William thức giấc do tiếng chuông điện thoại. Anh chộp lấy nó, tự hỏi ai lại gọi cho anh giờ này. Anh hi vọng đó là Beth.
“Carter hành động rồi,” một giọng nói anh nhận ra ngay. “Gặp tôi ở Heathrow, ga số hai. Xe đang trên đường tới. Sẽ đến chỗ cậu trong mấy phút nữa. Mang theo túi du lịch nhé, và lần này đừng có quên hộ chiếu nữa.”
William đặt điện thoại xuống và lao thẳng vào phòng tắm. Anh tắm qua, và cạo râu còn qua loa hơn, làm sứt hẳn hai chỗ, rồi quay lại phòng ngủ để gói ghém đồ dùng qua đêm. Mấy cái sơ mi, cộng với quần dài, tất và bàn chải đánh răng, cuối cùng mới cầm hộ chiếu trong ngăn kéo bàn. Chiếc xe đã chờ sẵn trước cửa, động cơ vẫn còn chạy. Anh lập tức nhận ra người lái xe đã đưa anh tới Chelsea.
“Chào buổi sáng, Danny,” anh nói.
6 GIỜ 37 GIỜ GMT
Jackie không cần cuộc gọi báo thức vào sáng hôm đó. Cô đã đang trên đường tới ga Waterloo cùng lúc William tăng tốc trên quốc lộ M4.
Lamont đang chờ cô ở sân ga số mười một, và họ lên chuyến tàu lúc 7 giờ 29 phút tới Guildford, ghế hạng hai. Lúc tới nơi họ được Sĩ quan chỉ huy Wall đón, ông ta là người duy nhất ở Đồn Surrey được thông báo đầy đủ kế hoạch của họ trong ngày hôm đó.
“Anh không có tài xế à?” Lamont hỏi khi thấy Wall ngồi vào sau tay lái và bật nút khởi động.
“Bị cắt giảm,” ông ta gầm ghè.
7 GIỜ 14 GIỜ GMT
William trông thấy ông ngay khi ông vừa vào nhà ga. Một chiếc áo khoác hai hàng khuy màu xanh thẫm, áo sơ-mi trắng và cà vạt sọc. Có khi chỉ huy của họ còn đang ngủ trong bộ pyjama hai hàng khuy ấy.
“Chào sếp ạ.”
“Chào William. Carter đã đặt chuyến số hiệu 003 của Hàng không Anh tới Rome, sẽ xuất phát trong một tiếng rưỡi nữa, còn chúng ta sẽ lên một chiếc máy bay của Ý xuất phát trong bốn mươi phút nữa. Trung uý Monti sẽ gặp chúng ta ở sân bay và lái xe đến Civitavecchia. Chúng ta sẽ chờ ở đó thêm vài phút để đảm bảo là Carter nhận vé máy bay. Nếu gã nghi ngờ có ai đó đang đi theo mình, gã có thể huỷ toàn bộ chuyến đi, trong trường hợp đó thì chúng ta sẽ quay lại Scotland Yard chứ không phải Rome.” Ngài chỉ huy vẫn còn nói khi ông tóm lấy tay William và hất đầu về phía dãy bàn của hãng Hàng không Anh. Carter đang sải bước về phía quầy đăng kí, theo sau là một người William không nhận ra, người này đang bê túi đồ nghề to tướng và đẩy theo một chiếc xe đẩy có hai cái va li nhỏ.
“Tôi có cảm giác tôi biết có thứ gì trong cái túi kia,” Hawksby nói. “Nhưng chúng ta không thể làm gì với việc đó.”
“Chúng ta có thể cho người rà soát an ninh trước khi gã lên máy bay.”
“Đó không phải chúng ta muốn.”
“Tại sao ạ?”
“Vì hai lí do,” Hawksby nói khi Carter nhận thẻ lên máy bay. “Thứ nhất, chúng ta cần một nghi ngờ hợp lí là gã đang phạm pháp thì mới được kiểm tra hành lí của gã, và thứ hai, nếu không tìm được gì đáng nghi, chúng ta sẽ đánh động chúng và làm bay mất vỏ bọc của mình.”
“Sếp có nhận ra người kia không?” William hỏi khi họ đi tới chỗ kiểm tra hộ chiếu.
“Damient Grant, GBH, cựu vận động viên cử tạ, gần đây đi làm bảo kê cho các câu lạc bộ. Gã chỉ ở đó để đảm bảo túi đồ nghề đến được đích của nó thôi.”
“Lần gọi cuối cho hãng Alitalia, chuyến bay số…”
10 GIỜ 7 PHÚT GIỜ GMT
Khi họ đã yên vị trong văn phòng của Sĩ quan Wall, cả ba kiểm tra đi kiểm tra lại từng chi tiết trong Chiến dịch Thời kỳ Xanh. Lamont trả lời xong câu hỏi cuối cùng thì Wall xem đồng hồ. “Đã đến lúc xuống hầm xe và thông báo cho các đơn vị. Dưới đó là chỗ duy nhất đủ rộng cho cả đội quân của các vị.”
Lamont và Jackie đi theo vị trung uý cảnh sát ra khỏi văn phòng và xuống một cầu thang bậc đã mòn xơ xác để tới hầm xe, ở đó khoảng hai chục cảnh sát nam cùng hai cảnh sát nữ đang trò chuyện trong lúc chờ đợi để được biết mình sắp phải làm gì. Họ im lặng ngay khi sĩ quan cao cấp xuất hiện.
“Xin chào,” ông ta nói, đập đập chiếc dùi cui vào đùi mình. “Hôm nay chúng ta có hai cảnh sát từ sở Cảnh sát Đô thị tới làm việc. Chúng ta ở đây để hỗ trợ họ trong một chiến dịch đặc biệt sẽ diễn ra trong khu vực của chúng ta. Tôi sẽ chuyển quyền chỉ huy cho chánh thanh tra Lamont, ông ấy sẽ báo cho các anh chị biết thông tin chi tiết.”
Lamont chờ đến khi Jackie bày xong một cái khung và đặt bức ảnh chụp từ trên không của một điền trang nông thôn rộng lớn lên đó.
“Thưa các anh chị,” Lamont nói, “Sở Cảnh sát Đô thị đã chuẩn bị chiến dịch này trong nhiều tháng, nhưng chúng tôi vẫn luôn biết rằng kết quả của nó phụ thuộc vào độ chuyên nghiệp của các chiến sĩ ngoài thực địa.” Ông chỉ vào họ. “Đó chính là các bạn!”
Những tiếng cười và tiếng vỗ tay nổ ra.
“Chúng tôi có lí do để tin rằng,” Wall nói tiếp, “một tổ chức tội phạm cực kì chặt chẽ sẽ đánh cướp nơi này đêm nay.” Jackie chỉ vào bức ảnh dinh thự Lutyens được bao quanh bởi vài mẫu đất công viên.
“Chúng tôi cho là nhóm này sắp đánh cắp một bức tranh Picasso trị giá vài triệu, và cao chạy xa bay trước khi cảnh sát đến kịp. Nhưng chúng ta sẽ phục sẵn. Các bạn có thể hỏi tại sao chúng tôi lại cần tới một lực lượng lớn như vậy cho chiến dịch này, trong khi sẽ chỉ có tầm ba tới bốn tên trộm tham gia. Đó là vì chúng ta biết kẻ nào đứng sau âm mưu này, và hắn đã đánh bại chúng ta quá nhiều lần trong quá khứ. Vì thế lần này chúng tôi sẽ giáng cho hắn một đòn để khỏi nghĩ đến việc tái phạm.”
Một giây trôi qua, những tiếng vỗ tay lớn hơn nữa tiếp nối.
“Vì chiến dịch đã được lên kế hoạch đặc biệt tỉ mỉ này, tôi có thể đảm bảo với các anh chị là bọn thủ ác đã điều tra rất kĩ càng,” Lamont tiếp lời. “Chúng biết các chủ nhân của bức tranh sẽ đi nghỉ, và chúng cũng biết đồn cảnh sát gần nhất cách đó hai mươi phút, điều này khiến chúng tin rằng chúng thừa đủ thời gian để biến mất trước khi cảnh sát xuất hiện. Cấp phó của tôi, thanh tra Roycroft, giờ sẽ thông báo cho các anh chị chi tiết của Chiến dịch Thời kỳ Xanh, và vai trò của các anh chị. Thanh tra Roycroft.”
Jackie tiến một bước về phía trước, vui mừng vì được những gương mặt háo hức đến thế chào đón, tất cả đều đang trông đợi bắt được những tên tội phạm thật sự, và cụ thể là một tên.
12 GIỜ 45 PHÚT GIỜ TRUNG ÂU
Chuyến bay Alitalia hạ cánh xuống sân bay Da Vinci muộn hơn kế hoạch vài phút. Thứ đầu tiên William trông thấy khi xuống thang máy bay là Trung uý Monti đang vẫy tay bên cạnh một chiếc ô tô không có điểm nhận dạng.
William giới thiệu Hawksby với Monti, anh ta chào hỏi rồi mở cửa sau ô tô và chờ cả hai vào trong. Hawksby ngạc nhiên vì anh trung uý râu ria không cạo, miệng lại hôi mùi tỏi, nhưng ông không bình luận gì.
“Không có kiểm tra hộ chiếu, không có hải quan nào ư?” William hỏi.
“Nếu chỉ có anh thôi, William ạ,” Monti nói, “thì tôi đã gặp anh ở sảnh đến, nhưng khi chỉ huy của tôi nghe nói Chỉ huy Hawksby sẽ đi cùng anh, ông ấy đã lệnh cho tôi phải dùng mọi khả năng có thể. Tôi hi vọng mình dùng từ tiếng Anh thích hợp đấy chứ?”
“Chuẩn rồi,” William nói. “Cách nói ấy lấy cảm hứng từ việc một người chơi đàn sẽ kéo hết những chiếc ống trên nhạc cụ của mình để làm tăng âm lượng.”
“Cảm ơn cậu, cảnh sát ạ,” Hawksby nói. “Thú vị thật.”
“Đường đến Civitavecchia không dài lắm đâu,” Monti nói và tăng tốc. “Nhưng chúng ta cần phải tới đó trước Carter và Grant rất lâu. Họ đã đặt khách sạn Grand – chỉ to ở cái tên thôi.”
“Còn chúng ta thì ở đâu?” Hawksby hỏi.
“Tôi e là khách sạn của ông thậm chí còn kém to hơn thế. Nhưng nó có lợi thế là nằm bên cầu cảng, nên tôi đã đặt cho ông một phòng nhìn ra cảng.”
“Còn William?”
“Anh ấy sẽ ở cùng tôi mọi lúc. Người quản lí cảng đã báo cho tôi biết Carter thuê một chiếc tàu tìm kiếm và khám phá vùng nước nông, nhỏ nhưng trang bị đầy đủ trong bảy ngày. Rất lý tưởng cho các cuộc khám phá kho báu dưới lòng biển.”
“Tại sao lại là bảy ngày,” William hỏi, “lúc lên tàu bọn họ sẽ tìm cái gì mới được?”
“Chỉ là diễn thôi,” Monti giải thích, “mặc dù chúng tôi không thể chắc chắn có bao nhiêu thuỷ thủ trong âm mưu lừa đảo này. Nhưng chúng tôi đoán chắc phải có một thuyền trưởng và hai thợ lặn.”
“Thế chúng ta chỉ ngồi ở Civitavecchia rồi chờ họ trở về rồi mới bắt thôi à?”
“Chắc chắn là không,” Monti nói. “Tôi đã đăng kí cho cả hai ta làm thuỷ thủ trên boong rồi. Rõ ràng chúng muốn có càng nhiều nhân chứng ngây thơ càng tốt để chứng kiến phát hiện quan trọng của chúng.”
“Nhưng tiếng Ý của tôi không giỏi thế đâu,” William nhắc anh ta.
“Tôi biết,” Monti nói, “nên lúc lên đến tàu thì cứ để mình tôi nói thôi. Và tôi phải cảnh báo anh, con nước ở đó có thể nhấp nhô lắm đấy.”
“Còn tôi thì phải cảnh báo anh,” William nói, “tôi không phải thuỷ thủ giỏi gì đâu.”
12 GIỜ 21 GIỜ GMT
“Còn câu hỏi nào không?” Jackie hỏi khi trình bày xong kế hoạch.
Một bàn tay giơ lên. “Trong hai đội thì đội nào có nhiều khả năng được cần đến hơn?”
“Chúng ta chưa biết cho đến phút cuối cùng. Có hai lối ra từ trong nhà, ở đây và ở đây, xe buýt sẽ được giấu tại đó,” Jackie nói, tay chỉ vào bản đồ. “Nhưng chúng ta không thể nào biết được chúng sẽ đi theo lối nào. Nếu vì bất kì lí do gì mà chúng ta không thể chặn kịp chúng, thì đã có một chiếc trực thăng chờ sẵn.”
“Tôi phải nhấn mạnh,” Lamont chêm vào, “là trong lúc chờ đợi các anh chị không được phép nghe đài, thậm chí không được nói chuyện với nhau, vì âm thanh nhỏ nhất cũng có thể làm chúng cảnh giác. Hãy đảm bảo mình không phải là kẻ ngốc làm lũ tội phạm chạy mất.”
“Ông đoán chúng sẽ di chuyển bằng loại phương tiện nào?”
“Vì kích thước của bức tranh chúng định ăn trộm,” Lamont nói, “nhiều khả năng đó sẽ là một chiếc xe tải lớn. Chúng biết chính xác mình đang tìm cái gì, và các anh chị có thể tin chắc rằng chúng đã hoạch định đường đi nước bước của mình đến từng xăng-ti-mét. Đó là lí do vì sao chúng tôi lại cần nhiều người bao vây mục tiêu này đến thế.”
“Liệu chúng có vũ khí không ạ?”
“Chúng tôi nghĩ ít có khả năng đó,” Lamont nói. “Cướp có vũ trang sẽ bị tù chung thân, trong khi trộm cắp bình thường thì hiếm khi bị kết án quá sáu năm. Nhưng để cho an toàn, đã có một đội cảnh sát có vũ trang sẵn sàng vào vị trí, nhưng trốn kĩ.”
“Sếp có thông tin về thời điểm chúng sẽ hành động không ạ?” Một cảnh sát trẻ hỏi.
“Sẽ không hành động trước sáu giờ, và không phải là sau nửa đêm,” Lamont nói mà không giải thích gì thêm. Một khoảng lặng dài nối tiếp.
“Nếu không còn câu hỏi nào khác,” Jackie nói, “thì chúng ta cùng ăn trưa thôi. Cố nghỉ ngơi một tí chiều nay, và đảm bảo là các bạn đều đi vệ sinh trước khi lên xe buýt. Chiếc xe đầu tiên sẽ khởi hành lúc 4 giờ 10 phút chiều. Chiếc thứ hai khởi hành hai mươi phút sau đó, để tránh nhìn giống một đoàn.”
“Và một khi các anh chị đã vào vị trí,” Lamont nói, “đừng quên rằng im lặng chính là vũ khí hiệu quả nhất của chúng ta.”
14 GIỜ 8 PHÚT GIỜ TRUNG ÂU
Monti lái xe đưa William và Hawksby tới thẳng khách sạn bên bờ biển của ngài chỉ huy ở Civitavecchia, rồi tất cả cùng lên phòng mà Monti đã đặt sẵn ở tầng ba. Việc đầu tiên Hawksby làm là kiểm tra tầm nhìn từ cửa sổ. Ông có thể nhìn ra bến cảng rất rõ ràng, và không cần có ống nhòm mới canh chừng được con tàu Carter đã thuê. Monti thậm chí còn cung cấp cả một cuốn sách giới thiệu của công ty ấy bằng tiếng Anh, với bức ảnh chụp một con tàu đắm trên bìa để dụ dỗ các khách hàng tiềm năng. Thứ mà họ không ghi lại là tỉ lệ thất bại qua các năm. Nhưng đám thuỷ thủ của họ cùng lắm cũng chỉ là lũ cướp biển, trong khi khách hàng thuê tàu thì thường là những kẻ lãng mạn đang theo đuổi một giấc mơ. Chỉ trừ trường hợp này thì không.
William định tắm thì Monti bảo, “Khỏi cần. Đừng quên anh là thuỷ thủ trên boong. Chúng ta không muốn anh thơm tho như hoa huệ đâu.”
Giờ thì Hawksby đã hiểu tại sao trung uý cảnh sát không cạo râu đã mấy ngày, và lại còn bốc mùi tỏi.
Monti mở một cái rương lớn mà anh ta đã bỏ lại phòng từ trước đó và lấy ra mấy bộ quần áo dành cho vai diễn họ sắp sửa đóng: hai chiếc quần bò bạc phếch; hai chiếc áo thun không có hoạ tiết gì; hai cái áo khoác, một màu xanh một màu xám; và hai đôi giày buộc dây không hề có nhãn hiệu. Tất cả đều là đồ cũ từ bên ngoài đến bên trong.
“Hãy mong tôi đã lấy đúng cỡ cho anh,” Monti nói khi William xỏ chiếc quần bò vào.
“Thế còn tôi?”
“Ông hoàn toàn ổn, chỉ huy ạ,” Monti nói. “Nếu ông mặc nguyên si thế này đi dạo dọc cầu cảng, tất cả mọi người sẽ nghĩ ông là chủ nhân một chiếc du thuyền lớn tại đó, chứ không phải đang theo dõi lũ tội phạm.”
“Mong là thế.”
“Chúng tôi phải đi đây, thưa sếp. Chúng tôi phải lên tàu trước khi Carter tới.”
“Tôi có ai để hỗ trợ phòng khi kế hoạch của chúng thay đổi đột ngột không?”
“Ông sẽ chỉ gặp họ nếu cần đến họ,” Monti nói. “Nhưng tôi có thể đảm bảo với ông đây không phải là phòng duy nhất mà chúng tôi đã đặt trước.”
“Đáng nể thật,” Hawksby nói và chạm vào trán mình.
Sau khi Monti và William rời đi, vị chỉ huy trở về vị trí theo dõi của mình và nhìn theo hai cảnh sát trẻ lúc họ đi bộ dọc cầu cảng, lên tàu và báo cáo với đội trưởng. Ông ước gì mình trẻ lại hai mươi tuổi.
13 GIỜ 8 PHÚT GIỜ GMT
Lamont và Jackie ăn trưa cùng cả đội trong nhà ăn, những tiếng xì xào bàn tán ở đó cho thấy tất thảy đều háo hức được bắt đầu hành sự đến thế nào.
Đúng bốn giờ, sau lần báo cáo cuối cùng của thanh tra Roycroft, Lamont chia các cảnh sát trẻ tuổi thành hai nhóm, rồi đưa họ lên hai chiếc xe buýt. Cùng thời điểm đó, một đội quân vũ trang đặc biệt cũng khởi hành từ Scotland Yard với mệnh lệnh liên lạc với chánh thanh tra Lamont ngay khi họ tới được mục tiêu.
Lúc bốn giờ mười một phút, chiếc xe buýt đầu tiên rời bãi đỗ, lái lên con dốc và ra ngoài phố. Nó giữ tốc độ đều đặn, luôn luôn nằm ở làn đường phía trong, và không vượt tốc độ giới hạn một lần nào. Lúc 4 giờ 33, chiếc xe thứ hai bươn ra đường lớn, ở đó họ bị cầm chân vì những người đi làm về sớm, trong khi chính họ thì mới bắt đầu đi làm.
Lamont đã rất ngạc nhiên khi sĩ quan Wall bảo ông rằng ông ta sẽ đồng hành cùng họ trong nhiệm vụ lần này. Lamont chấp nhận rằng nếu Wall muốn thêm cấp bậc “chỉ huy” vào chức danh của mình thì Chiến dịch Thời kỳ Xanh sẽ làm đẹp hồ sơ cho ông ta. Lamont cũng phải thừa nhận, dù là chỉ với bản thân mình, rằng ý nghĩ thăng tiến cũng đã lướt qua đầu ông.
Sĩ quan Wall, Lamont và Jackie là những người cuối cùng rời đồn cảnh sát Guildford trong một chiếc xe không có dấu nhận diện. Đến lúc họ tới được mục tiêu, cả hai chiếc xe buýt đều đã vào chỗ, động cơ chờ, đèn đóm tắt hết. Hai mươi sáu người đàn ông và ba phụ nữ ngồi chờ đợi trong im lặng.
16 GIỜ 23 PHÚT GIỜ TRUNG ÂU
Sau khi cất túi ngủ của họ vào khoang nằm ở tầng dưới, hai thuỷ thủ lang bạt mới toe báo cáo nhiệm vụ trên boong chính.
“Mất bao lâu ta mới tới nơi?” Monti hỏi đội trưởng trên boong.
“Nó cách đây khoảng tám mươi hải lí, nên sẽ mất hơn tám tiếng một chút. Chúng ta sẽ nhổ neo ngay khi khách hàng và thợ lặn lên tàu. Trong lúc đó, hai người có thể giúp mang hàng lên tàu.”
William và Monti đảm bảo họ vác đủ phần việc của mình, chất lên tàu từ các sọt táo cho đến cái máy tời mới, vì rõ ràng thuyền trưởng muốn làm cho họ ra vẻ như sẽ ở trên biển ít nhất bảy ngày.
William chỉ ngừng tay khi một chiếc xe Mercedes đi lên dọc cầu tàu và hai người đàn ông bước lên boong. Anh nhận ra họ ngay lập tức. Hai thuỷ thủ nhận hành lí của họ - không nhiều lắm, William nghĩ, nếu xét đến chuyện họ đã đặt tàu hẳn một tuần. Grant vẫn còn đang ôm chặt lấy túi đồ nghề, và gã đảm bảo là hai thuỷ thủ kia không lại gần nó.
William và Monti vẫn nấp trong bóng râm để tránh tiếp xúc với hai hành khách khi họ lên tàu.
“Tôi không nghĩ sẽ có nhiều việc để làm cho đến khi chúng ta tới được địa điểm khai quật,” Monti thì thầm, “nhưng chúng ta không thể mạo hiểm được. Nên chúng ta sẽ vẫn ở lại trên boong cho đến hồi chuông thứ tám.”
18 GIỜ 22 PHÚT GIỜ GMT
“Đội vũ trang đã vào vị trí, thưa sếp,” một giọng nói vang lên trong điện đàm, nghe như tiếng sấm rền, sau vài tiếng tĩnh lặng.
“Chào mừng lên tàu,” Lamont nói. “Tiếp tục giữ sóng im lặng cho đến khi các cậu trông thấy bọn trộm đã vào trong nhà.”
“Đã hiểu, thưa sếp.”