William ngồi ở bàn của mình lo lắng chờ số phận giáng xuống. Anh đang đọc những diễn biến mới nhất của vụ Picasso Thời kỳ Xanh thì Lamont lao xồng xộc vào phòng.
“Hôm qua thế nào?” là những lời đầu tiên của Chánh thanh tra.
William hít một hơi thật sâu. “Amhurst bị phán một năm tù, nhưng thẩm phán treo án hai năm.”
“Không thể tốt hơn,” Lamont nói trong lúc xoay hai bàn tay vào nhau vui sướng.
“Tôi ăn gà của cả đội rồi. Một năm án treo,” ông nói khi Jackie bước vào. “Ai trúng số đấy?” Jackie hỏi, thậm chí trước cả khi cởi áo khoác.
“Tôi,” Lamont nói.
“Chết tiệt.”
“Thế chị đã đoán gì đấy?” William hỏi cô.
“Sáu tháng tù treo. Nên không những tôi đã thua, mà cậu còn thắng cả tôi nữa, đồ khốn yếu nhớt.”
“Ý chị là sao?”
“Thẩm phán đã ném vụ đầu tiên của tôi ra khỏi toà, cả tôi theo cùng luôn. Tôi đã bỏ quên một vật chứng quan trọng trong xe ô tô, nên bị cáo được thả trước cả khi anh ta kịp bước lên bục nhân chứng.”
William cười phá lên.
“Đúng rồi,” Lamont nói. “Giờ thì quay lại làm việc thôi. Jackie, tôi cần cô nói lại một lượt các chi tiết của chiến dịch đêm mai trước khi tôi cho phép thực hiện.”
Jackie nhanh chóng đi qua bàn mình và chộp lấy tập hồ sơ liên quan.
“Mà, William này, bức Rembrandt giả đã được đặt bên trong một chiếc xe tải khoá kín trong bãi đỗ xe. Lấy chìa khoá ở bàn lễ tân và lên đường ngay. Dù cũng chẳng có ai cá là cậu sẽ qua được cổng chính đâu.”
“Faulkner đã bay đi Monte Carlo ngày hôm qua à?” William hỏi.
“Phải, hắn đã hạ cánh cửa Nice khoảng giữa trưa, và sẽ không quay về trong ít nhất một tháng nữa.”
Chỉ huy Hawksby ló đầu vào cửa. “Này, phán quyết thế nào?”
“Một năm tù treo,” Lamont bảo.
“Chết tiệt.”
“Tôi có được hỏi không, thưa sếp?” William hỏi.
“Năm mươi giờ lao động công ích.”
“Thanh tra Roycroft và tôi có thể đến gặp anh không, sếp, sau khi chúng tôi đã chốt lại các chi tiết cho Chiến dịch Thời kỳ Xanh?” Lamont hỏi.
“Tất nhiên là được, Bruce. Và chúc may mắn với bà Faulkner nhé, William.”
William báo với bàn lễ tân và lấy chìa khoá chiếc xe tải, trước khi xuống bãi đỗ xe dưới tầng hầm. Anh kiểm tra xem chiếc thùng đựng bức tranh đã nằm chắc chắn trong xe tải chưa trước khi rời khỏi Yard vào đường Broadway. Trong suốt chuyến đi đến Limpton, anh duyệt qua một lượt phần A, B và C trong kế hoạch của mình, dù biết rằng mình có thể đang trên đường quay về Yard trong vòng một tiếng nữa nếu không qua được cửa trước.
Khi anh tạm biệt Beth sáng hôm ấy, anh đã hứa sẽ về kịp giờ cơm tối.
“Cùng với cả sáu vị Quan 31* an toàn ngồi trong khoang sau xe tải,” cô trêu.
31* Chỉ bức The Syndics
Vì cân nhắc đến bức tranh ở đằng sau, William không bao giờ chạy vượt tốc độ cho phép. Anh đã được Lamont cảnh báo rằng nếu nó không được trả lại trong tình trạng hoàn hảo, Luật sư tư vấn Booth Watson sẽ đòi bồi thường thiệt hại cho thân chủ ông ta ngay trong tuần này.
Khi đã tới được ngôi làng Limpton đẹp như tranh vẽ ở Hampshire, anh không gặp khó khăn gì trong việc xác định nơi Faulkner sống. Limpton Hall kiêu hãnh ngự trên một ngọn đồi trông xuống toàn cảnh ngôi làng. William đi theo một biển chỉ dẫn đưa anh đi theo một con đường thôn quê uốn lượn khoảng vài cây số nữa, rồi anh dừng lại bên ngoài một cánh cổng sắt, trên hai trụ đá hai bên là những chú sư tử trong tư thế ngồi.
Anh ra khỏi xe và đi bộ đến chỗ cổng và thấy chiếc chuông ẩn trong tường. Một tấm biển đồng ghi “Limpton Hall” và một cái chuông bên dưới, “Người giao hàng”. Anh ấn vào nút trên và lập tức hối hận vì quyết định của mình, vì có thể anh sẽ nắm được cơ hội tốt hơn để lẻn vào trong nếu bấm vào nút Người giao hàng. Một giọng nói trên điện thoại nội bộ hỏi, “Ai đó?”
“Tôi có món hàng đặc biệt chuyển tới ông Faulkner.”
William nín thở và trước sự ngạc nhiên của anh, hai cánh cổng mở ra.
Anh lái xe thật chậm, chiêm ngưỡng những cây sồi trăm tuổi xếp dọc đường lái xe trong lúc cân nhắc phần tiếp theo trong kế hoạch của mình. Cuối cùng anh cũng lái xe đến trước nhà, trông nó chắc cũng không đến nỗi bị lạc quẻ khi đặt lên bìa tạp chí Đời sống thôn quê .
Cánh cửa trước được một người đàn ông cao gầy mặc áo khoác đuôi tôm màu đen và quần sọc tăm mở ra. Ông ta nhìn William như thể anh đã tới nhầm cổng. Hai người trẻ hơn chạy xuống bậc tam cấp và nhanh chóng ra đằng sau xe tải. Đã đến lúc cân nhắc Kế hoạch B.
William mở cửa sau xe tải và cầm tấm bảng, trong lúc hai chàng trai kia cẩn thận nâng chiếc thùng ra, mang bức tranh lên bậc tam cấp và dựa nó vào bức tường trong sảnh. Người quản gia đang đóng cửa thì William nói bằng một giọng mà anh hi vọng là nghe uy quyền giống giọng cha mình, “Tôi cần một chữ kí mới trả hàng được.”
Anh sẽ không ngạc nhiên nếu cánh cửa đóng sầm lại trước mặt mình. Nhưng người quản gia miễn cưỡng lấy ra một chiếc bút từ túi áo trong. Đến phần C rồi.
“Tôi rất tiếc, nhưng biểu mẫu trả hàng phải do ông Faulkner kí,” William nói và thò một chân vào trong cửa như kiểu của người bán hàng. Nếu người quản gia mà nói một là lấy hai là biến , thì chắc anh cũng phải nhận chữ kí ấy và bỏ đi mà không nói thêm lời nào nữa.
“Bà Faulkner kí thì có được không?” Một giọng nói vang lên từ đằng sau.
Một người phụ nữ trung tuổi có vẻ sang trọng xuất hiện trong tiền sảnh. Bà ta mặc một chiếc áo choàng lụa đỏ tôn lên dáng người thướt tha của mình. Có phải người giàu thường không dậy trước mười giờ sáng như Fred Yates thường nói không? Tuy nhiên chính mái tóc đen nhánh, làn da rám nắng và khí chất uy quyền ở bà ta mới làm anh không còn nghi ngờ gì chuyện bà chính là nữ chủ nhân của nhà này.
Bà ta kí vào tờ phiếu và William định ra về thì bà ta bảo, “Cảm ơn cậu, cậu…”
“Warwick, William Warwick,” anh đáp lại, bỏ qua nguyên tắc của mình là cố không cư xử như một cậu bé ngoan.
“Tôi là Christina Faulkner. Cậu có thời gian dùng cà phê với tôi không, cậu Warwick?”
William không do dự, mặc dù điều này không nằm trong kế hoạch A, B hay C của anh. “Cảm ơn bà,” anh nói.
“Mang cà phê vào phòng khách nhé, Makins,” bà Faulkner nói. “Và khi nào bức tranh được tháo xong, tôi muốn treo nó lên chỗ cũ.”
“Vâng, tất nhiên rồi thưa bà.”
“Miles sẽ mừng lắm khi thấy bức tranh trở về đúng chỗ của nó, khi ông ấy về,” bà Faulkner nói trong lúc bà ta dẫn William đi vào phòng khách.
William không thể rời mắt khỏi những bức tranh tuyệt tác treo khắp các bức tường. Miles Faulkner có thể là một tên tội phạm, nhưng chắc chắn ông ta là tên tội phạm có gu thẩm mĩ. Những bức tranh của Sisley, Sickert, Matisse và Pissarro sẽ vinh danh bất kì bộ sưu tập nào, nhưng ánh mắt William dừng lại ở một bức tranh tĩnh vật vẽ những quả cam đặt trong chiếc bát, của một hoạ sĩ mà anh chưa từng nghe tên trước đó.
“Fernando Botero,” bà Faulkner nói. “Một người đồng hương, cũng như tôi, đã trốn khỏi Colombia từ thuở thiếu thời,” bà ta nói thêm khi người quản gia xuất hiện, mang theo khay đựng cà phê và vài loại bánh quy.
William ngồi xuống và nhìn vào khoảng trống rất lớn phía trên bệ lò sưởi, chắc hẳn ấy là nơi bức tranh của Rembrandt đã ngự. Viên quản gia đặt cái khay xuống một chiếc bàn trà kiểu cổ mà William nghĩ mình có thể nhận ra, nhưng anh lại bị phân tâm khi hai chàng trai lúc nãy bước vào phòng, mang theo bức tranh.
Viên quản gia chịu trách nhiệm treo nó lên, và khi bức tranh đã quay về chỗ cũ, ông ta khẽ gật đầu với bà Faulkner trước khi lẳng lặng rời khỏi phòng.
“Tôi có đúng không,” bà Faulkner nói trong lúc rót cà phê cho khách, “khi nghĩ cậu là một thanh tra, cậu Warwick?”
“Vâng, đúng vậy,” William đáp nhưng không nói thêm rằng anh không phải là một thanh tra có kinh nghiệm cho lắm.
“Vậy tôi tự hỏi liệu tôi có thể xin lời khuyên về một vấn đề riêng tư được không?” bà ta nói, bắt chéo chân.
William thôi không nhìn đăm đăm vào bức The Syndics nữa mà quay sang đối mặt với bà chủ nhà. “Vâng, tất nhiên rồi,” cuối cùng anh cũng nói.
“Nhưng trước đó, tôi cần chắc chắn là mình có thể tin tưởng cậu.”
“Tất nhiên,” anh lặp lại.
“Tôi cần dịch vụ thám tử tư. Ai đó biết giữ bí mật, chuyên nghiệp, và quan trọng hơn là đáng tin cậy.”
“Một số thanh tra Cảnh sát Đô thị đã nghỉ hưu cũng làm nghề thám tử tư,” William nói, “và tôi chắc chắn là sếp tôi sẽ rất vui được giới thiệu một trong số họ. Không chính thức nhé,” anh nói thêm.
“Thế thì hay quá, cậu Warwick. Tuy nhiên, tôi phải nhấn mạnh rằng việc chồng tôi không phát hiện ra là vô cùng quan trọng. Hiện ông ấy đang đi vắng và ít nhất một tháng nữa mới về.”
“Tôi chắc chắn là tôi có thể tìm được đúng người cho bà, bà Faulkner ạ, sớm hơn ngày chồng bà quay về nhiều.” Anh liếc trộm bức tranh mà mình sẽ không bao giờ được ngắm nữa.
“Cậu thực sự thích bức tranh đó lắm đúng không?”
“Vâng, đúng vậy,” William thừa nhận mà không cảm thấy tội lỗi gì.
“Nó cũng là một trong những bức Miles thích nhất, cũng có thể đó là lí do chúng tôi có một bức y hệt trong phòng khách ở Monte Carlo. Thực ra tôi không bao giờ nhận ra được sự khác biệt giữa hai bức này.”
Bàn tay William bắt đầu run đến mức anh làm rớt cả cà phê lên thảm. “Tôi hết sức xin lỗi,” anh nói. “Tôi hậu đậu quá.”
“Đừng lo, cậu Warwick, không sao đâu.”
Giá mà bà biết chuyện đó quan trọng đến mức nào, William nghĩ, tâm trí anh vẫn còn chạy đua với những ẩn ý của điều mà bà ta vừa tiết lộ.
“Tôi có thể mời cậu ở lại ăn trưa được không?” bà Faulkner hỏi. “Như thế tôi sẽ có cơ hội cho cậu xem phần còn lại của bộ sưu tập.”
“Bà tử tế quá, nhưng sếp tôi sẽ thắc mắc tôi đang ở đâu. Nên tôi phải quay lại thôi.”
“Vậy để lần khác nhé.”
William lo lắng gật đầu, khi bà Faulkner cùng anh quay lại tiền sảnh, anh thấy ông quản gia đã đứng sẵn cạnh cửa.
“Rất vui được gặp cậu, cậu Warwick,” bà ta nói khi họ bắt tay nhau.
“Tôi cũng vậy, bà Faulkner,” William nói, biết rõ tay quản gia đang theo dõi anh chặt chẽ.
William nóng lòng được quay lại Yard và cho cả đội biết bà Faulkner vừa lỡ miệng nói ra bức The Syndics gốc đang được treo trong biệt thự của Faulkner tại Monte Carlo. Anh có thể tưởng tượng ra cảnh Beth nhảy lên nhảy xuống vì vui sướng khi anh kể cho cô nghe điều này. Nhưng khi cánh cổng đóng lại sau lưng, anh đập đầu vào hai bàn tay và hét lên, “Mày là đồ ngốc!” Tại sao anh lại không chấp nhận lời mời ăn trưa của bà ta kia chứ? Anh đã có thể xem toàn bộ bộ sưu tập và xác định những bức tranh bất minh.
“Ngu thế cơ chứ!” Anh lặp lại lớn tiếng hơn. Có lẽ anh sẽ không nhắc đến việc bỏ lỡ cơ hội này với Lamont trong lúc viết bản báo cáo của mình.
William miễn cưỡng rời Limpton Hall, nhưng vẫn phải nhắc thêm mấy lần từ “ngu ngốc” nữa trước khi ra đến đường quốc lộ.
Khi quay lại Yard, anh cho xe tải vào bãi đỗ, trả chìa khoá và lên thẳng văn phòng. Anh thấy Lamont và Jackie đang chúi đầu trên một tấm bản đồ dính đầy những cái cờ đỏ tí hon, trong lúc họ chốt lại những phương án cuối cùng của Chiến dịch Thời kỳ Xanh, anh biết hoạt động này đã được lên kế hoạch cho đêm tiếp theo. Cả hai đều ngẩng mặt lên khi anh vào phòng.
“Cậu qua được cổng trước không?” Lamont hỏi.
“Tôi không chỉ qua được cổng trước, tôi còn có thể cho ông biết bức Rembrandt đang ở đâu nữa cơ.”
Những lá cờ đỏ tí hon bị ngó lơ trong lúc Lamont và Jackie nghe bản tường trình của William. Khi đã báo cáo đầy đủ với họ - à, gần như đầy đủ - Lamont chỉ biết nói, “Chúng ta nên báo ngay cho chỉ huy.”
Vì William và Jackie không giả định ông đang dùng đại từ nhân xưng “chúng ta” kiểu của nhà vua, họ cùng đi theo ông ra khỏi phòng và xuống hành lang dẫn vào văn phòng Hawksby.
“Angela, tôi cần gặp ngài chỉ huy gấp,” Lamont bảo thư kí của Hawksby khi ông vào trong phòng.
“Chánh thanh tra Mullins đang ở cùng với ông ấy ngay lúc này,” cô ta nói, “nhưng tôi nghĩ họ cũng không nói chuyện bao lâu nữa đâu.”
“Mullins à?” William thì thầm với Jackie.
“Ma tuý. Cầu nguyện để cậu không bị chuyển sang đội của ông ấy đi. Ít người sống sót được lắm, và những người còn sót lại thì không bao giờ còn như xưa nữa.”
Vài phút sau cánh cửa mở ra và vị chánh thanh tra bước ra ngoài, theo sau là ngài Chỉ huy Hawksby.
“Chào buổi sáng, Bruce,” Millins nói dù không hề chậm bước chân rời khỏi phòng.
“Tôi hi vọng anh có tin tốt cho tôi,” Hawksby nói. “Bởi vì cho đến tận bây giờ, hôm nay là một ngày tồi tệ.”
“Có thể là một bước đột phá trong vụ bức Rembrandt mất tích, thưa sếp.”
“Vậy thì anh nên vào đây.”
Khi tất cả đã ngồi quanh chiếc bàn trong văn phòng Hawksby, William thuật lại cuộc gặp của anh với bà Faulkner hết sức chi tiết. Anh ngạc nhiên với phản ứng tức thì của Hawk.
“Tôi không tin câu ‘chúng tôi có một bức y hệt như thế này trong phòng khách ở Monte Carlo. Thực ra tôi không bao giờ có thể nhận ra sự khác biệt giữa hai bức’ lại là lỡ lời đâu. Tôi nghĩ bà Faulkner biết chính xác bà ta sẽ kể cho cậu thanh tra trẻ tuổi điều gì lúc mời cậu ta uống cà phê rồi.”
“Tôi đồng ý,” Lamont nói. “Và thêm vào đó, bà ta còn hỏi tên của một thám tử tư đáng tin cậy. Chẳng trách mà bọn chúng lại dám mở cổng.
“Vậy bà ta định làm gì?” William hỏi.
“Dù biết chuyện này là hiển nhiên,” Jackie nói, “tôi vẫn cược là bà ta cần thám tử tư vì đang định li dị chồng, và một khoản dàn xếp là không đủ với bà ta. Bà ta đang tìm cách trả thù, và còn có cách nào tốt hơn là kể cho chúng ta nghe bức Rembrandt đang ở đâu chứ?”
“Bà ta đang chơi một trò rất mạo hiểm,” Hawksby nói, “nếu xét đến việc bà ta đang định chống lại ai.”
“Bà ta đã có bảy năm để nghĩ về nó rồi,” William nói.
“Mà có thể vẫn chưa đủ,” Lamont bảo.
“Có nghĩ ra ai làm được việc này không, Bruce,” Hawksby hỏi.
“Mike Harrison sẽ là lựa chọn hàng đầu của tôi. Thạo việc, uy tín và đáng tin cậy. Và nếu bà ta thuê anh ấy, chúng ta sẽ có tay trong.”
“Hãy sắp xếp một cuộc hẹn,” Hawksby nói, “nếu anh ta đồng ý, William có thể giới thiệu anh ta cho bà Faulkner.”
“Tôi sẽ làm ngay đây, sếp,” Lamont nói.
“Làm tốt lắm, William, mặc dù sẽ không dễ để đưa bức Rembrandt ra khỏi Monte Carlo trong lúc Faulkner vẫn còn ở đó. Nhưng nếu có vợ hắn ở cùng phe với chúng ta, thì rất có khả năng lần này đến lượt ta làm hắn ngạc nhiên. Giờ thì quay trở lại với vấn đề trước mắt này. Jackie, các cô đã sẵn sàng hết cho Chiến dịch Thời kỳ Xanh chưa?”
“Đêm mai có đèn xanh rồi, thưa sếp. Chúng tôi đã bao vây chặt chẽ quanh khu đó đến mức cả một con chuột chũi cũng không thể đào hầm chui ra mà chúng ta không biết.”
“Anh đã đảm bảo tất cả những phần hỗ trợ cần thiết chưa, Bruce?
“Đồn cảnh sát Surry rất hợp tác, thưa sếp. Họ đang cho chúng ta mượn hai mươi cảnh sát, bọn họ sẽ phục kích trong hai chiếc xe buýt ở các lối ra vào. Chúng ta sẽ phục sẵn chờ chúng ra khỏi nhà.”
“Còn chủ nhà?”
“Họ đang đi nghỉ ở Seychelles, như Faulkner hẳn đã biết rõ, nên an toàn tránh xa khỏi mọi tổn hại.”
“Khi nào bắt được bọn trộm, chắc chắn phải gọi tôi đấy nhé, muộn đến mấy đi nữa.”
“Chắc phải tầm hai, ba giờ sáng, sếp ạ,” Jackie nói.
“Muộn mấy cũng được,” Hawksby nói.
Lamont, Jackie và William đứng dậy vì biết cuộc họp đã xong.
“Warwick,” Hawksby nói khi họ định quay về, “cậu nán lại thêm một phút được không? Tôi có vài lời muốn nói.”
William buồn cười với từ “được không”, mặc dù anh đoán chắc mình sắp nhận một trận quở trách vì đã thiếu chuẩn bị trong vụ Amhurst.
“William,” Hawksby nói ngay khi Lamont và Jackie đã ra về, “tôi đã quyết tâm không bao giờ dính dáng đến đời sống riêng của các cảnh sát dưới quyền trừ khi nó có ảnh hưởng đến một cuộc điều tra đang diễn ra.”
William ngồi căng thẳng trên mép ghế của mình.
“Tuy nhiên, gần đây tôi nhận ra là cậu đã phát triển tình bạn với một cô gái trẻ làm việc trong Bảo tàng Fitzmolean, và do đó cô ấy trở thành một bên liên quan trong vụ bức Rembrandt bị mất.”
“Đó còn hơn là tình bạn rồi, thưa sếp,” William thú nhận. “Tôi gần như sống cùng với cô ấy rồi.”
“Càng thêm lí do để cảnh giác. Và điều tôi sắp nói đây là một mệnh lệnh, không phải yêu cầu. Tôi nói thế rõ chưa?”
“Rõ rồi, thưa sếp.”
“Cậu sẽ không được phép tiết lộ với bất kì ai bên ngoài văn phòng này, dù dưới bất kì tình huống nào, việc có thể chúng ta đã biết bức tranh Rembrandt bị mất tích đang ở đâu. Thực ra, tốt hơn hết là cậu không kể với cô Rainsford bất kì điều gì liên quan đến cuộc điều tra của chúng ta nữa, bất kì điều gì.”
“Tôi đã hiểu, thưa sếp.”
“Tôi không cần phải nhắc cậu nhớ rằng với tư cách là một sĩ quan cảnh sát, cậu đã phải kí Điều luật giữ bí mật, và nếu cậu phải chịu trách nhiệm trong việc tiết lộ thông tin của vụ này, hay bất kì một chiến dịch nào có liên quan đến cậu, cậu sẽ phải đối mặt với hội đồng kỉ luật, việc ấy chắc chắn sẽ kéo tụt sự nghiệp của cậu, nếu không muốn nói là huỷ hoại. Cậu có câu hỏi nào nữa không?”
“Không, thưa sếp.”
“Vậy cậu sẽ quay về đơn vị của mình và không được bàn về cuộc nói chuyện này với bất kì ai, kể cả các đồng nghiệp. Rõ chưa?”
“Vâng, thưa sếp.”
Khi quay lại bàn mình, William nhìn vào chồng hồ sơ chất đống trước mặt, nhưng không thể gạt bỏ những lời của ngài chỉ huy ra khỏi đầu mình. Sáng nay anh đã sợ phải tới văn phòng. Nhưng tối nay thì anh sợ phải về nhà.
Khi Beth nghe tiếng cửa trước mở, cô lập tức chạy ra khỏi bếp để ra sảnh.
“Cuộc gặp của anh với bà Faulkner thế nào?” Cô hỏi trước cả khi William có cơ hội cởi áo khoác.
“Anh không qua được cổng trước.”
“Anh là một chàng trai ngọt ngào biết mấy,” cô nói và vòng hai cánh tay ôm cổ anh, “nhưng nói dối thì dở tệ.”
“Không, thật đấy,” William phản đối.
Cô đứng lùi lại và nhìn anh kĩ hơn. “Họ đã nói gì với anh về em?” cô hỏi, giọng cô đột ngột thay đổi.
“Không có gì cả, anh thề. Không có gì.” Rồi anh nhớ lại lời Hawksby. Cậu không được kể cho cô Rainsford bất kì điều gì nữa về cuộc điều tra của chúng ta, trong mọi trường hợp… bất kì điều gì . Trường hợp gì cơ? William nghĩ. Rồi anh nhớ ra những lời Jackie nói khi anh mua hoa cho Beth trước khi tới Barnstaple: Rainsford à? Tại sao cái tên ấy nghe quen thế nhỉ?
Việc đầu tiên William làm khi đến cơ quan sáng hôm sau là viết một bản báo cáo chi tiết về cuộc viếng thăm Limpton Hall. Khi đã nộp nó cho Lamont, anh gọi cho bà Faulkner vào số riêng của bà ta.
“Tôi nghĩ có thể tôi đã tìm được đúng người để giúp bà, bà Faulkner. Khi nào bà muốn gặp ông ấy?”
“Thứ Hai tới tôi sẽ đến London. Sao cậu không ăn trưa cùng chúng tôi nhỉ? Tôi không thể mạo hiểm để cậu tới đây lần nữa.”
“Sao lại không?” William hỏi, giọng thất vọng.
“Makins sẽ gọi điện cho chồng tôi trước cả khi cậu tới cổng. Thực ra, tối qua Miles đã gọi cho tôi để hỏi xem tại sao tôi lại để cậu vào trong nhà.”
“Bà đã bảo gì với ông ta?”
“Rằng lúc trả lại bức tranh, cậu đã lỡ lời rằng cuộc điều tra bức Rembrandt đã bị đình chỉ và đưa vào mục các vụ án chưa được giải quyết.”
“Bà có nghĩ ông ta tin không?”
“Không thể biết được đâu. Thậm chí tôi không nghĩ ông ta biết khi nào thì mình nói sự thật. Chúng ta hẹn ở Ritz được không, một giờ? Tôi mời.”
Chà, chắc chắn là bà Walters sẽ không mời rồi, William nghĩ lúc đặt điện thoại xuống.
Lát sau đó anh đi ăn trưa cùng Lamont. Một chiếc bánh nhân thịt, một gói bánh quy giòn và một vại bia nhẹ ở quán Sherlock Holmes, và cơ hội gặp gỡ Mike Harrison. Cảnh sát trong số các cảnh sát, đó là cách Lamont mô tả ông ta, và William có thể lập tức hiểu tại sao. Ông là người đơn giản, thẳng tính và đối xử với William ngang hàng ngay từ phút đầu gặp gỡ. Quan trọng hơn, ông ta cũng quyết tâm tìm lại bức Rembrandt đã mất như những người còn lại trong đội. Ông đã từng là thành viên của tổ khi nó bị mất bảy năm trước, nên ông coi nó là việc còn dang dở của bản thân mình.
Trên đường về nhà tối đó, William mua một bó hoa như quà làm hoà cho Beth. Nhưng ngay khi xoay chìa vào ổ khoá, anh đã biết cô không có nhà. Và rồi anh nhớ ra – thứ Ba là Ngày Bạn bè ở Fitzmolean. Sandwich cá hồi hun khói, những bát hạt và rượu sủi tăm để nới lỏng hầu bao những người hoàng tộc bảo trợ viện bảo tàng. Cô sẽ không về nhà trước mười một giờ. Anh quay lại Trenchard House đêm thứ hai liên tiếp, gọi cho cô lúc 10 giờ 30, và một lần nữa lúc mười một giờ, nhưng cô không nghe máy, nên anh lên giường ngủ.