William và Beth rời khỏi nhà cùng nhau sáng thứ Hai. Cô trợ lí quản lý tranh mới muốn đi làm sớm vào ngày đầu của mình, còn William thì cần viết bản báo cáo về chuyến đi tới Ý.
Họ chia tay nhau bên ngoài nhà ga tàu điện ngầm Nam Kensington, trước khi Beth đi bộ tiếp đến viện bảo tàng. William nghĩ về cuối tuần họ vừa trải qua bên nhau. Nó không thể tốt đẹp hơn được nữa, và giờ thì anh càng tha thiết mong Beth gặp cha mẹ mình hơn bao giờ hết. Anh đã hỏi liệu cô có thể cùng ăn trưa với họ vào ngày Chủ nhật được không nhưng một lần nữa cô từ chối anh, cô giải thích rằng mình đã hứa tới thăm một người bạn ở viện chiều hôm ấy, và cảm thấy mình không thể huỷ hẹn bất ngờ như vậy. Hay để Chủ nhật sau nhé, William gợi ý. Và rồi có điều gì bỗng ánh lên trong tâm trí anh mà lẽ ra, là một thanh tra anh phải để ý từ rất lâu trước đó. Anh sẽ kiểm tra lại các tấm bưu thiếp từ Hong Kong khi quay về căn hộ tối nay.
Khi William bước vào văn phòng, anh ngạc nhiên khi không thấy dấu hiệu gì của cả Lamont lẫn Jackie. Anh ngồi vào bàn và bắt đầu viết báo cáo, nghĩ bụng phải nhớ gọi cho Monti để cám ơn anh ta, vì nếu không có sự hỗ trợ và giúp đỡ của Monti, Carter chắc hẳn đã đổi được chỗ đồng xu ra tiền và giờ đang sống phè phỡn bằng đống tiền bẩn của mình rồi.
Lúc 8 giờ 55, William cầm hồ sơ Carter lên, đi xuống hành lang và gõ cửa phòng ngài chỉ huy. Angela vẫy tay gọi anh vào khu vực bên trong, anh thấy Lamont và Jackie đã đang ngồi tại bàn, chăm chú lắng nghe ngài chỉ huy.
Hawksby gật đầu với William khi anh chọn chỗ ngồi thường lệ cạnh Jackie.
“Tôi đã dành phần lớn thời gian cuối tuần của mình để nghe các cuộc gọi từ cảnh sát trưởng ở Surrey, và Sĩ quan cảnh sát Wall ở đồn Guildford,” Hawksby nói. “Và tôi có thể nói là cả hai đều không ngại nói thẳng. Bất lực, không chuyên nghiệp, nghiệp dư là những từ ngữ tử tế nhất. Ông cảnh sát trưởng còn đe doạ là nếu tôi không báo cáo với trợ lý uỷ viên vào trưa nay thì ông ấy sẽ tự nói. Tôi cũng không thể trách ông ta được.”
“Tôi là người có lỗi, thưa sếp,” Jackie lặng lẽ nói. “Tôi đã phụ thuộc vào nguồn tin của mình, vậy mà rốt cuộc lại bị ăn quả lừa.”
“Cùng với hai mươi sáu cảnh sát, chưa kể đến một đội vũ trang tinh nhuệ, một chiếc trực thăng phục sẵn, và một ông sĩ quan hết sức cáu tiết vì giờ có nguy cơ mất việc.”
Cả Lamont lẫn Jackie đều không biện hộ.
“Cứ như thế còn chưa đủ,” Hawksby nói, “hoá ra mục tiêu ấy chỉ là một cách đánh lạc hướng, bởi vì trong lúc các anh chị ngồi chờ bọn chúng xuất hiện, chúng đã đột nhập vào một ngôi nhà khác cách đó có vài cây số, đánh cắp một bức Renoir trị giá mấy triệu. Leigh đã biết quá rõ các vị đang nghe lén điện thoại của gã, và chỉ cần hướng các vị đi nhầm nhà, tới nơi các vị tưởng chúng sẽ đánh cắp một bức Picasso. Đừng ngạc nhiên nếu Booth Watson chuẩn bị thương thảo một món bảo hiểm kếch xù nữa cho vị thân chủ giấu mặt của lão.”
William có thể thấy Jackie đang cố gắng để kiềm chế cảm xúc.
“Tôi không đổ lỗi cho ai khác,” cô lặp lại, nhìn thẳng vào Hawksby.
Vị chỉ huy đóng tập hồ sơ lại, và William đồ rằng ông ta sẽ bỏ qua, nhưng rồi ông nói, “Tại sao cô không chịu tuân theo qui tắc cơ bản mà mọi cảnh sát đều phải học trong ngày đầu tiên ra đường làm nhiệm vụ? Không nhận gì, không tin ai và kiểm tra mọi thứ hả.” William vẫn luôn nhớ người đã nói câu ấy với anh lần đầu tiên. “Có lẽ việc thăng cấp gần đây của cô là một bước quá đà, thanh tra Roycroft ạ,” Hawksby nói tiếp. “Vài tuần làm phân luồng giao thông với cô sẽ không hại gì.” Ít nhất thì cô cũng đã đoán đúng.
Một khoảng im lặng nói tiếp, rồi bị phá vỡ khi Lamont hỏi, “Tôi hiểu là chuyến đi câu của anh sang Ý đã rất tốt đẹp.”
“Chỉ có điều như ngài uỷ viên đã chỉ ra là khi Carter bị bắt, công lao sẽ thuộc về cảnh sát Ý, chứ không phải Cảnh sát Đô thị dù chúng ta mới là người dàn xếp cả chiến dịch.”
“Nhưng nếu chúng ta tìm được bức Rembrandt đã bị mất tích, và trả nó về Fitzmolean…” William nói, cố cứu vớt đồng đội.
“Hãy hi vọng đó không phải là một thông tin giả khác,” Hawksby. “Hôm nay cậu vẫn ăn trưa cùng bà Faulkner chứ?”
“Vâng, thưa sếp. Tôi sẽ báo cáo lại với chánh thanh tra Lamont ngay khi trở về chiều nay.”
“Mike Harrison có đi cùng cậu không?” ngài chỉ huy hỏi, nghe có vẻ bình tĩnh hơn.
“Không sếp ạ. Bà ta hẹn với ông ấy trong văn phòng lúc bốn giờ chiều nay.”
“Người phụ nữ này đang âm mưu gì đó,” Lamont nói. “Chúng ta nên giả định bà ta cũng nham hiểm không kém gì chồng mình, và còn có khả năng dùng bức Rembrandt như một miếng mồi nhử chúng ta nữa, đặc biệt là nếu bà ta biết bạn gái của William làm việc tại Fitzmolean.”
“Làm sao bà ta biết được?” William hỏi.
“Cố mà nghĩ như một tên tội phạm đi, ít nhất một lần này,” Lamont quát.
“Tôi đồng ý,” Hawksby nói. “Và nếu hoá ra cả bà ta cũng đang lừa cậu, thì không phải chỉ mình thanh tra Roycroft phải đi điều khiển giao thông đâu. Nào, cùng quay lại với công việc thôi, và tôi không muốn thấy mặt ai trong các anh chị trừ khi có điều gì lạc quan để báo cáo với tôi nữa.”
Quay lại văn phòng, bầu không khí như trong một phòng giam, khi người phụ nữ bị kết án đang chờ linh mục tới đọc Bài kinh cuối cho mình.
William nhẹ cả người khi thoát được nơi đó lúc 12 giờ rưỡi để đi ăn trưa với bà Faulkner.
Anh rảo bước ngang công viên vào phố St James, vừa kịp đến nơi hẹn ăn trưa. Khi anh bước vào bên trong khách sạn Ritz, người gác cửa mặc chế phục chào anh như thể anh là một khách quen. William đã phải dừng ở quầy lễ tân hỏi xem phòng ăn nằm ở đâu.
“Cuối hành lang thưa anh. Anh không nhầm được đâu.”
Anh đi xuôi hành lang trải thảm dày, qua những cái hốc vòm nhỏ đầy người đang ngồi tán gẫu trong lúc gọi các món cocktail lạ lẫm. Anh phải đồng ý với F. Scott Fitzgerald, người giàu đúng là khác biệt thật.
“Chúc buổi sáng tốt lành, quý khách,” người phục vụ nói khi anh tới cửa nhà hàng. “Anh đã có đặt chỗ trước chưa?”
“Tôi là khách của bà Faulkner.”
Người phục vụ kiểm tra danh sách. “Phu nhân vẫn chưa đến, nhưng cho phép tôi đưa anh tới bàn của bà ấy.”
William đi theo ông ta qua phòng ăn rộng lớn, được trang hoàng lộng lẫy, tới một bàn nhìn ra Công viên Green. Trong lúc chờ đợi anh lén nhìn các vị khách khác. Điều đầu tiên khiến anh chú ý, đó là nơi đây chẳng khác nào một cuộc họp của Liên Hiệp Quốc.
Anh đứng dậy lúc trông thấy bà Faulkner đi vào phòng. Bà ta đang mặc một chiếc váy xanh lục trang nhã dài vừa quá đầu gối, cùng chiếc khăn quàng tiệp màu và đeo chiếc túi da màu nâu mà hẳn Beth sẽ mê tít. Bà ta lướt ngang phòng, khiến William biết chắc rằng, không giống như anh, đây không phải lần đầu bà tới Ritz. Bất chấp lời cảnh báo của Hawk, ngay cả anh cũng không thể cưỡng nổi phong cách và đẳng cấp của bà ta.
Trong lúc một hầu bàn kéo ghế cho bà ta, một người khác tiến lại gần.
“Tôi có thể lấy cho bà món đồ uống gì, thưa bà?”
“Chỉ một ly sâm-panh thôi, trong lúc tôi quyết định mình sẽ ăn gì.”
“Tất nhiên rồi, thưa bà,” anh ta nói trước khi lui đi.
“Tôi rất mừng vì cậu có thể ăn trưa cùng tôi, William ạ,” bà ta nói khi người hầu bàn quay trở lại và rót cho bà một ly sâm-panh. “Tôi đã e là cậu sẽ huỷ hẹn vào phút chót.”
“Tại sao tôi lại làm vậy, bà Faulkner?”
“Làm ơn gọi tôi là Christina. Bởi vì Chỉ huy Hawksby có thể cảm thấy việc này là không phù hợp, khi xét đến cái giá phải trả.”
“Bà quen chỉ huy của tôi ư?” William ngạc nhiên hỏi.
“Tôi chỉ nghe chồng tôi nói về ông ấy thôi, đó là lí do vì sao tôi lại muốn ông ấy đứng về phía mình,” bà ta nói khi người bồi bàn chính đưa họ hai tờ thực đơn.
“Tôi dùng cá hồi hun khói thôi, Charles à,” bà ta nói, thậm chí không buồn mở thực đơn. “Và có lẽ là một ly sâm-panh nữa.”
“Vâng, thưa bà.”
William đọc hàng hàng lớp lớp những món ăn không hề có chỉ dấu về giá cả của chúng.
“Còn anh, thưa anh?”
“Tôi chỉ ăn cá và khoai tây chiên thôi, Charles.” Anh không thể cưỡng lại mà nói thêm, “Và nửa vại bia nhẹ.”
Christina nén một tiếng cười.
“Vâng, thưa anh.”
“Bà có chắc là mình không muốn ăn trưa cùng Mike Harrison không?” William hỏi khi bồi bàn đã rời đi.
“Khá chắc chắn. Nếu có gì sai, tôi cần phải biết chàng kỵ binh cũng về phe tôi, chứ không chỉ một anh lính bộ quèn đã về vườn.”
“Vậy đáng lẽ ra bà nên mời Chỉ huy Hawksby đi ăn.”
“Nếu tôi mà mời,” Christina nói, “thì Miles đã biết chuyện đó trước cả khi họ phục vụ ta cà phê, rồi tôi sẽ chẳng có cơ hội nào mà thực hiện cuộc đảo chính nho nhỏ của mình cả.”
“Nhưng tại sao lại là tôi?”
“Nếu Miles được nghe kể về việc người ta trông thấy tôi ăn trưa cùng một thanh niên trẻ đẹp, ông ta sẽ đoán là chúng ta đang dan díu với nhau, vì tâm trí ông ta hoạt động theo cách đó. Và chừng nào cậu có thể thuyết phục được sếp của mình rằng tôi không phải Mata Hari, thì có nhiều khả năng Fitzmolean sẽ thu hồi được bức Rembrandt của họ, và ý tôi không phải là một bức tranh nhái đâu.”
William muốn tin bà ta, nhưng những lời của Lamont, người phụ nữ này đang âm mưu gì đó , vẫn còn luẩn quẩn trong đầu anh. “Vậy bà mong đổi lại được thứ gì?” anh hỏi.
“Như cậu chắc đã biết, chồng tôi bay sang Monte Carlo tuần trước cùng con bồ mới của lão, và tôi sẽ hướng dẫn ông Harrison thu thập đủ bằng chứng để tiến hành thủ tục li dị.”
Vậy là Jackie đã lường trước được việc đó, William nghĩ.
“Tôi cũng cần được biết lão đi những đâu cả ngày và đêm trong suốt tháng tới.”
“Tại sao việc ấy lại quan trọng đến thế?” William hỏi khi một chiếc đĩa đựng lát cá hồi hun khói thái mỏng như tờ giấy được đặt trước mặt bà ta, còn anh thì được phục vụ cá tuyết và khoai tây chiên, nhưng không phải kiểu được gói trong giấy báo.
“Tôi sắp kể đến đoạn đó đây,” Christina nói khi một người bồi bàn khác tới rót thêm sâm-panh cho bà ta, và nửa bình bia nhẹ vào chiếc cốc vại thuỷ tinh cho khách của bà.
“Nhưng đầu tiên tôi phải cho cậu biết tôi định làm gì với Miles, tôi đồ là cậu cũng căm ghét lão không kém gì tôi.”
William cố tập trung, biết rằng ngài chỉ huy sẽ muốn được nghe thuật lại chi tiết những lời bà Faulkner đã nói kể từ lúc đến cho đến lúc rời đi.
“Cậu có biết diễn viên vĩ đại Dominic Kingston chuyên đóng các vở kịch của Shakespeare không?”
“Tôi đã xem vở vua Lear của ông ta ở Nhà hát Quốc gia năm ngoái,” William nói, “Khá là phi thường.”
“Cũng không bằng được màn diễn gần đây của vợ ông ta.”
“Tôi không biết bà ta cũng là diễn viên cơ đấy.”
“Không phải diễn viên,” Christina nói, “nhưng đôi khi bà ta cũng có những màn trình diễn khiến tất cả phải ngả mũ.” William dừng ăn. “Hoá ra bà Kingston biết rõ lịch trình ở nhà hát của chồng mỗi khi ông ta diễn, chính xác tới từng phút một, và đã tận dụng điểm đó. Tôi cũng định làm y hệt. Khi Kingston diễn vở Vua Lear ở Rạp hát Quốc gia, ông ta tuân thủ một lịch trình không bao giờ thay đổi. Ông ta sẽ rời nhà ở Notting Hill quãng năm giờ chiều, ở trong phòng thay đồ tại rạp hát đến sáu giờ, thừa đủ thời gian để ông ta biến mình thành vị vua già cả trước khi bức rèm được kéo lên lúc 7 giờ 30.
Nửa đầu buổi diễn kéo dài khoảng hơn một giờ, và nửa sau sẽ hạ màn lúc khoảng 10 giờ 20. Sau khi cúi chào, Kingston sẽ quay lại phòng thay đồ, tẩy trang, tắm rửa và thay quần áo trước khi được đưa về Notting Hill, ở đó ông ta sẽ lên giường ngủ lúc khoảng 11 giờ 30. Vậy là, kể từ lúc rời khỏi nhà cho tới lúc ông ta về nhà là hơn sáu tiếng đồng hồ. Thừa đủ thời gian.”
“Thừa đủ thời gian làm gì kia?” William hỏi.
“Một buổi tối thứ Năm nọ, ngay sau sáu giờ,” Christina nói tiếp, “ba chiếc xe tải chuyển đồ đã xuất hiện bên ngoài nhà ông Kingston và rời đi năm tiếng sau đó, đến khi ấy thì từng món đồ đạc và quan trọng hơn là từng thứ trong bộ sưu tập tranh lừng danh của ông ta đều đã bị dọn sạch. Vậy là khi ông Kingston quay về nhà lúc 11 giờ 30, ông ta thấy cả cái tủ chạn nhà mình cũng đã rỗng tuếch.”
“Anh có muốn dùng thêm món đồ uống khác không ạ?” người bồi rượu hỏi.
“Không, cảm ơn anh,” William nói, vì không muốn bà ta dừng lại.
“Tôi rất cảm kích ông Kingston,” Christina nói tiếp, “bởi vì tôi định gây sự phá hoại khủng khiếp hơn nữa cho Miles, và quan trọng hơn, tôi sẽ có bảy ngày, chứ không phải chỉ bảy giờ, để thi triển thủ đoạn của mình.”
“Tại sao bà lại cần bảy ngày?” William hỏi.
“Bởi vì giống như bà Kingston, tôi biết chính xác lão đã lên kế hoạch làm gì trong tháng tới. Ngày 23 tháng Mười hai, lão đã định sẽ đá con bồ và cho cô ta tấm vé một chiều về lại Stansted, sau đó thì bay tiếp tới Melbourne để nghỉ Giáng sinh cùng vài người bạn đáng ngờ của lão. Ngày 26 tháng Mười hai, lão sẽ ngồi trong một khoang khán giả để theo dõi ngày mở màn của trận Test 32* thứ hai, vậy nên ngày sớm nhất lão có thể quay lại Monte Carlo hay Anh Quốc là 31 tháng Mười hai. Trong lúc lão mải mê theo dõi một trận cricket ở nửa bên kia bán cầu, tôi sẽ gói ghém tất tần tật những bức tranh giá trị nhất của lão ở Monte Carlo và chuyển chúng về Southampton. Sau đó tôi sẽ quay lại nước Anh và làm việc tương tự ở Limpton Hall. Đến lúc lão về nhà thì bộ sưu tập nghệ thuật quý báu của lão sẽ chỉ còn lại một bức duy nhất: bức Rembrandt nhái.”
32* Là giải đấu cricket cấp quốc gia, thường kéo dài trong nhiều ngày.
Người phục vụ bàn dọn đĩa cho họ trong lúc bồi rượu rót thêm một ly sâm-panh nữa cho bà Faulkner.
“Nhưng còn Makins thì sao? Ông ta sẽ không ngồi yên để xem bà gói ghém hết tất cả tranh của chồng bà đâu.”
“Makins sẽ nghỉ Giáng sinh với con gái và con rể ông ta ở Lake District, và sẽ không quay về trước mùng 2 tháng Một, đến lúc đó thì tôi đã ở New York, đang chuyển tranh ra khỏi căn hộ của chúng tôi ở Đại lộ số Năm. Trong số đó có vài bức Rothkos, một bức Warhol và một bức Rauschenberg tuyệt đẹp.”
“Nhưng ông ta sẽ đuổi theo bà.”
“Tôi không nghĩ vậy, bởi vì đích đến cuối cùng của tôi sẽ là một quốc gia mà ông ta là kẻ bị truy nã , và sẽ bị bắt trước cả khi bước đến quầy kiểm tra hộ chiếu. Tôi phải thú nhận, tôi có tới vài lựa chọn trong chuyện này.”
“Bà có biết từng lời mà bà vừa kể cho tôi rồi sẽ được lặp lại với Chỉ huy Hawksby chứ?”
“Tôi đã hi vọng cậu sẽ nói như thế.” Bà ta khẽ chạm vào tay William trước khi nói thêm, “tôi không biết cậu thế nào, bạn thân mến, nhưng tôi đã sẵn sàng xem thực đơn món tráng miệng rồi.”
“Sếp có nghĩ bà ta có thể đang nói dối không?” Lamont hỏi sau khi William đã kể tường tận tỉ mỉ về bữa trưa của mình với bà Faulkner.
“Có thể,” Hawksby nói, “mặc dù tôi sẽ không đặt cược vào chuyện đó. Nhưng chừng nào Mike Harrison còn đang theo dõi Faulkner, chúng ta chẳng làm được gì nhiều cho đến khi bà ta mời William đi cùng đến Monte Carlo.”
“Điều gì khiến sếp nghĩ bà ta sẽ làm vậy?” William hỏi.
“Bởi vì bức Rembrandt là quá sức với bà ta, và bà ta cũng nhận ra đó là cơ hội duy nhất để chúng ta về phe bà ta. Tôi cá rằng bà ta sẽ không liên hệ lại với cậu trong ít nhất hai tuần tới, đến lúc đó Carter chắc đã bị bắt và kí ức về cái đêm thảm hoạ ở Surrey ấy hẳn đã phai mờ đôi chút.”
Điện thoại trên bàn ngài chỉ huy đổ chuông. “Chỉ huy Hawksby nghe.”
“Xin chào ngài chỉ huy. Trung uý Monti đây. Tôi nghĩ mình nên gọi cho ngài một tiếng để cập nhật tình hình đang diễn ra ở chỗ chúng tôi.”
“Tôi rất biết ơn, trung uý,” Hawksby nói, chuyển sang điện thoại nội bộ để William nghe được cuộc nói chuyện.
“Như ngài đã biết, Carter đã nộp đơn lên Văn phòng Hải quân Ý đòi năm mươi phần trăm giá trị chỗ tiền xu, con số mà hắn đang nói với cánh báo chí là vào khoảng bảy trăm ngàn bảng.”
“Một cái giá hợp lí nếu chúng thực sự có nguồn gốc từ Madrid khoảng những năm 1649, chứ không phải là Barnstaple năm 1985.”
“Một đồng xu mẫu đã được gửi tới Viện bảo tàng Cổ vật ở Florence để giáo sư ngành tiền đúc của họ giám định. Tôi sẽ có báo cáo của ông ta trên bàn mình trong vài ngày tới.”
“Chắc chắn ông ta sẽ loại đồng tiền vì là hàng rởm,” Hawksby nói.
“Rởm?”
“Không phải đồ thật.”
“Tôi đồng ý, thưa ngài,” Monti nói. “Và ngay khi ấy, tất cả những gì tôi cần chỉ là một lệnh dẫn độ để ngài có thể bắt Carter và Grant ngay khi chúng đặt chân trở lại nước Anh.”
“Đến nay bọn chúng đang làm gì?”
“Bọn chúng ở lại khách sạn Albergo Del Senato, chờ nghe ý kiến chuyên gia.”
“Ý kiến đắt xắt ra máu,” Hawksby nói.
“Rất hợp ngữ cảnh này,” William nói thêm.
“Tôi không chắc là mình hiểu,” Monti nói.
“Vào thế kỉ mười sáu, các hoạ sĩ tranh chân dung người Ý sẽ vẽ đầu và vai anh theo số tiền thoả thuận trước, nhưng nếu anh muốn nhận bức chân dung đầy đủ thì còn phải tốn cả một món tiền lớn nữa.”
“Thú vị nhỉ,” Monti nói.
Hawksby không có vẻ quan tâm mấy. “Hãy gọi cho tôi ngay khi bản báo cáo của giáo sư tới chỗ anh.”
“Vâng, thưa ngài.”
“Cảm ơn anh, trung uý.”
“Thực ra, thưa ngài, lần tới khi tôi gọi, chắc tôi đã lên đại uý rồi.”
“Chúc mừng anh,” Hawksby nói. “Chắc chắn là anh rất xứng đáng.”
William quay về văn phòng và nhìn chằm chằm vào chồng giấy tờ trên bàn, dường như nó không bao giờ giảm bớt. Một tuần khó khăn trước mắt, nhưng ít nhất vẫn còn một cuối tuần yên tĩnh để mà trông đợi. Chỉ có một cuộc hẹn với bác sĩ để khám định kì vào thứ Bảy, một bữa trưa cùng cha mẹ vào Chủ nhật mà thôi. Beth đã hứa sẽ quay lại sau khi thăm người bạn ốm để họ kịp đi xem phim vào tối hôm đó, nhưng anh thất vọng vì cô vẫn chưa gặp gia đình mình, bởi anh cảm thấy mình không thể cầu hôn trước khi cô gặp họ. “Thế mà con bảo ta lỗi thời,” anh có thể nghe tiếng cha mình đang nói.