Đó là một nơi tôi rất muốn tránh. Nhưng vì là quán ăn tử tế duy nhất trước cổng trường nên sau cuộc họp khoa, trưởng khoa đã dẫn toàn bộ giảng viên và trợ giảng ra đó như một điều hiển nhiên. Tất cả mọi người cùng thống nhất ăn món mì tương đen. Trong ký ức mơ hồ của tôi về mì tương đen, đó là một món ăn có hương vị ngọt ngọt, bùi bùi. Trước khi phát hiện mình bị tiểu đường ở tuổi nhi đồng, có lẽ tôi đã ăn thử món đó vào lễ khai giảng cấp tiểu học. Mì tương đen chắc chắn là món ăn tôi rất thích, nhưng tôi không thể ăn nó thêm một lần nào nữa. Nếu ăn mì, cơm trắng và các thể loại bánh, lượng đường trong máu của tôi rất dễ bị tăng cao do tuyến tụy không đủ khỏe để điều hòa chúng.
Trên bàn ăn, trà nhài và thực đơn đã được bày sẵn.
" Deus ex machina ", trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là " Vị thần đến từ cỗ máy ". " Cỗ máy " trong trường hợp này ám chỉ đến chiếc cần trục giữ một vị thần trên sân khấu trong các vở kịch Hy Lạp và La Mã cổ đại. Thuật ngữ này ngụ ý cho một người hoặc vật xuất hiện, được đưa vào một cách đột ngột và bất ngờ theo cách nhân tạo hoặc giả tạo cho một tình huống khó khăn dường như không thể giải quyết được (Theo Từ điển Britannica ).
“Tôi sẽ ăn cơm chiên.”
Trưởng khoa nhìn tôi với nét mặt tiu nghỉu vì nghĩ rằng toàn khoa sẽ cùng gọi món mì tương đen.
“ Giáo sư Yoo , quán này làm mì tương đen ngon lắm. Đến nhà hàng Trung Quốc thì phải gọi mì tương đen chứ. Đó là luật!”
Mấy tuần trước, khi dùng bữa trong một quán canh xương bò hầm, trưởng khoa đã từng chan vào bát canh của tôi một ít nước củ cải muối. Hôm ấy, tôi cảm thấy hối hận vì đã không dám thẳng thắn từ chối hành động đó. Tôi định sẽ đứng dậy và đi ra khỏi chỗ nếu ông ấy nói thêm bất cứ một lời nào nữa. Đúng lúc đó, điện thoại tôi rung lên. Là mẹ. Chắc mẹ tôi sẽ than phiền về chứng đau dây thần kinh vừa tái phát, hoặc ca bài “bài ca không quên” bắt tôi đi xem mắt một ai đó cho mà xem. Nhưng trong hoàn cảnh này, cuộc điện thoại là một cái cớ để tôi rời đi.
“ Trợ giảng Kim , đừng gọi đồ cho tôi. Tôi có điện thoại gấp.”
Tôi quay sang, ghé tai thì thầm với cậu trợ giảng Woo-jae rồi nghe điện thoại.
“Con xin lỗi. Chúc mẹ ngon miệng nhé. Sao cơ? Bệnh viện ạ? Thế có chuyện gì vậy mẹ?”
Tôi lặng lẽ kéo ghế rồi đứng dậy, đẩy cửa chạy ra ngoài, có tiếng trưởng khoa chép miệng sau lưng tôi.
“Cái quái gì vậy. Mẹ bảo sao? Nhờ con đặt thuốc Lutein 1 á? Nhưng là bệnh viện nào?”
Tôi bâng quơ tiếp chuyện mẹ và gọi một suất salad tại quán cà phê đối diện với quán ăn Trung Quốc. Khi đứng chờ đóng gói, tôi hít hà mùi mì tương đen từ nhà hàng bên kia theo gió thoang thoảng đưa lại. Tôi mường tượng ra những miếng rau củ thái to xào với dầu trộn cùng tương đen đậm đà, hòa quyện cùng những sợi mì dày, luộc vừa chín tới, dai dai, bóng mượt. Một cuộc sống mà bạn không được chọn những thứ mình thích quả thực không khác gì cái mê cung nhàm chán với những ngã rẽ vô tận.
Tôi rút ví thanh toán cho bữa trưa của mình. Trong túi xách, có một chiếc túi nhỏ làm bằng vải gai phát sáng như đèn nháy khẩn cấp. Túi vải chỉ cho tôi biết có ma ở đâu đó quanh đây. Tôi ngửa cổ, nhìn vào quán ăn Trung Quốc, có đến ba, bốn con ma đang ngồi thành hàng trong đó. Họ cũng giống như tôi, đều không thể chọn những thứ mình thích.
“Này Soo-hyeon à. vẫn lái xe ban đêm cơ à? Một thanh niên còn ham ngủ sao lại làm như vậy? Ơ cái con bé này! Dù mẹ có nói mấy câu khó nghe thì đây cũng không phải cách chống đối đâu nhé.”
Một thanh niên rắn rỏi mặc áo mustang , chân đi ủng đứng trước quán ăn Trung Quốc. Những con ma thò cổ qua khe cửa, nơi đang tỏa ra mùi mì tương đen giải tán ngay lập tức. Chúng chạy trốn bằng cách leo lên cây cột điện hoặc bám vào những bánh xe đạp lăn trên đường. Người thanh niên quay lại nhìn tôi. Anh ta có đôi mắt trắng dã, hằn lên những tia máu đỏ ngầu khiến đám ma quỷ cũng phải sợ hãi. Anh ta kéo cánh cửa của nhà hàng Trung Quốc và bước vào trong. Lũ ma lại đứng tụ lại trước cửa quán. Phải chăng chúng vẫn còn luyến tiếc hương vị thơm ngon của món mì tương đen?
Cô bé bị mất tích ba năm trước tên là Da-jeong. Tôi vẫn nhớ như in ngày hôm ấy, như thể chuyện vừa xảy ra hôm qua. Sau bữa tiệc liên hoan say mèm, tôi đã bộc lộ con người tầm thường của mình. Đó là khoảng thời gian tôi đê mê với những thành tựu, từ việc được ra mắt ở tuổi còn rất trẻ đến việc trở thành tác giả của những cuốn sách bán chạy nhất. Ngồi giữa đám học trò vây quanh, tôi huyên thuyên về những ấn bản văn học và liên tục cụng ly chúc mừng. Người duy nhất không say đêm đó là Da-jeong. Cô bé viết tốt và luôn đạt điểm cao, nhưng lại có tính cách nhạy cảm và trầm lặng. Ngày hôm đó, tôi đã nói những điều không nên nói với Da-jeong.
“Ahn Da-jeong, em uống một ly thì chết hay sao? Những người gắn bó cả đời với các câu văn phải biết uống một chút, phải có kinh nghiệm yêu đương và cô đơn đến chết trước khi sở hữu một cuốn tiểu thuyết trong tay.”
Tôi lấy ra một cái chén, đặt trước mặt Da-jeong và rót đầy rượu soju.
“Thưa giáo sư, thực sự em không biết uống ạ.”
Tôi ấn chén soju vào tay Da-jeong.
“Làm gì có chuyện đó. Bác sĩ vẫn nói tôi không được rượu bia gì vì mắc tiểu đường type 1. Chắc em nghe lời bố mẹ lắm nhỉ? Mà nếu thế thì khó trở thành nhà văn lắm.”
Tuy biết bệnh từ hai mươi năm trước, nhưng tôi vẫn không thể kiểm soát được bản thân.
“Em không còn bố mẹ ạ. Nhưng càng chỉ có một mình, càng phải cẩn thận hơn mà cô.”
Trong phút chốc, một sự im lặng ngượng ngùng bao trùm.
“À ha, hóa ra Da-jeong của chúng ta là trẻ mồ côi. Đó là một lợi thế rất lớn của một nghệ sĩ. Trong em đã có một vực thẳm cô độc mà dù khao khát, tôi cũng không có được. Tiểu thuyết gia tương lai, hãy nâng cốc với tôi nào! Nếu em không uống, tôi sẽ trừ điểm của em đấy!”
Phá vỡ sự im lặng, tôi kéo tay Da-jeong và chạm chén. Hôm đó, cô bé đã say đến mức không làm chủ được bản thân, còn tôi thì đứng dậy về trước một cách vô trách nhiệm. Tận sáng sớm hai hôm sau, tôi mới đọc được tin nhắn của Da-jeong.
“Thưa giáo sư, có lẽ mai em không thể tới trường được ạ. Em quá cô đơn nên chắc phải đi theo một cái gì đó.”
Vào 3 giờ sáng, vì quá cô đơn nên Da-jeong đã đi cùng ai đó. Và rồi cho đến tận bây giờ cô học trò vẫn chưa quay trở về. Tôi có thể biết Da-jeong đã tự kết thúc cuộc đời của mình ở đâu. Đó không phải là nhờ giác quan thứ sáu hay khả năng ngoại cảm. Đó là kết luận dựa trên những giả thuyết về phản ứng cuộc sống của Da-jeong trước vô số câu hỏi của cảnh sát, cũng như số liệu thống kê về người mất tích theo từng thời kỳ.
Tôi đã chuyển hướng sang đi tìm xác của Da-jeong. Tôi đến các nhà xác trên khắp cả nước và kiểm tra những thi thể không có người nhận. Nhưng thật hiếm có xác một cô gái tuổi đôi mươi, độ tuổi hoa mộng của đời người. Tôi thậm chí còn ra tận đảo Jeju, hay vùng Masan, Wonju khi nghe có trường hợp được miêu tả tương tự cô gái. Mỗi lúc như vậy, trong tôi lại dâng lên một cảm xúc mâu thuẫn khó tả. Tôi vừa mong đó không phải là Da-jeong, vừa mong có thể gặp lại cô bé. Thế rồi, một người tôi gặp trong hành trình kiếm tìm cô học trò đã dẫn tôi vào con đường này.
Đó là một hành lang lạnh lẽo trong nhà xác ở Daejeon. Người nữ tu tay run run cầm tràng hạt đứng dựa lưng vào tường. Thoạt nhìn, người phụ nữ có gương mặt trạc tuổi tôi. Bằng tất cả sự thành kính, tôi cúi đầu và bước nhanh qua bà. Trong phút chốc, một mùi hương nồng nặc xộc vào mũi và xâm chiếm toàn bộ không gian hành lang. Không có lý nào sư cô lại thắp hương trong này. Tôi đoán có lẽ mùi hương từ khu tang lễ ở tầng khác lan tới.
“Cô... hãy nhìn tôi này!”
Sư cô nắm lấy gấu áo tôi. Giật mình, tôi quay lại nhìn.
Người phụ nữ cao hơn tôi một gang tay, gương mặt gầy guộc với xương má nhô cao.
“Cô đang tìm ai đó phải không?”
“Cái đó làm sao mà...”
“Tôi đã từng thấy cô ở nhà xác khác. Tôi có cái này cho cô. Giờ nó không còn cần thiết với tôi nữa.”
Sư cô lấy từ trong túi ra một gói nhỏ đưa cho tôi.
“Thì ra mùi hương tỏa ra từ đây.”
Giờ thì tôi đã biết mùi hương ấy từ đâu.
“Trước đây, một cụ bà tôi gặp trong nhà xác đã đưa nó cho tôi. Nhờ nó mà tôi tìm được người cần tìm. Giờ thì cô hãy cầm lấy nó.”
“Sư cô nói có thể tìm thấy người bằng mùi hương sao?”
Thật khó để tin vào lời nói của nhà tu nữ.
“Có lẽ đây không phải là lời một người theo đạo sẽ nói. Nhưng nếu cầm theo vật này, cô có thể nhìn thấy ma. Cô sẽ không thể tìm thấy một người không được tin là còn sống giữa những người đang sống, chính vì thế mà tôi đã hỏi ma quỷ, rằng người tôi tìm kiếm đang ở đâu?”
Tuy lời nói ấy rất cụ thể nhưng tôi vẫn thấy thật hoang đường và khó tin.
“Có thật là chúng sẽ trả lời nếu ta hỏi không?”
Nên tôi đã dùng nó và hôm nay đã tìm ra đứa bé. Ngay cả ma quỷ cũng đã dạy cho tôi rằng ta có thể thoát khỏi thế giới này với ân sủng của Đấng Bề Trên.
Từ chiếc túi vải, có ánh sáng xanh lục le lói phát ra.
“Chẳng hay, trong đó có gì vậy ạ?”
“Tôi nghe nói là tuyến xạ của con hươu xạ xanh, một đồ vật vô cùng quý hiếm nên cô tuyệt đối không được cho người khác mượn. Chỉ mình cô biết thôi. Để có được câu trả lời từ những hồn ma, cô phải lắng nghe những điều họ muốn, cô chỉ cần nhớ vậy thôi...”
Đôi mắt của sư cô lại đỏ hoe. Cô ấy mắc tội gì, đã mất ai mà phải lang thang, mòn mỏi kiếm tìm trong các nhà xác đến mức thân thể hao gầy. Tôi siết chặt chiếc túi lấp lánh trong tay. Ngay sau đó, các linh hồn trong những bộ quần áo rách rưới lần lượt xuất hiện, đầy cả hành lang nhà xác. Tôi nhìn thấy bên cạnh nữ tu có một cậu bé chừng mười tuổi. Dù trang phục trên người rất xộc xệch, nhưng cậu bé vẫn tươi cười và vòng tay ôm eo nữ tu rồi nói.
“Sư cô ơi, con bảo. Con sẽ không về với bố mẹ đẻ nữa đâu. Họ mà nhìn thấy con chắc sẽ lên cơn thịnh nộ mất. Mà đằng nào họ cũng biết rằng con đã chết rồi.”
Sư cô nhún vai buồn bã.
*
Tôi xóa bảng trong lúc giảng bài. Một cậu sinh viên đã ngủ gật suốt buổi học bỗng giật mình thức giấc rồi lấy tay che miệng ngáp. Tôi viết một chữ “Tuyết” lên bảng.
“Đọng lại ở phần kết của tác phẩm chúng ta học ngày hôm nay chính là hình ảnh của “tuyết”. Trong văn học, “tuyết” tượng trưng cho sự khó khăn, thử thách, nhưng ở đây, nó được dùng với ý nghĩa thanh tẩy. Tác giả đã để nhân vật chính thanh lọc tâm hồn mình bằng hình ảnh của “tuyết”, đồng thời cũng hé lộ cho người đọc về sự trưởng thành của nhân vật trong tương lai. Nào... các em có câu hỏi gì không?”
Không có sinh viên nào đặt câu hỏi. Một bài giảng kéo dài suốt 3 tiếng đồng hồ đã làm cho cả giảng viên và sinh viên mệt mỏi.
“Nếu các em không có thắc mắc gì thêm, buổi học của chúng ta sẽ kết thúc tại đây. Tuần sau là thi cuối kỳ, các em nhớ đến đúng giờ.”
Hết giờ, mấy cô cậu sinh viên đi muộn xúm lại bên tôi để điểm danh, số đi làm thêm buổi tối nhanh chóng ùa ra cửa lớp, còn vài em ngồi nán lại chỗ thì thầm nói chuyện.
“Thưa giáo sư!”
Khi tôi rời khỏi lớp học, Jo Ye-seul với bộ tóc dài và thẳng, chỉ có hai bên tóc mái đã tẩy trắng trông như râu của loài bướm, tiến về phía tôi.
“Ừ, có chuyện gì thế, Ye-seul?”
Cô gái trẻ trung chớm hai mươi tuổi với làn da trong suốt và đôi môi mọng như một trái mơ chín. Dưới hàng lông mi rậm và dày là cặp đồng tử linh hoạt, cô bé sâu sắc như một nhà hiền triết lớn tuổi.
“Chai nước muối này...”
“Hả?”
Ngay khi tôi định hỏi lại, Ye-seul rút từ trong túi ra một gói muối.
“Cái này là gì?”
“Là muối hạt ạ. Tại em cũng thỉnh thoảng cần dùng nên mang theo người, cô pha vào nước, ngậm một lúc rồi nhổ bỏ là được ạ.”
Ye-seul bình tĩnh, giả vờ súc miệng.
“Nhưng tại sao lại phải làm thế?”
“Không phải cô bị đau vai sao ạ?”
“Cũng hơi hơi.”
“Giờ giải thích thì phức tạp lắm ạ. Cô cứ thử xem sao, với em thì có tác dụng ạ.”
Ye-seul đưa cho tôi một gói muối hạt. Sau khi cúi chào, cô bé chạy nhanh xuống cầu thang, mái tóc phía sau bồng bềnh, đen nhánh. Nhìn theo chiếc đế giày màu đen và dải ruy băng treo lủng lẳng phía sau ba lô của cô bé, tôi khẽ thì thầm.
“Chắc em có khả năng nhìn thấy cái gì đó đúng không?”
Có những người có thể nhìn thấy ma ngay cả khi họ không mang túi hương. Đó là điều bình thường nếu là các pháp sư được thần linh mách bảo, nhưng đôi khi một người bình thường có đôi mắt tâm linh rộng mở cũng có khả năng đó. Không biết là Ye-seul có thể gặp gỡ và giao tiếp với các linh hồn theo một cách kỳ lạ nào đó hay không?
“Giáo sư, cô đang chuẩn bị về nhà ạ?”
Tôi gặp Woo-jae khi đang trên đường ra bãi đỗ xe từ phòng nghiên cứu. Quả thực, đã hết giờ làm việc, với chiếc cằm nhẵn nhụi, không một sợi râu, vai áo thẳng thớm, gương mặt tuấn tú toát lên vẻ phong lưu, cậu trai trẻ còn đẹp hơn cả một bài thơ. Woo-jae theo học chuyên ngành Dân tộc học ở khoa sau đại học, thỉnh thoảng cậu có làm thơ. Cậu đã từng có bài đăng trên báo địa phương, nhưng vì không có yêu cầu bản quyền, nên cậu đang định cho đăng một lần nữa.
“Trời trở lạnh đột ngột quá. Cậu lên xe tôi chở một đoạn. Lát tôi cho cậu xuống trước cổng trường là được chứ gì?”
“Cảm ơn giáo sư ạ.”
“Chờ tôi hút điếu thuốc đã.”
Tôi tháo túi đeo, đi vào trong khu vực hút thuốc trước bãi đỗ xe. Woo-jae theo sau tôi vài bước, nhìn tôi với vẻ mặt ngại ngùng.
“Trợ giảng Kim không hút thuốc à?”
“Em cũng không biết uống rượu mà giáo sư. Em có nhận làm thêm hướng dẫn cho sinh viên năm nhất và cùng đi uống rượu, thế mà bị gục ngay sau khi uống chén soju đầu tiên, khi đó em bị trêu quá trời ạ.”
“À, sinh viên năm thứ nhất có cả Jo Ye-seul đúng không nhỉ?”
Có thể Woo-jae biết Ye-seul nhiều hơn tôi.
“Dạ. Em có biết Jo Ye-seul ạ.”
“Cậu thấy cô bé thế nào?”
“Ye-seul đi học rất chăm chỉ và cũng lễ phép nữa ạ.”
“Nhà cô bé ở Seoul à?”
“Dạ không, cậu ấy ở nhà trọ. Giáo sư có nhìn thấy tòa Kositel không?”
Theo hướng tay Woo-jae chỉ, tôi nhìn thấy một tòa nhà nằm đối diện với khu nghiên cứu.
“Cô bé sống ở đó à?”
“Vâng, cậu ấy làm quản lý cho phòng đọc sách và dùng luôn một phòng trong đó. Bố mẹ cậu ấy mất cả rồi nên chắc cuộc sống cũng khó khăn ạ.”
Tôi hút vài hơi thuốc, mắt nhìn về phía tòa Kositel lác đác lên đèn. Tôi dụi điếu thuốc lá và xé bao đựng thuốc.
“Cô phải dùng thuốc ạ?”
Woo-jae lên tiếng hỏi.
“Cũng gần như là vậy.”
Sau khi cho vài hạt muối vào miệng, tôi lấy chai nước lọc trong túi đeo, tu một ngụm và súc miệng. Woo-jae nghiêng đầu mỉm cười.
“Trông như một nghi lễ của pháp sư vậy ạ.”
“Trợ giảng Kim, cậu tinh ý đấy.”
Cơn đau vai đã không quay lại suốt cả buổi chiều nay.
“Có vẻ là thế thật ạ. Em đã đọc tác phẩm Taxi đêm trăng trên một tạp chí xuất bản hàng quý vào năm ngoái. Đó là câu chuyện kể về một chiếc taxi vẫn chở ma quỷ vào ban đêm. Em đã từng nghĩ, không biết đó có phải là một tác phẩm tự truyện của giáo sư hay không, có đúng là cô từng nhìn thấy ma quỷ không ạ?”
Tôi để Woo-jae ngồi ở ghế trước và khởi động xe.
“Tuy tác giả và tác phẩm là hai khái niệm riêng biệt, nhưng chưa bao giờ tôi thấy tác giả hoàn toàn tách biệt so với tác phẩm.”
Tôi không muốn giải thích thêm, cậu ấy vốn là một người tinh ý nên trong những lúc thế này, tôi hy vọng cậu ấy ngừng tò mò. Tôi bật sưởi ghế, lấy túi hương ra, treo lên gương chiếu hậu.
“Quả đúng là có cái gì đó. Kỳ này em đang tìm tài liệu cho việc nghiên cứu thần thoại và thấy rằng, mấy túi vải như thế này thường hay được dùng trong các nghi lễ của thầy cúng.”
“Đây là túi hương. Nghe bảo trong đó có xạ của một con hươu xạ xanh.”
“Em có ngửi thấy mùi gì đâu ạ. Mà có hươu xạ xanh thật ạ?”
Túi hương chỉ hoạt động với người đang thực sự tìm kiếm ai đó.
“Tôi cũng có tìm hiểu một chút. Thầy bảo trên đời chỉ có một con. Không ai biết nó ăn gì và sống thế nào. Có thể đó chỉ là một câu chuyện thần thoại. Mà tôi cũng chưa từng mở ra xem bên trong có gì.”
“À, à... Nhưng sao giáo sư lại có cái túi này ạ?”
“Chuyện đó tôi sẽ nói sau. Duyên số kể ra cũng thật dài.”
Tôi bắt đầu lái xe. Câu chuyện về con hươu xạ xanh cũng chấm dứt. Nếu không phải là Woo-jae, mà bất cứ ai khác tôi cũng sẽ bí mật vậy thôi, vì tôi đã được dặn không nên nói gì về con hươu ấy, rằng trên đời chỉ còn một con và giờ đây nó đã hoàn toàn biến mất.
Tôi lái xe qua bốn ngã tư và dừng trước tòa nhà sau đại học nơi Woo-jae nghiên cứu. Cậu trai trẻ cười lịch thiệp, đưa tay vẫy vẫy, tôi lái xe vào trung tâm thành phố. Tuy phải đi về hướng xa nhà, nhưng đó là một trong những công việc hằng ngày mà dù mệt mỏi mấy tôi cũng không thể trốn tránh.
■ Khi lái xe nhập vào quốc lộ ven đô, hàng quán và chung cư cũng thưa thớt dần. Trời chỉ mới chớm đông, nhưng màn đêm đã sớm buông xuống, chưa đến chín giờ mà cả khu vực ngoại ô đã trở nên tĩnh lặng. Tôi vừa lái xe, vừa thỉnh thoảng đưa mắt nhìn túi hương nhưng vẫn chưa nhận được bất cứ tín hiệu nào. Khi đang phân vân nên ăn gì lót dạ hay tiếp tục lái xe thêm một đoạn, thì trước mũi xe tôi, một chiếc xe buýt làng đang đỗ lại. Bỗng nhiên, một mùi hương nồng nồng, dìu dịu tỏa ra, nhanh chóng tràn ngập bên trong ô tô và luồng sáng như ánh đèn vàng hiu hắt lọt qua những sợi chỉ đan thưa của chiếc túi vải bố. Đó là tín hiệu tôi phải dừng xe.
Tôi đỗ xe bên vệ đường và nháy đèn tín hiệu, đứng chờ vị khách của ngày hôm nay. Dù đã làm việc này được một năm, nhưng mỗi giây phút qua đi vẫn khiến tôi hồi hộp. Tôi nhỏ vài giọt nước mắt nhân tạo vào đôi mắt đã trở nên khô ran và đổi tay lái. Có người gõ cửa sau.
“Mình có chạy xe không ạ?”
Đó là một chàng thanh niên trẻ mặc áo phông trắng, khoác áo cardigan xanh lam và đeo một chiếc túi chéo, gương mặt rất quen. Tôi đã cố nhớ xem cậu là ai trong số các học trò của mình, nhưng trong đầu không nảy ra một cái tên nào cả.
“Vâng, tất nhiên rồi. Mời cậu lên xe.”
Nghe câu trả lời, cậu thanh niên lộ vẻ vui mừng thấy rõ, mở cửa sau và ngồi vào trong xe.
“Cháu cứ sợ không bắt được taxi thì không biết về nhà kiểu gì ạ. Cảm ơn cô nhiều.”
Cậu thanh niên trông vào độ hai mươi đến hai mươi hai tuổi, tháo kính ra lau và chào tôi với thái độ nồng nhiệt.
“Nào, tôi sẽ đưa cậu về đâu nhỉ?”
Tôi hỏi trong khi chuẩn bị gõ điểm đến trên bản đồ điện tử.
“Khu Taehwa Yeonlip, gần trạm bơm nước mưa phường Ga-ryeon ạ.”
Tôi gõ địa chỉ “Taehwa Yeonlip, gần trạm bơm nước mưa phường Ga-ryeon” nhưng không cho ra kết quả. Trên bản đồ không hiển thị khu dân cư nào gần trạm bơm nước mưa phường Ga-ryeon.
“Cậu đợi cho một chút.”
Tôi gõ các từ khóa “Taehwa Yeonlip” và “trạm bơm nước mưa phường Ga-ryeon” trên điện thoại và tìm kiếm. Nhưng màn hình chỉ hiện ra các bài báo liên quan đến vụ hỏa hoạn tại Taehwa Yeonlip vào năm 2006. Người cha quá đau lòng vì nhà máy phá sản và sự mất tích của con trai, đã phóng hỏa tự sát, kéo theo cái chết của vợ. Người còn sống duy nhất là cậu con trai. Sự kiện đau lòng như giọt nước tràn ly, người ta quyết định giải tỏa toàn bộ khu Taehwa Yeonlip đã xuống cấp.
“Cô lái xe ơi, cái máy cô gắn trên xe có màn hình trông giống với màn hình máy tính cô nhỉ? Nhìn lạ thật đấy ạ.”
Cậu thanh niên có lẽ đã chết mười lăm năm trước. Tôi nhất thời chưa biết phải làm gì. Nếu không đưa cậu đến đích, linh hồn cậu sẽ mãi mãi không thể thoát khỏi xe tôi. Nghĩ vậy, tôi nhẹ nhàng đạp ga. Chiếc xe xuyên qua màn đêm dày đặc, tiến về phía trước.
“Tôi đi nhé!”
Ngay cả khi khu Taehwa Yeonlip không còn nữa, nhưng biết đâu, khi đến đó, cậu thanh niên có thể gặp được điều đang đợi cậu. Đêm nay, cậu ấy là khách của tôi, và tôi đã quyết định trở thành một người tài xế tin cậy của cậu, vì thế, tôi không còn cách nào khác là chạy về nơi đó. Nếu cậu thanh niên còn sống, có lẽ giờ đây, cậu ấy cũng trạc tuổi tôi. Cậu ra đi trong lúc cả nước gặp khủng hoảng kinh tế, khi những bậc làm cha làm mẹ chỉ biết gửi con vào quân đội, sinh viên thất nghiệp tuyệt vọng ngồi trong các văn phòng công ty đa cấp và mơ về một tương lai xa xôi.
“Cậu đã xong nghĩa vụ quân sự chưa?”
Tôi không rõ cậu ta ngồi ở bên nào.
“Cháu đã đăng ký, nhưng danh sách đợi dài quá nên cũng chưa biết khi nào mới được đi ạ.”
Người khác không thể nhìn thấy hình dáng cậu trai trẻ đang chăm chú phóng tầm mắt ra xa khỏi ô cửa sổ. Thoạt trông, xe tôi cũng như bao chiếc sedan màu đen bình thường khác, nhưng khi treo túi hương lên, xe của tôi sẽ trở thành taxi trong mắt những hồn ma. Những “vị khách” trên xe của tôi, mỗi người đều có hoàn cảnh khác nhau, đều chưa thể siêu thoát để sang thế giới bên kia. Chủ yếu họ là những người bị chết một cách oan khuất hay có trường hợp là nạn nhân trong các vụ phạm tội, nên đã rất lâu rồi tôi mới gặp một linh hồn trẻ trung và mạnh khỏe thế này. Khi xe tôi chỉ còn cách trạm bơm nước mưa phường Ga-ryeon khoảng ba cây số, thời gian cũng nhích dần về nửa đêm. Mưa bụi bay bay.
“Cậu có nhớ con đường này không?”
Tôi vừa hỏi vừa xoay vô lăng theo hệ thống định vị.
“Hình như là thứ bảy nên các nhà xưởng đóng cửa. Đi thẳng đường này sẽ gặp một nhà máy mài inox ạ.”
Đó là một khu nghèo nhất thành phố. Tuy có tổ hợp nhà xưởng nhưng đã xuống cấp từ lâu. Nếu không có đèn đường hai bên, tôi sẽ tin đó có thể là một khu nghĩa trang hoang vắng.
“Có gì đó khang khác cô ơi.”
Cậu thanh niên nói với tôi bằng vẻ mặt lo lắng.
“Có gì khác cơ?”
“Con đường này này. Lẽ ra chỉ có hai làn thôi chứ ạ. Với lại hai bên đường phải có nhà máy nữa. Thế mà giờ nó đã thành đường bốn làn xe. Mới sáng nay cháu có thấy cửa hàng này đâu, cả mấy tòa nhà kia nữa.”
Tôi có nên nói cho cậu ta biết sự thật không? Dù không nói, tôi cũng chẳng mất gì. Nói một cách chính xác, tôi chỉ là một tài xế taxi không hơn không kém. Người ta nói rằng, nếu bạn đưa một hồn ma đi lạc đến đích, linh hồn ấy sẽ xuất hiện trong giấc mơ của người nhà bạn vào đêm hôm đó và chuyển những thông điệp mà họ muốn trao gửi bấy lâu nay.
“Ở đây là phải nhìn thấy nhà cháu rồi chứ. Vậy mà chẳng có gì cả. Cô ơi. Ngày hôm nay đã xảy ra chuyện gì thế ạ?”
Tôi băn khoăn không biết có nên nói với chàng trai hay không, vì khác với những linh hồn khác, đích đến của cậu đã biến mất, đó là một trường hợp rất không may. Nếu cứ để cậu ấy xuống, linh hồn cậu ấy sẽ lại phải chôn chân trên một vùng đất mới. Một linh hồn lang thang quá lâu, trong lòng chất chồng oán hận, cuối cùng có thể trở thành ác quỷ.
“Quý khách, sự thật là...”
Tôi đã quen với những tình huống thế này, vậy mà thẳm sâu trong tim tôi vẫn thấy vô cùng khó xử.
“Có vẻ như thực sự là cháu đã chết rồi thì phải. Người ta nói đúng rồi.”
Cậu thanh niên bất ngờ lên tiếng, cậu ấy biết rằng mình đã chết. Qua tấm gương chiếu hậu, tôi nhìn thấy mặt cậu thanh niên lạnh ngắt như mặt trăng.
“Ai nói với cậu như thế?”
“Có mấy người cùng đón taxi với cháu. Họ bảo rằng, chúng cháu đều là những người chết không tìm thấy xác nên được quy vào trường hợp mất tích. Khi đó, cháu không tin, vì cháu vẫn còn cảm thấy đói bụng, buồn tiểu hay đau chân như bình thường. Nhưng bây giờ nghĩ lại, cháu không còn ký ức về việc ăn uống, cũng không đi vệ sinh, mọi cảm giác thèm ăn cũng biến mất.”
Giọng nói của chàng thanh niên bình tĩnh hơn tôi tưởng. Cậu đưa hai tay lên lau khô khuôn mặt. Sau đó, từ lỗ tai và mũi của cậu bắt đầu chảy ra những dòng đất đỏ lỏng bỏng. Đó là hiện tượng thường thấy ở những hồn ma chôn xác dưới đất mà không có quan tài.
“Những người nói điều đó cho cậu biết giờ đi đâu cả rồi?”
“Họ lên những chiếc taxi khác rồi ạ.”
Không thể có chiếc taxi nào khác được. Trên thế giới này chỉ có một túi hương từ xạ của con hươu xanh mà tôi đang mang theo đây. Miệng tôi khô khốc vì cảm giác đáng ngại như một dòng điện chạy dọc xương sống.
“Cậu có nhìn thấy tài xế taxi đó không?”
“Có ạ, nhưng nhìn không giống một người bình thường như cô. Đó cũng là một người đàn ông, nhưng mặc áo hoodie đen, đeo kính râm ngay cả khi trời tối và trên mặt còn xăm hình con rắn nữa ạ.”
Một người có thể chở ma mà không cần có túi hương như tôi chắc hẳn phải có sức mạnh tâm linh rất lớn, hoặc không phải là người thường, mà cũng là ma. Tôi vẫn còn một câu hỏi cuối cùng. Tôi tìm hình của Da-jeong lưu trong điện thoại, đưa ra trước mặt cậu thanh niên.
“Cô ấy tên là Ahn Da-jeong, hai mươi tuổi, cậu đã từng gặp chưa?”
Cậu thanh niên lắc đầu.
“Giờ cháu cảm thấy rất hỗn loạn nên không nhớ ra điều gì cả.”
Tôi miễn cưỡng nở một nụ cười với cậu và hơi hạ tấm cửa kính ô tô. Từng hạt mưa lạnh lẽo rơi trên mặt. Tôi quyết định thực hiện bổn phận của mình và sẽ suy nghĩ về nó. Tôi nhìn thấy một bãi đất trống tối tăm ở phía trước, cậu thanh niên cắn chặt môi dưới, thẫn thờ nhìn vào khoảng không, có vẻ như đây vốn là Taehwa Yeonlip ngày xưa.
“Đúng là đã biến mất thật rồi ạ.”
Tôi dừng xe, bật đèn pha chiếu sáng khoảng đất trống. Trên vị trí của Taehwa Yeonlip ngày xưa, giờ đây chỉ có những bụi cây và một chiếc xe tải đóng gói cũ kỹ.
“Tôi chỉ có thể chở cậu đến một nơi duy nhất thôi. Giờ là lúc phải xuống xe rồi.”
Cậu thanh niên dở khóc dở cười.
“Cháu biết mình đã chết. Nhưng nhà của cháu, nó phải còn ở đó chứ? Tại sao lại biến mất thế này?”
Ghế lái của tôi phủ đầy những hạt mưa tuyết lấp lánh ánh bạc. Tôi mong chàng thanh niên nhanh chóng kiểm soát được cảm xúc của mình và xuống xe.
“Tên cậu là gì?”
“Lee Soo-hyeok ạ.”
“Cậu Soo-hyeok này. Mười lăm năm trôi qua, có biết bao nhiêu thay đổi. Cậu hãy biết chấp nhận và chờ đợi, ánh sáng sẽ soi đường chỉ lối cho cậu. Chỉ như vậy cậu mới được thanh thản. Lời khuyên của tôi dành cho cậu chỉ có vậy thôi.”
Tôi thẫn thờ nhìn ra cửa sổ, chờ đợi Soo-hyeok đưa ra quyết định. Một chấm đỏ tỏa sáng trong màn đêm đen dày đặc. Đó là chấm lửa từ một điếu thuốc lá. Làn khói tan đi như một tiếng thở dài, và chấm đỏ lại lóe lên. Một bóng đen tối hơn cả màn
Đêm đang chuyển động. Đó là một người đàn ông dáng vóc to lớn, theo sau là một người đàn ông cầm điếu thuốc, tiến lại nói với chàng trai trẻ.
“Ai đấy?”
“Anh trai phải không?”
Tôi cảm thấy, cuối cùng mình cũng xong nhiệm vụ. Anh em nhà họ đã tìm thấy nhau. Soo-hyeok mở cửa sau và bước xuống. Người đàn ông ném điếu thuốc xuống đất và dùng chân dụi dụi, bước về phía trước mặt Soo-hyeok.
“Ừ, là anh đây.”
Người đàn ông đã chờ đợi em mình bao lâu nay. Mong ngóng đó hẳn phải mãnh liệt lắm mới có thể nhìn thấy người em, dù giờ đây cậu ấy đã trở thành ma. Hình ảnh của Soo-hyeok đã mờ dần trong gương chiếu hậu, loạng choạng bước về phía người anh đang chờ mình trên mảnh đất trống.
Ye-seul mặc váy dài, khoác áo khoác và đeo túi Kangol mang một hộp có ba chiếc bánh macaron vào phòng nghiên cứu của tôi.
“Giáo sư tìm em ạ?”
Tôi đã nhờ Woo-jae gọi Ye-seul đến đây.
“Em đến đúng lúc lắm. Cô có chút thắc mắc...”
Tôi rót nước nóng, pha một chén trà ô long, đặt xuống trước mặt Ye-seul và ngồi đối diện cô bé. Cô sinh viên nghiêng đầu, hít một hơi thật sâu.
“Giáo sư gọi em vì bài tập ạ?”
Ye-seul tròn mắt, ngạc nhiên nhìn tôi, đôi đồng tử đen long lanh như một cái giếng sâu ẩn dưới hàng mi dài.
“Không, chỉ là vài câu hỏi cá nhân.”
“Và chắc cô sẽ hỏi về tâm linh phải không ạ?”
Đúng là một cô bé thông minh.
“Phải đấy.”
“Hôm qua em thấy trên vai cô có rất nhiều ma. Nếu cứ để như vậy, cô sẽ bị đau mỏi vai và cũng dễ gặp ác mộng.”
Ye-seul không ngần ngại nói thẳng với tôi.
“Sao em biết điều đó?”
“Mẹ của em là một pháp sư. Bà ngoại và cả bà cô ngoại của em cũng thế. Em cố gắng tránh càng nhiều càng tốt, nhưng dù sao mắt em vẫn nhìn, tai em vẫn nghe thấy âm thanh của ma quỷ.”
Ye-seul cố gắng hít sâu trong khi nói chuyện, cô bé dường như đang tìm kiếm một mùi gì đó. Có thể là một mùi hương người bình thường không thể ngửi thấy. Chiếc túi hương tôi vẫn treo trong xe. Có thể Ye-seul đủ nhạy cảm để phát hiện ra mùi của nó còn vương trên người tôi.
“Trong phòng này còn có ai khác ngoài em và tôi hay sao?”
Nghe tôi hỏi, Ye-seul bèn đếm ngón tay và gật đầu.
“Có rất nhiều tư niệm thể ở quanh đây ạ.”
Khi ai đó đến và đi, họ luôn để lại một trường năng lượng.
“Và ở đây cũng có một con ma ạ.”
Vì tôi để túi hương trên xe, nên tôi không thể nhìn thấy ma như Ye-seul nói.
“Trông nó thế nào?”
“Anh ấy mặc một chiếc áo phông trắng, khoác áo cardigan xanh lam, đeo kính, cô có nhớ ra ai không ạ?”
Là Soo-hyeok, người tôi thả xuống bãi đất trống đêm qua. Những tưởng cậu ta đã gặp anh trai mình để giải oan và siêu thoát sang thế giới bên kia, ngờ đâu giờ vẫn còn đi theo tôi.
“Chắc cô có biết. Cậu ấy có nói gì không?”
Nghe tôi hỏi, Ye-seul đứng dậy, nhìn chằm chằm vào ngăn trên cùng tủ sách của tôi.
“Người đàn ông... xăm hình rắn.”
Tôi nhớ lại người pháp sư xăm hình rắn trên mặt trong câu chuyện Soo-hyeok kể đêm qua.
“Anh ta làm sao? Anh ta biết điều gì đó à?”
Ye-seul hít một hơi thật sâu và ngồi xuống trước kệ sách.
“Anh ấy nói, anh ấy nhớ ra một điều mà đêm qua chưa kịp nói với cô. Anh ấy đã từng gặp người đàn ông xăm hình rắn thêm một lần trước đó. Người đó dẫn đầu một nhóm trải nghiệm nhà ma để tìm một con ma, có một chiếc ti vi to bằng bàn tay? Nó là gì nhỉ? Trông giống như chiếc máy tính bảng. Dù sao, anh ta cũng đã cho mọi người xem rất nhiều gương mặt khác nhau thông qua thiết bị đó. Đó không phải là những bức ảnh, đó là những hình ảnh động được xây dựng dưới dạng 3D. Trong nhóm người đó có cả một cô gái tên là Ahn Da-jeong.”
Đột nhiên, tôi có cảm giác như ai đó thình lình nắm lấy tóc mình và dìm đầu vào bồn nước lạnh. Dù tôi đoán rằng Da-jeong đã chết, nhưng không thể tránh khỏi sự xúc động ám ảnh đó.
“Cậu ấy không nói sau khi cho mọi người xem máy tính bảng thì mọi chuyện như thế nào ư?”
“Người đàn ông chắc hẳn đã dùng thuật gọi hồn. Anh ta đã tập hợp mọi người đứng thành vòng tròn, yêu cầu mọi người nắm tay nhau và gọi những linh hồn hiện ra trong video. Anh ấy nói rằng sẽ làm cho những linh hồn ấy chuyển động và nghe được tiếng của chúng, cô gái tên Ahn Da-jeong cũng bị gọi lên, trông rất sợ hãi và mệt mỏi.”
Tay phù thủy đó đã bán những linh hồn để kiếm tiền. Hắn bắt giữ các linh hồn để tăng sức mạnh cho bản thân và thu hút những linh hồn mới bằng chính sức mạnh ấy. Giờ đây, khi được biết linh hồn Da-jeong đã bị hắn bắt giữ, tôi quyết định phải đuổi theo hắn ta.
“Ye-seul à, em có thể giúp cô được không?”
Vẻ tuyệt vọng thoáng hiện trên nét mặt của cô gái bé nhỏ. Có vẻ cô bé không muốn dính vào các rắc rối.
“Em không biết là có chuyện gì, nhưng chắc em không có thời gian đâu ạ. Cô cũng biết là em còn phải thi mà. Nếu trượt học bổng, thì em phải bảo lưu mất ạ.”
“Cô sẽ trả học phí cho em. Em vừa được trả học phí, vừa cố gắng lấy học bổng không phải tốt hơn sao? Cô có người này buộc phải tìm cho ra.”
Nghe tôi nói, Ye-seul thở dài. Cô nàng không phải một đứa trẻ. Cô học trò đủ trưởng thành để biết về thế giới của người lớn, ở đó, người ta trao đổi những thứ mong muốn và cùng bắt tay nhau.
“Có phải giáo sư định tìm ai đó tên là Da-jeong vừa được nhắc đến khi nãy không ạ?”
“Đúng vậy. Để tìm ra bạn ấy, nhất định phải gặp được tay phù thủy xăm hình rắn, ta phải biết được anh ta ở đâu. Liệu em có biết ngôi nhà ma kia không?”
Thay vì trả lời tôi, Ye-seul nhắm nghiền mắt.
Tôi vào cửa hàng tiện lợi, mua cho mình và Ye-seul hai ly đồ uống rồi quay trở ra xe.
Nhờ có túi hương mà tôi có thể nhìn thấy Ye-seul và Soo-hyeok ngồi ngay ngắn ở ghế sau. Giữa hai người trẻ tuổi, ranh giới của sự sống và cái chết thật mong manh. Nhìn họ thân thiết như hai anh em vậy.
Đêm đã về khuya từ lúc nào. Vì chọn tuyến đường hẻo lánh, nên chúng tôi có thể bắt gặp những ngôi nhà ma nổi tiếng trên internet. Thỉnh thoảng, tôi tình cờ gặp một Youtuber trải nghiệm ngôi nhà ma ám nào đó hoặc thành viên một câu lạc bộ tâm linh với một chiếc máy quay gắn trên trán. Những con ma vùng vẫy cặp tay chân dài loằng ngoằng chạy trốn khỏi các ngôi nhà bị người trải nghiệm khám phá, mồ hôi túa ra ướt đẫm lưng. Người ta nói rằng, dù ngôi nhà ma có nổi tiếng đến đâu, cũng không có con ma nào đủ sức để quật ngã tinh thần và sức khỏe của những người trẻ tuổi.
“Giáo sư ơi, bệnh viện điều dưỡng Nakwon trước mặt đang là một điểm ma rất nổi gần đây. Thần hộ mệnh của em dặn rằng tuyệt đối không được đến đó. Em nghĩ chắc hẳn ở đấy có nhiều uẩn khúc.”
Ye-seul chỉ tay vào tòa nhà sáu tầng bỏ hoang ở ven đường.
“Có phải chúng mày đã lang thang quanh đây không? Hỡi những linh hồn phải sống vất vưởng trong những tòa nhà bỏ hoang như những người vô gia cư? Và khi có đám người trải nghiệm xông vào khám phá, chúng mày lại hoảng hốt bỏ chạy như một đàn nai sừng tấm? Và rồi nếu va phải một chiếc xe chạy qua, chúng mày lại bị tai nạn thương tâm?”
Càng đến gần bệnh viện điều dưỡng Nakwon, mùi thơm từ túi hương càng tỏa đậm, báo hiệu cho tôi biết có khách đang chờ lên taxi. Thật không dễ dàng gì để trò chuyện với một linh hồn nhạy cảm và nhút nhát đang sống ẩn dật trong một ngôi nhà ma ám.
“Cô sẽ dừng xe trước cổng bệnh viện điều dưỡng Nakwon. Hy vọng đó là một linh hồn biết về tay phù thủy đó.”
Ye-seul cúi đầu với vẻ mặt căng thẳng.
“Em... thế còn em thì phải làm gì ạ?”
Soo-hyeok xấu hổ, chuyển lên ghế trước.
“Cảm ơn cậu vì đã đồng hành cùng chúng tôi. Nhưng giờ có lẽ là lúc cậu phải siêu thoát lên thiên đường rồi.”
Chỉ khi lên đó, cậu mới hoàn toàn được thanh thản.
“Cuối cùng, có một nơi cháu nhất định muốn tới trên thế giới này. Nếu cô bắt được tay phù thủy đó, hãy mang hắn tới chỗ cháu được không ạ?”
Tôi không biết nơi cuối cùng cậu muốn tới là đâu, nhưng tôi không thể từ chối yêu cầu từ một linh hồn mang đầy nỗi oán hận như cậu.
“Tuy làm vậy là vi phạm nguyên tắc, nhưng tôi sẽ giúp cậu lần này.”
Nghe tôi trả lời, Soo-hyeok dùng ngón tay trỏ đẩy cặp kính lên và mỉm cười hạnh phúc.
“Ồ, đằng kia!”
Ye-seul chỉ vào bãi đất trống ven đường, có một phụ nữ cao ráo mặc váy liền thân màu trắng đang đưa tay vẫy. Ngay khi tôi dừng lại, cô ta mở cửa sau và bước lên xe với vẻ mặt nhợt nhạt.
“Đi ghép ạ?”
Ye-seul và Soo-hyeok cùng đồng thanh.
“Vâng, chị không phiền chứ ạ?”
Người phụ nữ trả lời tôi bằng cách ra dấu tay “OK”.
“Xin lỗi nhưng cô cho tôi để chút hành lý được không?”
Đây là lần đầu tiên tôi nhận được đề nghị như vậy. Gần chỗ đứng của người phụ nữ, có một chiếc va li cỡ bằng một chiếc hộp.
Nếu nó là ảo ảnh, thì cô ấy phải xách nó. Nhưng không, đó là một chiếc va li thực sự. Có lẽ nó đã nằm đó từ rất lâu, mặt ngoài phủ đầy bụi bẩn và chằng chịt vết xước.
Tôi rời ghế lái, bước xuống xách chiếc va li như một người tài xế bình thường.
Một luồng năng lượng kỳ lạ và lạnh lẽo chạy qua những ngón tay lên tận cánh tay tôi. Thầm nghĩ đó là một món đồ kỳ quặc, tôi cho vào cốp xe và đóng lại.
“Cô đi đâu đây?”
Tôi trở lại ghế lái, ngoái đầu hỏi.
“Cho tôi đến tòa nhà đa năng ở ngã tư phường Soo-pyo.”
Tôi đạp ga và nhìn lướt qua người phụ nữ trẻ. Cô ta trạc hai mươi tuổi, mái tóc bob cắt cao pha chút nét tây, thân hình mảnh khảnh. Làm thế nào mà cô ta lại chết trẻ nhỉ?
“Chị gì ơi, chị gặp phải chuyện gì sao? Em tiếc cả thanh xuân của chị, cả dáng vẻ xinh đẹp của chị nữa.”
Ye-seul hỏi cô gái không chút do dự về điều mà tôi cũng đang tò mò. Đôi khi những con ma cũng bùng nổ giận dữ. Tôi hồi hộp chờ câu trả lời từ cô gái.
“À à, đó là do một tay phù thủy. Hắn là một tên khốn kiếp.”
Khi cái tên của tay phù thủy bật ra khỏi miệng cô ấy, cả tôi, Ye-seul và Soo-hyeok cùng bị sốc.
“Cô ơi, tôi xin hỏi kỹ hơn được không ạ?”
Cô gái gật đầu tắp lự.
“Tất nhiên rồi ạ. Tôi muốn kể chuyện này với tất cả mọi người.”
Người phụ nữ hé cặp môi xanh xao.
*
Vào thời điểm bệnh viện điều dưỡng Nakwon đóng cửa vì khó khăn tài chính, cô là người duy nhất còn trụ lại ở phòng quản lý bệnh viện (phòng y vụ), vì không còn bệnh nhân nhập viện nên khu hành chính của bệnh viện tại tầng một luôn vắng người. Cô tận dụng thời gian rảnh, tìm kiếm một công việc khác trên các trang mạng. Trong khi đang sửa lại bản lý lịch, cô nghe thấy tiếng chuông cửa ding-dong vang lên bên tai bèn bỏ điện thoại xuống bàn, ngồi thẳng lưng.
“Lee Soo-jeong?”
Đó là một người đàn ông khoác áo da, tóc rẽ ngôi, tay xách một chiếc va li nhỏ. Đôi môi sắc như lưỡi dao gọi tên cô gái. Đôi mắt to, đen một cách đặc biệt nhìn chằm chằm vào Soo-jeong. Người đàn ông có cặp mắt hai mí, sống mũi cao và bộ râu quai nón quanh chiếc hàm sắc nhọn như đã phẫu thuật cười tự đắc.
“Cô có nhớ tôi không nào? Tôi là Jae-jun, trường trung học Seong-sang.”
Đúng là cô gái cũng từng tốt nghiệp trường trung học Seong-sang, nhưng trong trí nhớ của Soo-jeong, không có ai cô từng biết tên là Jae-jun cả.
“Tôi xin lỗi... tôi... không...”
“Ừ, tớ biết là cậu không nhớ mà. Tớ là một trong những người hâm mộ của cậu.”
Jae-jun cười ngượng. Chiếc răng cửa đập vào mắt Soo-jeong. Ngay giây phút đó, trong trí não cô hiện lên hình ảnh một cậu thiếu niên nhỏ con có chiếc răng khểnh, khuôn mặt nhỏ nhắn ấy luôn lạc lõng giữa đám bạn cùng trang lứa.
“Tớ hơi nhớ ra rồi. Hình như là mình học cùng năm lớp bảy. Khi đó cậu trầm lắm. Giờ thì có vẻ khác nhiều rồi.”
Soo-jeong đưa tay ra định bắt tay Jae-jun với tâm trạng vui vẻ. Không hiểu sao, cô cảm thấy những hình xăm trên mu bàn tay anh ta có vẻ như đang chuyển động.
“Cảm ơn nhé, vì đã nhớ tới một người vô danh như tớ.”
“Nhưng tại sao cậu lại tới đây? Trong nhà cậu có ai phải nhập viện à?”
Trước câu hỏi của Soo-jeong, anh ta lướt nhìn nhanh ra hành lang vắng ngắt và cúi người về phía Soo-jeong.
“Không, tớ đến để gặp cậu.”
“Gặp tớ? Sao cậu biết tớ làm ở đây?”
Soo-jeong cảm thấy nghi hoặc pha lẫn ngại ngùng khi một người bạn cùng lớp chưa từng nói chuyện lại biết và tìm đến tận nơi cô làm việc.
“Tớ theo dõi Instagram và xem những bức hình cậu đăng, biết đâu tớ có thể giúp cậu được gì đó. Nếu có thời gian, mình cùng đi ăn trưa nhé.”
Lúc đó đúng vào giờ ăn trưa, cô nghi ngờ người bạn có thể là người của bên bán bảo hiểm, đa cấp hoặc một tổ chức tôn giáo nào đó, nhưng vẫn chưa thể nghĩ ra được lý do để từ chối. Xung quanh cũng không có đồng nghiệp nào cùng đi ăn trưa nên cô càng không tìm được cách thoái thác, cô gái bèn kẹp ví vào nách và đứng dậy.
Hai người ngồi đối diện nhau tại một cửa hàng Kalguksu. Lập tức, bà chủ quán đang lau bàn tiến lại phía Jae-jun và chào hỏi đon đả như đã quen từ lâu.
“Ôi, chào ngài pháp sư. Mừng đón ngài tới đây. Chị dâu tôi đang nằng nặc đòi tôi giới thiệu với ngài. Ngài vẫn ở tòa nhà đa năng, ngã tư phường Soo-pyo đúng không ạ? Quý hóa quá!”
Soo-jeong mở to mắt khi nghe thấy hai chữ “pháp sư”. Nhìn ánh mắt của Soo-jeong, chủ quán ghé tai Jae-jun thì thầm.
“Khi đó, tôi đã làm theo lời cậu và đứa trẻ đã thực sự rơi ra. Cảm ơn cậu rất nhiều, số phận của con trai tôi suýt nữa bị hủy hoại nếu chuyện bị bại lộ.”
Jae-jun cười ngượng rồi gọi màn thầu và hai bát mì.
“Sao người ta lại gọi cậu là pháp sư thế? Cậu cũng không phải là sư mà?”
“Mình là một thầy phù thủy mà, vì gọi là thầy phù thủy thì khó nghe nên họ gọi mình là pháp sư.”
Soo-jeong thở phào nhẹ nhõm. Ít ra, anh ta không phải là một tay bán bảo hiểm, đa cấp hay người của một tổ chức tôn giáo nào đó như cô đã ái ngại.
“Bà thím kia có vẻ biết ơn cậu quá nhỉ.”
“Chuyện là, con trai bà ấy đang học cấp ba. Giữa cậu ta và chị gái cùng khu có xảy ra một tai nạn nhỏ nên phải cân nhắc chuyện cho hai đứa cưới nhau, và tôi đã giúp họ giải quyết chuyện đó.”
Soo-jeong đoán, “tai nạn” ở đây có nghĩa là “có thai” và “giải quyết” có nghĩa là “phá bỏ cái thai” trong câu chuyện khi nãy của hai người, cô cảm thấy ghê tởm người nữ chủ quán và Jae-jun vì những việc làm thất đức của họ.
“Cậu nói sẽ giúp đỡ mình chuyện gì cơ?”
Đĩa màn thầu hấp được mang ra và đặt trước mặt hai người.
“Cậu bị nợ lương có đúng không? Lại còn không được nhận trợ cấp thất nghiệp nữa.”
Nghe câu nói của Jae-jun, Soo-jeong đặt miếng màn thầu định ăn xuống đĩa. Cậu ta nói đúng, cô bị nợ lương đã hai tháng nay, và tiền trợ cấp thất nghiệp cho suốt sáu năm làm việc của cô có nguy cơ mất trắng.
“Đúng vậy. Làm sao cậu biết?”
“Tớ hỏi những con ma ở bệnh viện của cậu. Ở đó nhiều ma lắm. Và tớ đến đây để bày cách cho cậu.”
“Ầy, tớ không có tiền, mà cũng không có ý định dùng bùa chú. Tớ sẽ gửi đơn khiếu nại lên Bộ Lao động.”
Tự nhiên, Soo-jeong thấy Jae-jun như một gánh nặng.
“Tớ không dùng bùa chú như mấy phù thủy khác đâu. Tớ thậm chí còn không nghĩ đến việc nhận tiền. Nhưng cậu cần phải làm một việc nhỏ.”
Soo-jeong, với sự thiếu kiên nhẫn mù quáng, đã đưa ra một lựa chọn mà sau này cô phải hối hận khủng khiếp. Lẽ ra, lúc đó cô nên nghi ngờ khi ai đó đưa ra một lời đề nghị giúp đỡ miễn phí.
“Việc gì cơ?”
“Bọn ma nói rằng viện trưởng chỗ cậu đã lăng nhăng và ly hôn hồi năm kia đúng không?”
Đó là sự thật. Mọi người trong viện đều im lặng về việc có một người phụ nữ luôn ăn mặc xinh đẹp ghé phòng làm việc của viện trưởng. Sự việc bưng bít trong một năm rồi cũng đến lúc vợ chồng họ chia tay.
“Có tin đồn như thế.”
“Nhà vợ của ông viện trưởng đó giàu lắm đấy. Nếu làm cho hai người họ tái hợp thì bệnh viện sẽ lại hoạt động bình thường.”
Hai bát mì được đặt trước mặt Jae-jun và Soo-jeong. Jae-jun cười tươi và dùng đũa gắp mì.
“Chắc là khó đấy. Nếu là tớ, tớ sẽ chẳng bao giờ phung phí tài sản của mình để cứu một người chồng đã phụ bạc và lăng nhăng với kẻ khác.”
“Nghe khó lắm đúng không? Nhưng tớ có cách mà.”
Jae-jun nhấc chiếc va li để sẵn bên cạnh, đặt lên bàn.
“Đây là “liên duyên vật”, có tác dụng nối duyên hai người lại với nhau, cậu mang giấu nó vào phòng viện trưởng, khi ông ta ra về, cậu đặt trước nó một bát cơm là xong. Nó như một cách cúng cho thần Thổ công thôi. Dài thì một tháng, ngắn thì hai ba ngày sẽ có tin.”
Soo-jeong nhận lấy chiếc va li, tò mò có gì bên trong, nhưng nghĩ Jae-jun sẽ giữ bí mật nên vội hướng ánh mắt xuống bát mì.
“Nếu làm theo lời tớ, chắc chắn trăm phần trăm sẽ thành công. Khi đó hãy mời tớ một bữa thật hậu hĩnh nhé.”
Bữa trưa kết thúc, Soo-jeong quay về với công việc của mình, mân mê chiếc va li và chờ đến giờ tan làm. Sau khi các trợ lý, điều dưỡng và giám đốc rời đi, cô vào bếp và lấy một bát cơm. Không phải sự tỉnh táo của cô đã biến mất, mà cô hoàn toàn tin lời Jae-jun rằng thứ trong hộp là một vật giúp liên duyên, nó không phải là loại bùa ngải mà là một phước lành gắn kết mối quan hệ đã rạn vỡ của một cặp vợ chồng.
Cô đi lên tầng sáu, đến trước phòng viện trưởng, gõ nhẹ hai lần rồi lặng lẽ đẩy cửa bước vào. Một khung cảnh quen thuộc đập vào mắt cô, khắp gian phòng vẫn còn mùi cơ thể đặc trưng của viện trưởng. Chiếc bàn làm việc nặng nề, một kệ sách năm tầng với các ngăn hồ sơ đầy màu sắc, chiếc máy lọc không khí đặt giữa bàn uống nước và ghế sô pha bọc da vẫn đang hoạt động.
Soo-jeong loay hoay tìm chỗ giấu chiếc hộp sao cho viện trưởng không thể phát hiện ra, cuối cùng, cô đặt nó trên bậu cửa sổ rồi kéo rèm lại. Sau đó, cô bóc nắp vỏ bát cơm và đặt trước cửa phòng. Ngày hôm sau, cô sẽ đi làm sớm và dọn bát cơm đi là xong. Mỗi ngày, trước khi tan ca, cô ghé qua phòng viện trưởng để kiểm tra chiếc hộp còn ở nguyên vị trí hay không, rồi xé nắp vỏ bát cơm, đặt trước cửa phòng, cứ thế, công việc kéo dài đến mười ngày khiến cô chán ngấy.
Hôm đó, Soo-jeong chờ sau khi tất cả mọi người rời bệnh viện, lặng lẽ lên phòng viện trưởng. Tuy nhiên, cô nhìn thấy còn duy nhất một người vẫn chưa về. Chính là ông viện trưởng, từ ngoài bãi đỗ xe đã nhìn lên phòng làm việc của mình và phát hiện có một vật lạ đặt trên cửa sổ.
Đường cao tốc lúc nửa đêm tối và hẹp như bụng một con trăn khổng lồ. Chiếc xe chở hai người sống và hai hồn ma đi xuyên bóng đêm.
“Cái va li mà tay phù thủy đó nói cô đặt vào văn phòng kia có phải là thứ ở cốp xe phía sau không?”
Cô gái gật đầu.
“Sao chị vẫn còn giữ nó?”
Ye-seul lên tiếng hỏi.
“Viện trưởng đột ngột biến sắc với chiếc va li trong tay. Cả giọng nói và ánh mắt của ông ta lạc đi như trở thành một con người hoàn toàn khác, ông ta lao vào tấn công tôi bằng một con dao mổ và ông ta cũng tự sát ngay sau đó. Sau khi tôi chết, đúng như tay phù thủy nói, bệnh viện có rất nhiều tiền. Dự án ông ta đầu tư trước đó thất bại bỗng gặp thời và cô con gái duy nhất của ông tự nhiên được hưởng một khoản kếch sù từ trên trời rơi xuống. Nhờ đó mà người vợ cũ của ông ta trở thành người hạnh phúc nhất.”
Soo-jeong khóc không ra nước mắt. Soo-hyeok ngoái lại nhìn cô với vẻ mặt thương hại. Ngẫm lại, từ khi tôi và Soo-hyeok gặp nhau, cậu ấy đã chưa một lần khóc dù chỉ là giả vờ.
“Nhưng tại sao cô vẫn còn mang theo chiếc va li ấy? Nếu là tôi, khi quá sợ hãi, tôi đã vứt nó ngay đi rồi.”
Soo-hyeok hỏi lại lần nữa.
“Tôi giữ lại để trả thù. Tôi định trả lại cho tay phù thủy đó. Dù không biết bên trong có gì, nhưng nó đủ mạnh để giết chết cả hai người thì chắc không phải thứ tầm thường, có đúng không ạ?”
Ánh đèn đường lướt qua, vết dao mổ cứa trên gáy Soo-jeong phát ra ánh sáng màu xanh lam. Cô gái đau khổ vì sự lựa chọn sai lầm nhất thời đang nhìn vào phía sau đầu tôi bằng nét mặt u ám.
“Thưa giáo sư, dù sao em cũng nghi cái này là yangbap.”
Ye-seul lạnh lùng vỗ vào lưng Soo-jeong lẩm bẩm.
“Yangbap là gì?”
Lần đầu tiên tôi nghe thấy khái niệm ấy. Không biết Soo-jeong có mù mờ giống tôi không, vậy nên tôi đã chờ đợi câu trả lời của Ye-seul.
“Chắc chắn trong cái va li đó sẽ có một vật bị yểm bùa. Các pháp sư gọi đó là yangbap ạ. Mà tay phù thủy kia đã làm ra nó, nên nó sẽ không có tác dụng lên hắn đâu. Trước hết, ta phải mở ra xem bên trong thực chất là cái gì ạ.”
Tôi dừng xe ven đường theo đề nghị của Ye-seul rồi cẩn thận mở cốp xe. Tôi kéo khóa, mở chiếc va li đang đóng kín như một chiếc miệng ngậm chặt. Bên trong là xác một con rắn lớn còn tươi nguyên như thể nó vừa mới chết. Nhìn qua lớp da mỏng, có thể thấy cái dạ dày phình to, chứng tỏ nó đã ăn rất nhiều trước khi chết. Ye-seul, Soo-jeong và Soo-hyeok thét lên kinh hãi sau lưng tôi.
“Tôi sẽ gọi một cuộc điện thoại...”
Tôi nhanh chóng chụp hình con rắn, rồi tìm số của Woo-jae trong danh bạ thực hiện cuộc điện thoại.
“Vâng, thưa giáo sư?”
Thật may vì Woo-jae nghe máy ngay.
“Xin lỗi vì gọi cho cậu giờ này, nhưng tôi có cái này muốn hỏi.”
“Dạ không sao ạ. Em cũng đang thức để viết luận văn mà.”
Woo-jae nghiên cứu về văn hóa dân gian nên có thể cậu ấy biết về yangbap nhiều hơn chúng tôi.
“Cậu có biết về yangbap không?”
“Dạ em biết chứ. Là cách ta dùng đậu đỏ và muối để xua đuổi ma quỷ đó ạ.”
“Không, tôi nói yangbap để yểm bùa cơ. Đặc biệt là loại có liên quan đến rắn. Tôi sẽ gửi ảnh cho cậu, cậu xem giúp tôi được không?”
Nghe tôi nói, Woo-jae nín thở một lúc. Tôi gửi tin nhắn đính kèm một tấm ảnh cho Woo-jae và đợi câu trả lời của cậu ấy.
“Việc sử dụng các sinh vật có độc như rắn hay rết làm yangbap có thể gây nguy hiểm đến tính mạng con người, vì nó đẩy sự oán hận lên tới cực độ.”
Có lẽ tay phù thủy kia ngay từ đầu chẳng muốn cứu giúp ai cả. Cái hắn muốn là cái chết của ông viện trưởng và nhận tiền thù lao từ những người hưởng khoản tiền thừa kế kếch sù kia.
“Bên trong bụng con rắn có một thứ hình tròn khá đều, nên em đoán có thể là trứng.”
Hình dạng thon dài và đều đặn khiến tôi liên tưởng đến những quả trứng rắn. Tôi đoán con rắn đã nuốt trứng của chính mình.
“Đúng là một việc trái luân thường đạo lý.”
“Người làm ra cái trò này đã bắt một con rắn cái vừa đẻ trứng, sau đó tách miệng nó, buộc nó phải nuốt những quả trứng mình vừa đẻ ra. Con rắn bị cấm ăn không còn cách nào khác đành phải hấp thụ dinh dưỡng từ những quả trứng tội nghiệp kia.”
Tôi không thể tưởng tượng nổi nỗi oán hận của người mẹ bị buộc phải ăn thịt con mình khủng khiếp đến mức nào.
“Hóa ra là một loại chú thuật nén đầy nỗi oán hận.”
“Giờ em mới phóng to bức ảnh. Có vẻ như phía dưới bụng con rắn còn có một vật màu trắng trông như răng cửa của con người.”
Nghe nhắc đến chiếc răng cửa, tôi quay trở lại xem xét bên trong chiếc vali một lần nữa. Bên dưới chỗ con rắn cuộn mình, một chiếc răng cửa tỏa ánh sáng trắng thu hút sự chú ý của tôi. Nhìn hình dạng, tôi đoán đó là chiếc răng nanh của người trưởng thành.
“Phải rồi, đó là răng nanh của người trưởng thành. Nó có ý nghĩa gì đây?”
“Em cảm thấy sợ hãi người đã tạo ra thứ bùa chú này. Có ghi chép cho rằng, ở vùng Haehwa-do, người ta đã dùng răng nanh của người trưởng thành, à không, đúng hơn là của người chết để làm bùa ngải. Người ta nói rằng, chủ nhân của chiếc răng sẽ hóa ác quỷ đi giết chết mục tiêu. Không ai thoát được loại bùa này, trừ khi người phù thủy tạo ra nó tự mình giải.”
Tôi buông thõng tay, chiếc điện thoại rơi xuống mặt đất, cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng. Tôi từ từ ngẩng đầu lên và nhìn Soo-hyeok đang đứng bên cạnh mình, cậu ấy cũng nhìn tôi và cười. Nơi lẽ ra phải có một chiếc răng nanh trong miệng giờ đây chỉ là một khoảng trống màu đen. Lý do cậu không thể siêu thoát dù đã gặp được anh trai là vì cậu đã bị tay phù thủy kia biến thành ác quỷ. Không, có thể người đàn ông đêm đó cậu gặp không phải là anh trai, mà chính là tay phù thủy đáng sợ.
“Cô tài xế đã dùng túi hương để giúp các linh hồn siêu thoát nên người anh phù thủy của cháu không hài lòng chút nào. Nước sông đã phạm nước giếng.”
Soo-hyeok đút hai tay vào túi và khẽ nói.
“Vì thế nên cậu định bám theo và giết hại tôi như đã từng làm với Soo-jeong và ông viện trưởng kia đúng không?”
Nghe tôi nói, hai mắt Soo-jeong mở to hết cỡ.
“Cái gì? Là răng nanh của anh ta sao? Anh ta đã nhập hồn vào ông viện trưởng để giết tôi sao?”
Soo-jeong lao vào Soo-hyeok, nhưng cuộc chiến giữa hai hồn ma thật nhạt nhẽo. Soo-hyeok tan biến, ẩn vào không trung rồi lại xuất hiện trên nắp capo xe tôi.
“Bất cứ ai chạm vào chiếc vali đều có thể trở thành nạn nhân của nó. Từ nãy đến giờ chỉ có mình giáo sư chạm vào nó thôi, và giờ đây, thân thể của cô là của tôi rồi.”
Soo-hyeok nghiêng thân trên như thể đang lặn, hướng về phía tôi, chuẩn bị tư thế để nhảy vào người tôi. Tôi cảm nhận được linh hồn của anh ta dần dần nhập vào, dù rất muốn bỏ chạy nhưng toàn thân không thể cử động, cứ thế, tôi bị Soo-hyeok chiếm hữu và sẽ sớm làm hại Ye-seul, nhưng tôi hoàn toàn bất lực. Tôi chỉ là một giáo sư có quyền lực nhất định trong trường đại học, vượt qua cánh cổng trường học, tôi không có khả năng nào khác ngoài việc đọc và viết luận văn. Nhỡ không may tôi gây ra điều gì đáng tiếc, chắc hẳn tôi sẽ hối hận mãi khôn nguôi.
Từ lâu, tôi đã nghĩ tình yêu là trò tiêu khiển tinh thần của một số ít người chán cuộc sống sang giàu và yên bình, với chủ đề đó, tôi sẽ tìm ai đây? Cảm giác tội lỗi và sự phẫn nộ tích tụ ngày qua ngày bùng cháy trong lồng ngực như một quả cầu lửa. Vì quá ám ảnh với việc tìm kiếm Da-jeong, tôi đã từ bỏ luận văn và cuốn sách mà tôi định xuất bản đã ba năm nay. Da-jeong đâu phải là người duy nhất bị chết oan? Tôi thấy thương hại cho thân phận của chính mình khi luôn bị ám ảnh và hàng đêm phải lái những chuyến xe chở các linh hồn. Khi tôi cảm thấy nếu cuộc sống cứ tiếp diễn thế này, thà rằng chết đi cho nhẹ lòng thì một ai đó nắm lấy vai tôi.
“Giáo sư, xin giáo sư hãy tỉnh lại.”
Giọng nói đầy sợ hãi của Ye-seul vang lên lúc ấy như càng đổ thêm dầu vào lửa.
“Im đi. Đồ không biết liêm sỉ. Không có tiền mà đòi vào học đại học ư? Thích sự xa xỉ quá nhỉ? Hay cô cứ hưởng chút ân huệ của Bề Trên rồi trở thành bà đồng có khi tốt hơn đấy. Không phải như thế sẽ nối được nghiệp gia đình hay sao?”
Từ miệng tôi, những lời đáng lẽ không nên nói cứ ào ào tuôn ra, tôi không thể nào kìm lại được. Tôi muốn hét lên rằng đó không phải những lời thực tâm, nhưng mọi thứ không như ý muốn.
“Em biết là giáo sư đang bị nhập hồn. Giáo sư không đủ mạnh để trút giận lên người khác nên đang tự trừng phạt chính mình.”
Đúng như Ye-seul nói, lúc này, tôi chỉ muốn chết quách đi để chấm dứt bao đau khổ.
“Chạy ngay đi...”
Và tôi đã thốt ra được lời nói có ý thức cuối cùng. Khi đó, Ye-seul gập ngón tay giữa và ngón áp út của hai bàn tay lại rồi đan các ngón tay vào nhau, cô gái đang làm ấn thủ, miệng lẩm bẩm điều gì đó. Cuối cùng, cô huýt một tiếng sáo dài. Một bên ngực tôi đau nhói, thở không ra hơi.
“Trước mắt, em sẽ làm cho linh hồn của Soo-hyeok trong người giáo sư không thể cử động được. Giáo sư cũng sẽ bất động ạ.”
Khi cơ thể bất động của tôi ngã vật xuống nắp ca-pô, Ye-seul đã dựng tôi ngồi dậy. Tôi muốn nói điều gì đó, nhưng lưỡi cứng đờ, không thể hoạt động được.
“Em cảm thấy có một luồng khí ma quỷ rất mạnh mẽ. Càng lúc càng mạnh hơn... đang hướng về phía chúng ta.”
Ba bề bốn bên đang im lặng như một nấm mồ bỗng chốc lao xao. Có tiếng chim hót, tiếng nước chảy, tiếng gió thổi, thậm chí là cả tiếng xe hơi.
Một chiếc xe ô tô nhập khẩu đỗ xịch bên cạnh chúng tôi, bên trong bật nhạc EDM xập xình. Ngay sau đó, người đàn ông mặc vest đen bước ra từ ghế lái. Đó hẳn là Jae-jun, tay pháp sư mà Ye-seul đã nói. Hắn ta có hình xăm con rắn che nửa mặt bên phải. Đôi mắt đục ngầu, trắng dã. Đó chính là ánh mắt tôi từng gặp ở trước cửa hàng Trung Quốc cạnh trường, có vẻ hắn đã phát hiện ra những việc tôi làm nên bí mật theo dõi. Jae-jun mau lẹ đi về phía xe tôi, mở cửa ghế lái và chộp lấy túi hương treo trên gương chiếu hậu.
“Sẽ ra sao nếu quý bà đây cứ liên tục cướp mất những đứa trẻ sẽ đến với tôi mà tôi lại khoanh tay đứng nhìn? Vừa vừa phải phải thôi chứ? Ngay cả một con ma cũng nên mang một chút oán hận thì khi bị ăn thịt mới cho tôi sức mạnh.”
Jae-jun đến bên cạnh, quỳ xuống và ghé sát vào mặt tôi. Lúc đó tôi mới biết, thứ che phủ trên mặt hắn không phải là hình xăm mà là một con rắn thật. Bằng chứng là lưỡi con vật vẫn thè ra thụt vào rất nhanh cùng với những cái vảy sống trên thân nó phát sáng lấp lánh. Một người thường tên là Jae-jun đã bị bắt và nuốt chửng, giờ chỉ còn lại thân xác bị ác quỷ nhập hồn. Hắn nhẹ nhàng vuốt tóc tôi.
“Soo-hyeok à, cậu vất vả quá rồi. Có lẽ điều tuyệt nhất mà tôi có thể làm trên đời này là gặp được cậu. Tôi đã phải đút lót cho lũ ma cà bông sống khổ hạnh trong núi bằng rượu và bánh tteokbokki, để rồi tìm thấy thi thể cậu bị chôn vùi sau một vụ đụng xe rồi bỏ chạy. Cậu có thấy dễ chịu khi trả ơn tôi thế này không?”
Jae-jun đắc ý khi nói về chủ đề tìm được thi thể của Soo-hyeok và biến cậu thành nô lệ. Khi đó, từ trong bóng tối, Soo-jeong xuất hiện và hét lên.
“Này, tên súc sinh. Hãy cùng tao xuống địa ngục!”
Soo-jeong hung dữ đến móp méo cả gương mặt xinh đẹp, giơ hai bộ móng tay sắc nhọn lao thẳng về phía Jae-jun. Khi đó, nếu ai nói rằng có một con quái vật vừa nhảy ra từ địa ngục thì tôi cũng phải tin.
“Thưa giáo sư đáng kính và em sinh viên đáng yêu đằng kia, hãy xem cho kỹ cách tôi bắt ma thế nào nhé.”
Sau khi tập trung được sự chú ý của tôi và Ye-seul, hắn quay sang nhìn chằm chằm vào Soo-jeong đang lao đến. Liền đó, con rắn trên mặt Jae-jun bắt đầu cử động, đôi mắt phải của hắn có sinh khí trở lại. Trong phút chốc, Soo-jeong chĩa những móng tay sắc nhọn như lưỡi kiếm của cô ấy vào mặt hắn ta. Con rắn rời khỏi mặt Jae-jun và mở rộng cái miệng của nó, dần dần nuốt chửng tay, đầu và toàn thân Soo-jeong như nuốt một con ếch. Soo-jeong biến mất sau một tiếng thét ngắn. Con rắn quay trở lại nằm trên mặt của Jae-jun và hơi chiếm diện tích hơn một chút.
“Các người thấy chưa? Cô bé Da-jeong mà quý bà tìm kiếm sau khi chết cũng chung số phận như vậy đấy. Nốc rượu không chút sợ hãi rồi rên rỉ, cuối cùng cũng trở thành một nạn nhân trong bộ sưu tập của tôi.”
Jae-jun khoa chân múa tay đầy phấn khích.
“Giáo sư! Hãy nhìn những chiếc vảy rắn. Nó chính là nhà tù giam giữ các linh hồn.”
Ye-seul tiến lại phía Jae-jun, lườm hắn như muốn ăn tươi nuốt sống tay phù thủy. Đôi mắt của tôi, thật khó khăn, cuối cùng cũng có thể di chuyển được, nhìn Jae-jun. Lớp vảy trên mình con rắn sáng lấp lánh. Những nạn nhân bị nhốt trong nhà tù làm bằng vảy rắn đang cố sức kêu gào xin cứu mạng.
“Cô bé sinh viên có muốn vào đây không? Ối, nhưng phía sau cô còn có thần hộ mệnh, hơi phức tạp rồi đây. Dù sao thì cũng phải thử chứ nhỉ? Nếu nuốt một người to lớn thế này, chắc chắn là ta sẽ trở nên mạnh lắm đấy.”
Ye-seul lại làm một thủ ấn khác, tiến đến trước mặt Jae-jun. Sau một hồi huyên thuyên, có vẻ như nhận thấy đối phương không dễ xơi, hắn cũng hành động thận trọng. Trái tim trong lồng ngực tôi thắt lại, tôi sợ rằng, cứ thế này thì Ye-seul thua mất.
“Ye-seul à, tôi là trợ giảng Kim đây, em có nghe thấy tôi nói không?”
Giọng nói của Woo-jae bất ngờ vang lên làm tôi bừng tỉnh. Tôi đã đánh rơi chiếc điện thoại xuống đất trước khi ngắt cuộc gọi.
“Em nghe rõ ạ.”
Ye-seul bình tĩnh trả lời.
“Cái này không biết có hiệu nghiệm không... Tôi sẽ đọc kinh, tất cả những gì tôi biết về chú thuật đuổi quỷ chỉ có vậy thôi. Nhật Nguyệt thần chưởng, Ngũ Phương thần chưởng, Bát Phương thần chưởng...”
Woo-jae bắt đầu thốt ra những từ lạ bằng giọng gọn gàng. Mặt Jae-jun đanh lại. Con rắn trên mặt hắn ta run rẩy dựng vảy lên. Sau đó, tiếng kêu của nhiều người vang lên, hòa vào nhau khiến tôi ù cả tai.
“Không lẽ anh định tấn công tôi bằng mấy câu chú đó sao? Thế thì tôi xấu hổ chết mất.”
Jae-jun tiến về phía tôi định nhặt chiếc điện thoại bị rơi dưới đất. Không biết câu chú có thể trở thành nhát đánh chí mạng với tay phù thủy không, nhưng ít ra nó thức tỉnh Soo-hyeok đầy sợ hãi đang xâm chiếm cơ thể tôi. Cơ thể cứng ngắc của tôi dần ấm lại. Cảm giác lấy được sức bắt đầu từ ngón tay, tới bàn tay, lan đến cánh tay, mặt, ngực và chân. Tôi có thể cảm thấy Soo-hyeok đang rời khỏi tôi. Cơ hội là đây.
Tôi lấy cánh tay, dùng hết sức kéo cổ Jae-jun. Con rắn trên mặt hắn ta nhúc nhích và âm thanh ầm ĩ kia bỗng trở nên to hơn. Tôi không đủ tự tin để chiến thắng hắn bằng sức của mình, nhưng tôi không muốn mình đánh mất một học trò chỉ vì sự sợ hãi.
“Thần Đại tướng quân, Dã Thú tướng quân, Cửu Thiên tướng quân, Ngũ Phương tướng quân, Tham Lang tướng quân, Thất Tinh Nhật Tiết quân...”
Tiếng Woo-jae càng to hơn. Nắm đấm thô ráp của Jae-jun thụi vào sườn tôi đau điếng. Nhưng tôi quyết tâm, có chết cũng phải chết khi đang níu cổ hắn. Hắn kéo lê tôi trên mặt đất. Tóc tôi bị bàn tay hung bạo lắc qua lắc lại. Cuối cùng, Jae-jun ngã ngửa ra đất, dùng hai tay định nhấc tôi lên không trung. Khi ấy, tôi nghe thấy tiếng chuông vang lên đâu đó. Tôi nghĩ đó là ảo giác khi đang đứng bên bờ vực của sự sống và cái chết. Nhưng thái độ của Jae-jun trở nên khác lạ. Túi hương trên cổ tay hắn ta bắt đầu tỏa ra những tia sáng màu vàng. Hắn buông hai tay đang siết lấy cổ tôi, nhìn Ye-seul với vẻ mặt hoang mang, cô gái đang ngồi xếp bằng, và đồng thanh đọc kinh với Woo-jae.
“Bát Phương Lôi công Phong Bách thần chưởng, Đông Tây Nam Bắc tứ đại tiền quân, Thiên Phủ Ngọc Kinh thần chưởng, Địa Phủ Ngọc Kinh thần chưởng...”
Một bà già nhỏ thó xuất hiện phía sau Ye-seul. Bà lão với mái tóc đen được tết gọn gàng và mặc bộ hanbok màu xanh ngọc bích, không rõ là trang phục từ thời đại nào, bước tới trước mặt Jae-jun.
“Ta chờ mi lâu lắm rồi.”
Bà già nói ngắn gọn, vẻ mặt trang nghiêm.
“Bà là ai?”
“Ta là sứ giả dẫn dắt những linh hồn thật lòng sám hối bởi những tội lỗi mà họ gây nên ở kiếp này sang thế giới bên kia. Ta cũng chính là người nuôi một con hươu xạ xanh. Nó chính là bản ngã của ta và cũng là một linh vật xuất chúng. Nhưng con vật đã bị tấn công bởi một con quỷ hình rắn. Nó đã nhai xương và thịt con hươu của ta và tự xưng là một vị thần, cuối cùng ký sinh linh hồn vào thân thể ngươi.”
Con hươu xạ xanh! Điều đó có nghĩa là hương trong túi hương chính là một phần của bà lão. Đôi môi của Jae-jun chuyển sang sắc xanh nhợt nhạt và run lên.
“Tất cả những gì còn lại của con hươu chỉ là một tuyến xạ hương. Ta đã đi hỏi các vị thần và nhận được câu trả lời, chỉ khi cứu giúp được linh hồn của một nghìn người thì con vật mới có thể hồi sinh, và đến hôm nay, điều ta hằng mong đã trở thành sự thật.”
Bỗng từ đâu, con hươu xạ xanh xuất hiện, đứng bên cạnh bà lão. Toàn thân nó là một lớp lông sạch sẽ màu xanh ngọc bích, như màu bộ hanbok bà lão đang mặc. Nó có cái đuôi dài và đầy đặn, giống đuôi ngựa hơn là đuôi hươu thông thường, đôi mắt sáng rực rỡ, cặp sừng dày và lộng lẫy như cành cây cổ thụ, vầng trán tròn, chiếc mũi nhọn và đường viền cổ sắc nét như một tác phẩm điêu khắc.
Bà lão nhấc nhẹ hai tay như đang tập Thái Cực quyền, đẩy về phía Jae-jun. Hắn ta ngã xuống như một con bù nhìn. Trên người hắn xuất hiện con rắn lớn, sừng sững như một cây trượng. Con rắn độc nhe nanh, lao vào hươu xạ. Hươu xạ thoắt nhảy lên, nhẹ nhàng né đòn của rắn. Sau đó, hươu cúi đầu, dùng sừng nhọn đâm vào bụng con rắn và nhấc con độc xà lên. Nó lắc lư cái đầu, vảy rắn rơi xuống lả tả. Bà lão liếc nhìn con rắn uốn éo khi hươu nhảy nhót vui vẻ trong bóng tối.
Vết xăm hình rắn trên mặt của Jae-jun đã biến mất, hắn yếu ớt đứng dựa lưng vào xe và ho ra máu. Bà lão tiến lại gần, mở túi hương ra rồi nhét sâu vào da thịt anh ta. Toàn thân bà lão tỏa ra ánh sáng vàng như mặt trăng, hương thơm tao nhã lan tỏa khắp bầu trời đêm dày đặc đến ngộp thở.
“Ngươi còn nhớ lần đầu tiên con rắn xuất hiện là khi nào không?”
Nghe bà lão hỏi, Jae-jun khẽ giật mình rồi gật đầu trả lời.
“Đó... đó là khi tôi đi dưỡng bệnh tại một ẩn thất trên núi.”
“Chắc chắn lúc đó không chỉ có một con đúng không?”
“Có một đôi rắn đực và cái. Con đực bò lên và cắn vào cánh tay tôi, con cái đẻ những quả trứng màu xanh trong khe đá.”
“Chắc anh đã dùng con cái và trứng của nó để làm vật hiến tế cho lời nguyền?”
“Tôi không thể làm khác được. Con rắn đực thực sự cho rằng bản thân là một vị thần. Nó dọa nếu tôi không nghe lời, nó sẽ đi theo em gái tôi.”
“Vậy tôi hỏi một câu, cậu có thấy ăn năn về những việc đã xảy ra không?”
Mục đích trong câu hỏi của bà lão chính là, những linh hồn biết ăn năn hối lỗi sẽ được bà dẫn dắt sang thế giới bên kia.
Thay vì trả lời, Jae-jun lắc vai, khóc một cách buồn bã.
Thật bất ngờ, bà lão lặng lẽ ôm lấy Jae-jun và chờ đến khi cậu ta qua cơn nức nở. Một lúc lâu sau, bà lão buông Jae-jun ra và bước lại gần tôi. Bà nhặt một chiếc vảy rắn rơi trên đất, giơ lên.
“Tiên sinh, đây chính là điều lâu nay tiên sinh tìm kiếm, cô đã giúp tôi đến tận bây giờ, chẳng lẽ không thể nhìn mặt nhau một chút hay sao?”
Bà lão gõ nhẹ vào lớp vảy mỏng và sáng bóng trên bàn tay. Rồi một làn hơi ấm áp phả vào tai tôi. Đắm chìm trong hơi thở mềm mại và ấm cúng như mùi bánh castella mới nướng, tôi quay đầu lại và thấy Da-jeong đứng cạnh tôi. Cô bé lên tiếng.
“Em nhớ có lần giáo sư nói về Deus Ex Machina trong một buổi học.”
Đó là một vấn đề tôi có chia sẻ trong lớp sáng tác tiểu thuyết. Tôi đã gay gắt cho rằng, sẽ không bao giờ chấp nhận việc một nhà văn phải dùng đến yếu tố thần linh để giúp giải quyết một vấn đề hay một nút thắt khó khi triển khai tác phẩm, vậy mà trong thực tế đời sống của tôi, bà lão và con hươu xạ xanh đang là những nhân tố đặt dấu chấm hết cho mọi bi kịch. Nếu không có Deus Ex Machina , có lẽ, tôi đã không thể gặp lại Da-jeong như thế này.
“Cô có nhớ, đôi khi, thực tế như một trò đùa.”
Tôi kéo bàn tay ngập ngừng của Da-jeong, cẩn thận chạm vào nó. Một mùi hương ngọt ngào, thoang thoảng tỏa ra từ đôi bàn tay nhỏ và gầy. Đôi mắt to tròn như hai giọt nước, nhưng mũi và miệng thì khô khốc. Nếu có thể, tôi muốn cho cô bé ăn thật nhiều để tăng cân.
“Khi biết giáo sư đi tìm em, đó là khoảnh khắc mà em thấy mình hạnh phúc nhất thế gian, vì chưa từng có ai thật lòng lo lắng cho em như vậy. Dù biết em đã chết, nhưng cô vẫn không từ bỏ việc tìm kiếm em như thế.”
Tôi đưa tay vuốt ve đôi má, mái tóc, rồi đôi vai nhỏ hao gầy của cô bé.
“Cô thật ngu ngốc và thô lỗ. Là một người theo nghiệp viết nhưng cô không biết cảm thông với nỗi bất hạnh của người khác. Cô thậm chí còn không đủ tự tin để sống như em...”
Từ lúc mất đi cô học trò bé bỏng này, tôi đã sống như một nhà tu hành, và có lẽ sau này cũng vậy. Tội của tôi quá lớn, đến mức không đủ tư cách để nhận được sự tha thứ.
“Không sao ạ. Giờ thì giáo sư không cần phải dằn vặt nữa. Và cũng không còn cô đơn như trước nữa ạ.”
Da-jeong đưa tay chạm vào má tôi, nước mắt tôi ướt đẫm mu bàn tay cô bé. Da-jeong mỉm cười, vẫy vẫy bàn tay và dần bị hút vào chiếc vảy rắn.
“Tiên sinh vừa được đứa trẻ tha thứ rồi. Và trong giây phút cuối cùng của tiên sinh, tôi sẽ tìm đến lần nữa để hỏi xem cô đã thực lòng sám hối hay chưa.”
Như đọc được tâm tư của tôi, bà lão nói trìu mến. Con hươu xạ xanh đã ném xác con rắn xuống đất, xuất hiện bên bà tự lúc nào. Hươu nhìn lên bầu trời sâu thẳm, kêu lên một tiếng dài. Sau đó, vảy rắn vương vãi trên đất vun lại thành đống, tụ lại trên tay bà lão.
“Giờ đã đến lúc ta dẫn mọi người sang thế giới bên kia.”
Nghe bà cụ nói, tôi quay lại nhìn Soo-hyeok đang nằm trên nắp capo.
“Còn một người nữa ạ.”
Soo-hyeok cũng là nạn nhân của thứ bùa ngải đó. Tôi lấy xác con rắn cái và chiếc răng nanh của Soo-hyeok trong va li đưa đến trước mặt bà cụ.
“Linh hồn của con rắn cái và những quả trứng của nó đã theo rắn đực siêu thoát rồi. Khi chúng ta mất, thân thể cũng tan biến, còn chủ nhân của chiếc răng nanh này, anh ta còn có việc khác phải làm. Ta sẽ giữ cái răng lại để làm tin.”
Bà lão âu yếm vuốt ve sừng hươu. Trên bầu trời mở ra một hố đen lớn như hình con diều hâu khổng lồ. Từ cái hố, gió thổi ù ù làm xe tôi rung lắc. Trong phút chốc, gió lặng, một luồng sáng chói bao quanh bà cụ và những chiếc vảy rắn. Đâu đó vang lên những âm thanh ồn ào như tiếng nhiều người đang ngân nga. Bóng bà cụ và con hươu mờ dần. Giống như một đứa trẻ lần đầu tiên trong đời được nếm kem, tôi thốt lên thích thú, choáng ngợp trước thứ ánh sáng ngọt ngào đến kỳ diệu. Ánh sáng mờ đi rất chậm, đến khi chỉ còn là một chấm nhỏ như con đom đóm chìm vào bóng tối. Giờ đây, chỉ còn cái xác không hồn lạnh ngắt của Jae-jun.
“Giáo sư có sao không ạ?”
Ye-seul lay tôi. Như thể vừa thức dậy sau một giấc ngủ ngắn, tôi uể oải ngáp và quay lại nhìn cô gái. Trên đôi môi của cô học trò nhỏ đã chăm chỉ đọc kinh để bảo vệ tôi, máu đang rỉ ra. Tôi ôm cô bé vào lòng, cảm nhận rất rõ lồng ngực của mình như đang được sưởi ấm.
“Ta kiếm quán nào đó ăn chút gì đi.”
Tự nhiên tôi thấy bụng đói cồn cào. Đây là lần đầu tiên tôi cảm thấy đói sau khi mất Da-jeong. Tôi chợt muốn hòa mình vào đám đông những người đang sống, ăn một món gì đó nóng hoặc cay trong một cửa hàng nào đó còn mở cửa vào đêm khuya muộn.
“Vậy cháu có thể chọn món được không ạ?”
Cả tôi và Ye-seul đều thất kinh khi nghe thấy một giọng nói rành rọt vang lên.
Jae-jun mà tôi nghĩ đã chết, bật dậy nhẹ nhàng, đứng thẳng người. Tôi nép sau lưng Ye-seul, liếc mắt nhìn anh ta.
“Là cháu, Soo-hyeok đây ạ.”
Jae-jun tiến đến, đứng trước mặt tôi.
“Cậu là Soo-hyeok hả?”
Giọng nói, cử chỉ và cả lời lẽ đều rất giống Soo-hyeok.
“Bà cụ khi nãy có nói bà sẽ cho cháu mượn thân xác này trong vài tiếng để giải quyết sạch sẽ hết ân oán trần gian. Dù cháu là tay sai của gã phù thủy, nhưng xét cho cùng, cháu cũng chỉ là nạn nhân mà thôi. Thêm vào đó, cháu cũng chưa kịp làm hại cô mà. Có thể cô không vui, nhưng cháu muốn ăn cùng cô một bữa cơm. Đó là mong ước cuối cùng của cháu.”
Bà cụ đã giao thân thể của Jae-jun cho Soo-hyeok xử lý những bước cuối cùng một cách tự nhiên.
“Vậy cũng được. Thế Soo-hyeok muốn ăn gì?”
Tôi giải tỏa hết mối ngờ vực và hỏi lại Soo-hyeok.
“Chính là mì tương đen ạ. Khi làm ma, thứ cháu thèm nhất là hương vị trần thế của món mì tương đen. Có một cửa hàng Trung Quốc bán mì tương đen trước đại học Han-myeong mở cửa 24/7. Cháu không rõ bây giờ nó còn không.”
Giọng nói của Soo-hyeok đầy sinh khí.
Nếu ở trước trường đại học Han-myeong thì ngay gần nhà của trợ giảng Kim rồi. Tôi sẽ gọi cho cậu ấy hỏi thử.”
Tôi ngồi lên ghế lái và cầm điện thoại.
Mãi đến tận 3 giờ sáng, chúng tôi mới tới cửa hàng Trung Quốc. Tôi vào nhà vệ sinh, dùng máy đo đường huyết để đo lượng đường trong máu. Vì căng thẳng, lượng đường máu lúc đói của tôi khá cao. Tôi ngửa cổ, dốc một liều thuốc tiểu đường vào miệng. Tôi tò mò về hương vị mì tương đen sau ba mươi năm, không biết nó có còn là vị của năm xưa còn lưu lại trong ký ức của tôi không.
Woo-jae đến trước và gọi sẵn bốn bát mì tương đen và một đĩa tangsuyuk cỡ trung. Woo-jae nhìn Soo-hyeok trong diện mạo của Jae-jun với vẻ mặt đầy hoài nghi.
“Tôi nghĩ đây là định mệnh khi tôi phải viết luận văn trong hôm nay. Mà giáo sư ơi, Taxi đêm trăng là tiểu thuyết tự truyện đúng không ạ?”
“Đúng là cậu rất tinh ý. Giờ cậu làm pháp sư trừ tà cũng được lắm đấy.”
Tôi kéo ghế ngồi xuống cạnh Woo-jae. Một lát sau, trước mặt mỗi người đều được dọn một bát mì lớn. Bên trên bát mì đang tỏa khói nghi ngút, người ta trang trí vài cái trứng cút và một ít dưa chuột theo kiểu truyền thống. Không ai bảo ai, chúng tôi im lặng trộn đều phần mì của mình. Lần đầu tiên trong đời tôi được trộn mì. Ngày vào tiểu học, mẹ hay bà ngoại đã trộn mì cho tôi. Vì đây là lần đầu tiên, nên với tôi, trải nghiệm này thật đặc biệt.
“Giáo sư có thấy lạ không ạ? Cứ sau một ngày nào đó cực kỳ mệt mỏi, người ta lại ăn mì tương đen. Ngày chuyển nhà cũng thế, ngày thi xong cũng thế ạ.”
Ye-seul dùng đũa cuốn sợi mì thành một vòng tròn rồi đưa vào miệng.
“Thời của chúng tôi thì thường ăn mì tương đen vào những ngày nhập học hay tốt nghiệp. Nó dường như có ý nghĩa là hãy bồi bổ cơ thể, chuẩn bị sức lực để vượt qua những thử thách tiếp theo. Không phải sao, trợ giảng Kim?”
Tôi hỏi Woo-jae khi cậu ta đang rắc bột ớt vào bát mì.
“Ôi, em lại thuộc thời đại của donkatsu cơ ạ.”
“Thế còn anh Soo-hyeok, anh có câu chuyện nào liên quan đến mì tương đen không?”
Soo-hyeok đang ngấu nghiến ăn mì, ho sặc sụa và cắn mì bằng răng cửa.
“Có chứ. Hồi năm thứ hai đại học, tôi có thích một cô gái và rủ cô ấy ra quán Trung Quốc để ăn mì tương đen, thế là bị đá ngay tức thì. Nếu được gặp lại người đó, chắc tôi sẽ rủ đi ăn donkatsu...”
Nghe Soo-hyeok nói, cả Woo-jae và Ye-seul đều bật cười khúc khích và gắp một miếng màn thầu nướng, còn tôi thì không thể cười. Bởi vì điều đó làm tôi nhớ đến một buổi hẹn trong dịp nghỉ hè hồi năm ba đại học. Hôm đó, tôi mặc một chiếc váy voan trắng mới tinh chưa qua một lần giặt. Tôi gặp cậu ấy tại một quán cà phê ở Sinchon. Cậu ấy kém tôi một tuổi và đang theo học ngành cơ khí tại Đại học Hanmyeong. Cậu nhấp một ngụm cà phê, cau mày và nói lần đầu tiên trong đời cậu nếm thử vị của cà phê xay nguyên hạt. Tôi thấy sự chân thành và trong sáng của cậu không có gì là xấu. Hình như chúng tôi có làm quen với nhau. Nhưng điều tôi nhớ nhất là, cậu ấy đã rủ tôi đi ăn tối ở nhà hàng Trung Quốc. Khi đó, lượng đường trong máu của tôi tăng cao không thể kiểm soát nên tôi đã quyết tâm cắt bỏ carbohydrate. Bất đắc dĩ, tôi phải từ chối cậu ta và quay trở về nhà. Ngày hôm đó, tôi bắt đầu viết những dòng đầu tiên cho cuốn tiểu thuyết sau này trở thành tác phẩm đầu tay của tôi.
“Soo-hyeok sau khi ăn xong mì tương đen thì định đi đâu nữa?”
Tôi dùng khăn giấy lau miệng, đưa mắt nhìn Soo-hyeok trong dáng hình của Jae-jun.
“Cháu muốn được ở cùng các bạn thêm một lúc nữa. Vậy mà đã...”
Soo-hyeok khoanh tay nhìn ra ngoài cửa sổ tiệm ăn. Ye-seul cũng đã buông đũa, liếc mắt nhìn ra ngoài cửa kính.
“Giáo sư ơi, con hươu xạ xanh tới rồi kìa.”
Giọng Ye-seul như tan đi. Soo-hyeok đứng dậy khỏi ghế. Cậu nhìn vào tấm gương gắn tường ở một bên bàn ăn, cười toe toét, đưa tay kéo cho thẳng vai áo vest đang bị lệch.
“Giờ thì tôi phải đi đây. Nếu tìm lại chiếc răng nanh, tôi sẽ gặp được cha mẹ mình. Tuy là một thằng con trai nhiều tội lỗi, nhưng chắc họ cũng sẽ tha thứ cho tôi thôi, phải không?”
Không chào hỏi nhiều, Soo-hyeok đẩy cửa tiệm ăn rồi bước ra ngoài. Con hươu xạ xanh đang gập bốn chân nằm trên vỉa hè chờ đợi liền đứng bật dậy. Soo-hyeok khuỵu gối, cúi đầu trước con vật. Từ trên bầu trời đêm đen như mực, những bông tuyết nhẹ rơi như ai đó vội vàng vãi từng nắm bông.
“Tuyết đầu mùa đã rơi sao? Những người đang ngủ lại lỡ mất cảnh này rồi.”
Tôi nghe thấy tiếng chủ quán ăn vang lên sau lưng. Trong mắt của ông ấy, chỉ có những bông tuyết đẹp tuyệt trần đang bay đầy không trung. Tuy nhiên, đối với một người ăn năn vô hạn, họ có thể nhìn thấy con hươu xạ xanh duy nhất trên thế gian và bóng lưng của chàng trai đổ xuống trước mặt nó. Tôi đẩy cửa kính, xòe bàn tay ra ngoài. Những bông tuyết mềm mại không tan mà chất đầy trên tay tôi.
"Ối! Cậu thanh niên kia bị ngã kìa!"
Chủ quán ăn chạy vội ra ngoài và giậm chân cuống quýt. Sau mười lăm năm, tôi mới biết được tên cậu ấy, và rồi giờ đây, tôi lại phải chia tay theo cách này.
CHÚ THÍCH
1 Lutein là một chất chống oxy hóa mạnh, tốt cho mắt, làm trí tuệ minh mẫn, chứa nhiều trong các loại rau màu xanh đậm, củ, quả, lòng đỏ trứng, sữa công thức.Tangsuyuk: Thịt chiên chua ngọt Hàn Quốc.
Donkatsu: Thịt heo chiên xù.