thanh tra cảnh sát Warwick?”
“Tôi đã bắt ông Amhurst, và dẫn ông ta tới đồn cảnh sát Dagenham, ở đó ông đã bị buộc ba tội danh là lừa đảo, nói dối và làm hàng giả.”
“Cảm ơn anh, thanh tra Warwick. tôi không còn câu hỏi nào cho nhân chứng này nữa, thưa Toà,” Hayes nói trước khi ngồi xuống.
William mừng vì màn thử thách đã qua. Không tệ như anh đã lo sợ. Anh chuẩn bị rời khỏi bục nhân chứng thì Hayes nhảy trở lại và nói, “Cứ ở nguyên đây, thanh tra, vì tôi nghĩ người bạn uyên thâm của tôi đây cũng có một vài câu hỏi cho anh.”
“Chắc chắn là tôi có rồi,” luật sư biện hộ nói, khi chị đứng lên ở đầu bên kia chiếc ghế băng. William nhìn chằm chằm vào chị một cách khó tin.
“Trước khi tôi bắt đầu đối chất, thưa quý Toà, tôi cần chỉ ra với toà rằng nhân chứng này là em trai tôi.”
Quan toà cúi người và nhìn Grace kĩ càng, rồi quay sang nhìn William, nhưng không nhận xét gì.
“Tôi có thể đảm bảo với quý Toà rằng cả thân chủ tôi lẫn trợ lí luật sư của tôi đều không lo lắng gì về tình huống khác thường này. Nhưng tất nhiên có khả năng người bạn uyên bác của tôi, hay chính bản thân nhân chứng, thì có. Trong trường hợp này tôi sẽ rút lui và cho phép cấp dưới của tôi thực hiện việc đối chất.”
Luật sự Hayes nhanh chóng đứng dậy. “Tôi tin đó sẽ là cách giải quyết đơn giản nhất, thưa quý Toà.”
“Có thể,” quan toà nói. “Nhưng tôi mong nghe ý kiến của thanh tra cảnh sát Warwick hơn.”
William nhớ lại những lời cha mình nói: Grace chỉ toàn nhận những vụ vô vọng, và không bao giờ thắng . “Giỏi thì lên đi,” anh lẩm bẩm, ngang ngạnh nhìn chị gái.
“Xin lỗi?” quan toà hỏi.
“Tôi vui lòng để chị gái tôi đối chất, thưa Toà.”
“Vậy thì cô có thể tiếp tục, cô Warwick.”
Grace cúi đầu, vuốt phẳng tà áo choàng và quay sang nhân chứng. Chị dành cho anh một nụ cười ấm áp, nhưng anh không đáp lại.
“Cảnh sát Warwick, liệu tôi có thể bắt đầu bằng cách nói tôi đã rất thích thú với lời mô tả đầy màu sắc của cậu về việc cậu đã truy đuổi thân chủ tôi chạy nửa vòng London như thế nào, và rồi vẫn không bắt được ông ấy, mà quay lại vào sáng hôm sau để cố gắng lần thứ hai không. Nghe có vẻ như một tập trong bộ phim Cảnh sát Keystone hơn, điều đó có thể khiến bồi thẩm đoàn thắc mắc cậu đã làm thanh tra được bao lâu.” William do dự. “Đừng xấu hổ, cảnh sát. Chúng ta đang nói về tuần, tháng hay năm nhỉ?”
“Ba tháng,” William nói.
“Và đây là vụ bắt giữ đầu tiên của cậu với tư cách thanh tra cảnh sát?”
“Vâng,” William miễn cưỡng thừa nhận.
“Cậu nói to lên được không, cảnh sát. Tôi không chắc bồi thẩm đoàn nghe được câu trả lời.”
“Vâng, đúng vậy,” William nói trong lúc tóm chặt hai cạnh của bục nhân chứng.
“Giờ thì, tôi tò mò muốn biết, cậu cảnh sát, tại sao, sau khi đã đuổi theo thân chủ tôi từ Chelsea về Dagenham, mà cậu lại không bắt luôn trước khi ông ấy về tới nhà mình an toàn?”
“Tôi cần phải xin lệnh khám nhà thì mới được lục soát nhà ông ta.”
“Lại càng đáng tò mò hơn,” Grace nói. “Bởi vì chắc chắn cậu đã có thể bắt ông Amhurst ngay giây phút ông ấy bước xuống khỏi tàu ở Đông Dagenham, đưa ông tới một đồn cảnh sát địa phương và xin giấy phép theo Mục 18 từ sĩ quan trực ban, rồi lục soát nhà ông ấy vào cùng ngày hôm đó.”
William biết chị nói đúng, nhưng không thể thừa nhận mình đã mắc một sai lầm cơ bản đến thế, nên tiếp tục im lặng.
“Liệu tôi có thể giả thiết thế này không, cảnh sát, rằng cậu đã đọc mục mười tám của Đạo luật Cảnh sát và Bằng chứng phạm tội năm 1984, điều cho phép cậu quyền được lục soát địa chỉ nhà của nghi phạm sau khi bắt giữ?”
Mấy lần William định mở lời, nhưng vẫn không nói gì.
“Vì có vẻ như cậu không sẵn sàng trả lời câu hỏi của tôi, cậu cảnh sát, tôi có thể đặt giả thuyết rằng cậu không hề sợ thân chủ của tôi sẽ huỷ bằng chứng nếu có và bỏ trốn trước khi cậu trở lại vào buổi sáng hôm sau không?”
“Nhưng tôi đã tin chắc rằng ông ta không trông thấy tôi,” William nói, cố phản bác lại.
“Thật sự như thế ư, cảnh sát? Cậu có nhớ điều ông Amhurst đã nói khi cậu và một đồng nghiệp nữa đến nhà sáng hôm sau cùng với lệnh khám nhà ông ấy không?” Grace bám tay vào hai vạt áo choàng của mình, điều chỉnh lại bộ tóc giả và nhìn chằm chằm vào em trai, dành cho anh nụ cười tước vũ khí như cũ, rồi nói, “Có cần tôi nhắc lại cho cậu không?” Chị kéo dài khoảnh khắc xấu hổ của William thêm vài giây nữa trước khi quay lại đối diện với bồi thẩm đoàn. “Ông ấy đã nói, ‘Anh có muốn uống trà không?’”
Vài người trong phòng xử án bắt đầu cười. Thẩm phán cau mày với họ.
“Chẳng lẽ cậu không thấy là câu ấy nghe không giống lời của một kẻ phạm tội, lo sợ bị bắt và bị ném vào tù sao?” Grace nói.
“Có, nhưng…”
“Cậu vui lòng bám sát việc trả lời các câu hỏi của tôi nhé, cảnh sát, và đừng đưa ra những nhận xét cá nhân, như thế sẽ có ích hơn rất nhiều.”
William bàng hoàng trước đòn tấn công mạnh mẽ của chị gái, và chắc chắn là không được chuẩn bị cho câu hỏi tiếp theo của chị.
“Cậu có phải là một chuyên gia trong lĩnh vực nhận diện các chữ kí giả không, hay cậu chỉ đơn giản coi là thân chủ tôi có tội thôi?”
“Không, không phải như vậy. Tôi đã ghi lại lời khai từ chín người phụ trách cửa hàng sách mà ông Amhurst đã chào bán những phiên bản hoàn chỉnh những cuốn sách lịch sử có chữ ký của Churchill về Đại chiến thế giới thứ hai.”
“Buồn thay, không ai trong số đó, kể cả người quản lí của nhà sách Hatchards, người khiếu nại đầu tiên, có thời gian rảnh để tới toà và làm chứng ngày hôm nay. Cậu có vô tình đến Hatchards vào sáng thứ Bảy vừa rồi không?”
“Không,” William nói và bối rối trước câu hỏi.
“Nếu cậu đã tới đó, Cảnh sát Warwick ạ, cậu đã có thể sở hữu một cuốn tiểu thuyết mới nhất của Graham Greene, tựa là The Tenth Man 30* , bởi vì tác giả đã kí hơn một trăm bản trước khi tiếp tục đi kí thêm nhiều cuốn sách khác ở vài cửa hàng sách nữa ở Mé Tây. Vì Ngài Winston là một chính trị gia, tôi không nghĩ ông ấy ngại ngần gì việc kí các bản lẻ cho những cuốn sách của mình.”
30* (Người thứ mười)
Một hay hai người trong bồi thẩm đoàn gật gù.
“Nhưng chúng tôi còn tìm được vài cuốn sách khác nữa,” William vuột miệng, vẫn còn có phản bác. “Đừng quên ấn bản đầu tiên cuốn Khúc ca mừng Giáng sinh , do Charles Dickens kí, như là một ví dụ.”
“Tôi mừng vì cậu đã nêu chủ đề Dickens,” Grace nói, “bởi vì thân chủ của tôi từ lâu đã trân quý món đồ lưu niệm gia truyền đặc biệt ấy, được người cha quá cố để lại cho ông ấy, nên ông ấy sẽ không bao giờ nghĩ đến chuyện bán nó. Thực vậy, quý Toà chắc sẽ quan tâm đến việc thân chủ tôi vẫn còn sở hữu một tờ hoá đơn gốc khi bán cuốn sách đó, đề ngày 19 tháng Mười hai năm 1843, giá năm shilling.”
Luật sư Hayes nhanh nhẹn đứng dậy. “Thưa Toà, tôi phải phản đối. Tài liệu này đã không được bên bị trình bày trong hồ sơ bằng chứng.”
“Có một lời giải thích đơn giản cho chuyện đó, thưa quý Toà,” Grace nói. “Thân chủ của tôi đã tìm kiếm tờ hoá đơn đó suốt từ ngày ông ấy bị bắt, nhưng thanh tra Warwick và đồng nghiệp đã làm xáo trộn ngôi nhà của ông đến mức độ tới tận sáng nay ông ấy mới tìm ra nó.”
“Tiện quá nhỉ,” Hayes nói, đủ to để cả bồi thẩm đoàn nghe được. Quan toà lườm anh ta nhưng không quở trách.
Một lần nữa, bồi thẩm đoàn dành thời gian nghiên cứu tờ hoá đơn.
“Cảnh sát Warwick, tôi hi vọng,” Grace nói sau khi William đã nhìn lướt qua tờ hoá đơn, “rằng cậu sẽ không nói rằng thân chủ của tôi cũng đã làm giả cái đó chứ?”
Vài thành viên của bồi thẩm đoàn bắt đầu bàn bạc với nhau, trong lúc Hayes viết ghi chú trên tập giấy của anh ta.
Grace mỉm cười với em trai mình và nói, “Tôi không còn câu hỏi nào cho nhân chứng này, thưa Toà.”
“Cảm ơn, Luật sư Warwick,” thẩm phán nói. “Có lẽ giờ là lúc tạm nghỉ cho bữa trưa.”
“Chúng ta chưa thua đâu,” Hayes nói trong lúc thưởng thức món xa lát Caesar ở nhà ăn.
“Nhưng tôi cũng không giúp được gì mấy,” William nói, không tài nào ăn nổi. “Đáng lẽ tôi phải nhắc chị gái tôi về mấy trang chữ kí Churchill mà chúng tôi tìm được trong nhà Amhurst.”
“Đừng sợ gì cả,” Hayes nói. “Khi nào Amhurst lên bục nhân chứng, tôi sẽ nhắc đi nhắc lại cho bồi thẩm đoàn nhớ về những chữ kí giả đó.”
“Còn tôi thì thắc mắc về tờ hoá đơn,” William nói. “Tại sao chúng tôi không tìm thấy nó trong lúc lục soát ngôi nhà nhỉ?”
“Vì tôi nghi là nó đã không có ở đó. Có thể Amhurst mới mua được nó gần đây để che đậy cho bản thân. Một điểm nữa tôi cũng sẽ bắt ông ta phải thề.”
William liếc sang nhìn chị gái, lúc này cũng đang ăn trưa ở đầu bên kia căng-tin cùng viên trợ lí luật sư, người mà anh ngờ rằng chính là Clare. Nhưng cả hai đều không nhìn về phía anh.
Khi phiên toà được tiếp tục, Thẩm phán Gray đã hỏi luật sư bào chữa có muốn gọi nhân chứng đầu tiên của mình không. Luật sư Warwick đứng dậy và nói, “Tôi sẽ không đòi bất kì nhân chứng nào, thưa quý Toà.”
Một tiếng xì xào vang lên khắp phòng xử án. William cúi người tới và thì thầm vào tai Hayes, “Nếu Amhurst không định đưa lời khai thì như thế chẳng phải sẽ làm bồi thẩm đoàn cho rằng ông ta có tội à?”
“Có thể. Nhưng đừng quên chị gái anh sẽ được nói lời cuối cùng. Và nếu tôi là người đại diện cho Amhurst, chính tôi cũng sẽ khuyên ông ta điều tương tự.”
Thẩm phán quay sang chú mục vào luật sư công tố.
“Anh đã sẵn sàng chưa, Luật sư Hayes, để tổng kết lại nhân danh Chính quyền?”
“Quả thực là có, thưa quý Toà,” Hayes nói, anh ta đứng dậy và đặt bản tóm tắt lên chiếc bục nhỏ trước mặt mình. Anh ta hắng giọng, chỉnh lại bộ tóc giả và quay sang đối mặt với bồi thẩm đoàn. “Kính thưa quý Bồi thẩm đoàn, hoá ra vụ việc lần này lại thú vị như vậy – mặc dù quý vị có thể cảm thấy rằng mình đang tham dự vào một buổi trình diễn vở Hamlet mà không có chàng hoàng tử xuất hiện. Xin hãy để tôi bắt đầu bằng cách hỏi quý vị, tại sao trong lúc đối chất với thanh tra cảnh sát Warwick luật sư bào chữa chưa một lần nào nhắc tới những trang giấy đầy chữ kí của Winston Churchill mà người ta đã tìm thấy trong nhà của bị cáo, được viết trên các tờ giấy xé ra từ một cuốn vở kẻ ngang W.H. Smith giá 49 xu. Tôi nghĩ chúng ta có thể đoán rằng chúng không phải do nhà lãnh đạo thời thế chiến ấy kí, vì ông ấy chết trước khi chúng ta đổi sang hệ thập phân.
“Chúng ta cũng biết rằng thanh tra Warwick đã tìm được một bộ Thế chiến thứ Hai đầy đủ do Churchill viết ở nhà bị cáo, trong đó có ba trên sáu tập đã được kí còn ba tập chưa kí. Nên tôi thấy buộc phải hỏi tại sao ba tập kia còn chưa kí.” Hayes ngừng lại. “Có lẽ chúng nằm trong danh mục tiếp theo của ông ta chăng?”
Một hai thành viên trong bồi thẩm đoàn thưởng cho Hayes một nụ cười.
“Và tiếp theo, quý vị phải cân nhắc đến cuốn Khúc ca mừng Giáng sinh có chữ kí của Charles Dickens. Có thể vị luật sư bên bị đã làm các vị tin rằng nó là một món đồ lưu niệm trong gia đình, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chẳng lẽ các vị không thấy như thế quá tiện hay sao? Chẳng lẽ nghe không giống như là ông Amhurst đã mua một bản Khúc ca mừng Giáng sinh chưa kí, cùng với tờ hoá đơn gốc của nó, vào một trong vô số lần ông ta ghé thăm các hiệu sách ở khắp London này? Các vị cũng có thể tự hỏi mình tại sao hai thám tử của Scotland Yard, sau khi đã lục soát kĩ càng nhà của ông Amhurst, mà lại không tìm thấy tờ hoá đơn ấy.
“Tôi sẽ để các vị tự định đoạn,” Hayes nói, mắt không hề rời khỏi bồi thẩm đoàn, “là liệu các vị muốn tin vào phiên bản lãng mạn hơn của câu chuyện này, như đã được người bạn uyên bác của tôi kể, hay một phiên bản chắc chắn hơn, được hỗ trợ bởi các dữ kiện. Tôi cảm thấy tự tin rằng thường thức sẽ thắng thế.”
Khi Hayes về lại chỗ của mình trên ghế băng, William những muốn vỗ tay và lại thấy mình tràn trề hi vọng. Thẩm phán nhìn sang chỗ luật sư biện hộ và hỏi liệu chị đã sẵn sàng bào chữa cho vụ này chưa.
“Còn hơn cả sẵn sàng, thưa Quý Toà,” Grace đáp lại trong lúc đứng dậy. Chị nhìn thẳng vào bồi thẩm đoàn một lát rồi mới nói.
Chị bắt đầu bằng cách nhắc họ nhớ rằng theo luật pháp nước Anh, đặc quyền của bị cáo là không cần phải bước lên bục nhân chứng, có thể thấy rằng điều đó sẽ thành một thử thách gian nan với người “đàn ông lớn tuổi mong manh” này.
“Ông ta mới sáu mươi hai,” Hayes lẩm bẩm, nhưng Grace vẫn giương buồm ra khơi, mặc cơn gió độc.
“Giờ hãy trở lại với bằng chứng then chốt trong vụ án này. Nếu ông Amhurst có tội như cáo trạng, và lại sở hữu một ấn bản đầu tiên của cuốn Khúc ca mừng Giáng sinh có chữ ký tác giả, tại sao ông ấy lại không chào bán nó, bởi nó sẽ kiếm được gấp mười lần một bộ sách lịch sử về Đại chiến thế giới Hai của Churchill? Tôi sẽ nói cho các vị biết tại sao, vì ông ấy không sẵn sàng chia tay với một kỉ vật của gia đình, thứ mà ông ấy cũng sẽ truyền lại cho thế hệ tiếp theo.”
“Ông ta làm gì có con cái,” William thì thầm vào tai Hayes.
“Đáng lẽ lúc trước anh phải bảo tôi chứ.”
“Thưa các vị trong bồi thẩm đoàn, đêm qua,” Grace nói tiếp, “trong lúc đang chuẩn bị cho vụ án này, tôi đã dành chút ít thời gian để nhẩm tính ông Amhurst sẽ kiếm được bao nhiêu nếu bán ba tập trong bộ tiểu sử của Churchill mà thanh tra cảnh sát Warwick đưa ra như tang vật và tuyên bố rằng nó là chữ kí giả mạo. Tổng số chỉ hơn một trăm bảng đôi chút. Vậy, thưa quý ông và quý bà của bồi thẩm đoàn, tôi xin nói đây khó mà là một vụ án thế kỉ được. Thế nhưng vì những lí do mà chỉ mình họ biết, Scotland Yard lại chọn tung toàn lực bắt ông Amhurst. Nếu lòng tin của các vị vượt qua cả những nghi ngờ hợp lí,” chị nhấn mạnh, “rằng Chính quyền đã chứng minh Cyril Amhurst là một kẻ làm hàng giả đại tài và một bậc thầy lừa đảo, thì ông ấy nên đón Giáng sinh trong tù. Tuy nhiên, nếu các vị thấy, như tôi tin là các vị sẽ thấy, rằng Chính quyền không chứng minh được gì cả, chắc chắn các vị sẽ giải thoát ông ấy khỏi tai ương này và cho phép ông ấy, cũng như cho phép cha của Tiny Tim, được đón Giáng sinh trong vòng tay gia đình mình.”
Khi Grace ngồi xuống, Hayes quay sang thì thầm với William, “Chuyên nghiệp thật. Cô ấy lại còn trích dẫn trong sách cổ. Chắc cha anh phải tự hào về cô ấy lắm.”
“Nhưng không phải về con trai của ông,” William rít lên, lúc này anh sẽ khá vui nếu được giết Grace.
Lời tổng kết của thẩm phán là công bằng và không định kiến. Ông chỉ nêu các dữ kiện mà không hề cố làm ảnh hưởng đến bồi thẩm đoàn theo bất kì hướng nào. Ông nhấn mạnh tương đối đến những tờ giấy có chữ kí của Churchill mà chưa thể giải thích được, nhưng ông cũng nhấn mạnh rằng Chính quyền không đưa ra được bằng chứng nào chứng minh cuốn Khúc ca mừng Giáng sinh không phải là vật kỉ niệm của gia đình. Sau khi hoàn tất bản tổng kết của mình, ông hướng dẫn bồi thẩm đoàn ra nghỉ và cân nhắc lời phán xử của họ.
Chỉ hơn hai tiếng sau bảy người đàn ông và năm người phụ nữ đã được đưa trở lại khoang bồi thẩm đoàn. Khi họ đã yên vị, thư kí toà yêu cầu người phát ngôn đứng dậy. Một người phụ nữ mập mạp, có vẻ ngoài cứng rắn trong bộ vest kẻ ca-rô vừa khít, lịch thiệp đứng dậy từ cuối hàng một.
“Người phát ngôn của bồi thẩm đoàn, các vị đã đi đến phán quyết mà tất cả đều đồng tình chưa?”
“Chúng tôi đã có, thưa Toà.”
“Về cáo buộc thứ nhất, tội làm giả, cụ thể là chữ kí của Ngài Winston Churchill trên mười tám cuốn sách, với ý định kiếm lời. Các vị thấy bị cáo có tội hay không có tội?”
“Không có tội,” cô ta trả lời chắc chắn.
“Và về cáo buộc thứ hai, tội sở hữu một cuốn sách có chữ kí giả của Charles Dickens với ý định lừa công chúng và kiếm lời. Các vị thấy bị cáo có tội hay không có tội?”
“Không có tội.”
“Còn cáo buộc thứ ba, về tội sở hữu ba cuốn từ tuyển tập Đại chiến thế giới thứ hai của Winston Churchill và có chữ kí giả của Ngài Winston Churchill, các vị thấy bị cáo có tội hay không có tội?”
“Có tội.”
Trong lúc vài người ở phòng xử án há hốc miệng, William thở ra một hơi nhẹ nhõm. Anh có thể đường hoàng quay lại chỗ làm vào ngày mai, nếu không phải là trong khúc khải hoàn, thì ít nhất cũng không phải thừa nhận thất bại hoàn toàn.
“Mời bị cáo đứng dậy,” thư kí toà nói.
Amhurst đứng lên, đầu khẽ cúi xuống.
“Cyril Amhurst, ông đã bị phán có tội trong một tội ác liên hoàn, vì tội này tôi xử ông một năm tù giam.”
William cố không cười.
“Tuy nhiên, cho đến nay ông đã có một tiểu sử trong sạch, và đây là lần vi phạm đầu tiên của ông, bản án sẽ được hoãn lại trong hai năm, trong thời gian này tôi đề nghị ông không nên ghé thăm quá nhiều cửa hàng sách. Ông được tự do rời toà.”
“Cảm ơn quý Toà,” Amhurst nói trước khi bước xuống khỏi bục và ôm vị luật sư của mình thật lâu.
William bắt tay Hayes và cảm ơn anh ta vì những cố gắng nghĩa hiệp.
“Chị gái anh khá tuyệt đấy,” Hayes thừa nhận. “Gần như không có gì trong tay để chiến đấu mà cô ấy lại hạ chúng ta hai – một, và đến khúc cuối thậm chí còn khiến trọng tài ngả theo phe cô ấy. Tôi sẽ không lặp lại cùng sai lầm này nếu có phải đối đầu với cô ấy lần nữa.”
“Tôi cũng vậy,” William nói trước khi lặng lẽ lẻn khỏi phòng xử án. Anh thấy Grace đang đứng ở hành lang đợi anh.
Chị dành cho anh nụ cười mà anh đã biết quá rõ, “Có thời gian làm một ly không, em trai?”
Bữa tối ngày hôm đó, William đã kể cho Beth nghe chính xác những gì xảy ra trong phiên toà. Cô phá lên cười và nói, “Anh đúng là đồ ngốc toàn tập.”
“Anh đồng ý. Anh sợ chết khiếp việc đi làm vào ngày mai. Nếu anh không phải quay lại đường phố làm nhiệm vụ thì chắc chắn là sẽ bị nhét vào kho.”
“Em cá là cả kho chuyện cười luôn đấy,” Beth nói. “Em chỉ ước gì mình có mặt ở đó để chứng kiến khuôn mặt anh lúc thẩm phán quyết định treo án.”
“Tạ ơn Chúa vì em không có mặt. Nhưng nếu có lúc nào anh phải đấu với chị lần nữa, anh sẽ đảm bảo là mình chuẩn bị kĩ càng hơn.”
“Chị ấy cũng thế thôi.”
“Em về phe ai thế?”
“Em còn chưa quyết định được, vì anh vẫn chưa kể em nghe vụ đi gặp Eddie Leigh ở Pentonville như thế nào.”
William đặt dao và dĩa xuống, tả lại buổi gặp hết sức chi tiết. Khi anh kể đến cuối, Beth chỉ nói, “Lòng đỏ trứng. Câu đó là quá đủ bù cho nỗ lực èo uột của anh trên bục nhân chứng sáng nay. Nhưng anh có nghĩ Leigh biết bức Rembrandt ở đâu không?”
“Anh khá chắc chắn là anh ta biết, vì anh ta và Faulkner đã học ở Slade vào cùng khoảng thời gian. Nhưng còn lâu anh ta mới chịu kể. Thực ra anh còn nghĩ anh ta đã hối hận vì buột miệng chừng đó.”
“Có lẽ anh sẽ biết được nhiều hơn khi mang bức tranh nhái về lại nhà Faulkner vào ngày mai.”
“Có khi anh còn không qua được cổng trước ấy chứ.”