Đất Trời Vần Vũ

Lượt đọc: 3382 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 14

Cù lao Dao là vùng đất tồn tại ở chiều không gian khác mà lịch sử không chạm tới được.

Thầy giáo Hải lục tìm tư liệu lịch sử để dạy cho học sinh của trường nơi thầy đang công tác và cho vợ đi thi giáo viên giỏi, trong sử sách thầy thấy chép rằng:

“Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, là khai quốc công thần của triều đình nhà Nguyễn. Ông sinh tại huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, con thứ ba của danh tướng Nguyễn Hữu Dật. Mẹ ông là bà Nguyễn Thị Thiện.

Dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Chu, ông được xem là người xác lập chủ quyền cho người Việt tại vùng đất phương Nam. Kể từ thời điểm đó, Biên Hòa - Gia Định chính thức trở thành một đơn vị hành chính thuộc lãnh thổ Việt Nam. Năm Mậu Dần, ông được Chúa Nguyễn Phúc Chu cử vào kinh lược phía Nam. Ông đã lập Gia Định phủ, huyện Phước Long, dựng dinh Phiên Trấn và đặt các chức vị quản trị. Do công lao này, ông được coi là người đặt nền móng cho công cuộc mở đất phương Nam: chiêu dân, lập ấp, thiết lập nền hành chánh cai trị và gìn giữ biên cương.

Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược vùng đất mà Chúa đã chỉ định cho bọn Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến, Trần Thượng Xuyên và Trần An Bình, vốn là các di thần nhà Minh, trước đó không chịu thần phục tân triều nhà Thanh, nên họ đã đem ba ngàn quân cùng gia quyến và năm mươi chiến thuyền đến cư trú, xin làm dân Đại Việt.

Vùng đất này ngày ấy bao gồm từ khu vực Cù lao Phố Biên Hòa đến Mỹ Tho. Giữa vùng này có các đồn binh trấn giữ, làm luôn nhiệm vụ thu thuế thương chánh cho cả vùng này. Lúc bấy giờ nơi này đã được khoảng bốn chục ngàn gia đình, bao gồm cả người bản địa và lưu dân.

Khi vào đến nơi, Nguyễn Hữu Cảnh đã ra sức ổn định dân tình, hoạch định cương giới xóm làng, "lấy đất Nông Nại đặt làm Gia Định phủ, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy đất Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn.

Ông tâu Chúa Nguyễn điều thêm dân từ miền Trung vào khai hoang, người Việt kéo vào rất đông. Bởi vậy Đàng Trong truyền tụng những câu:

- Nhà Bè nước chảy chia hai

Ai về Gia Định Đồng Nai thì về

- Làm trai cho đáng nên trai

Phú Xuân đã trải, Đồng Nai cũng từng

Năm Kỷ Mẹo, rộ lên nhiều vụ đánh cướp người Việt tại nhiều nơi hẻo lánh dọc theo sông Cửu Long. Nguyễn Hữu Cảnh nhận lệnh đem quân dẹp loạn. Tình hình tạm yên, Nguyễn Hữu Cảnh kéo quân về đóng ở cồn Cây Sao, báo tin thắng trận về kinh.

Ở đây một thời gian ông bị “nhiễm bệnh, hai chân tê bại, ăn uống không được. Gặp ngày Tết Đoan ngọ ông miễn cưỡng ra dự tiệc để khuyến lạo tướng sĩ, rồi bị trúng phong và thổ huyết, bịnh tình lần lần trầm trọng. Ngày 14 ông kéo binh về, ngày 16 đến Sâm Giang thì mất. Khi ấy chở quan tài về tạm trí ở dinh Trấn Biên, rồi đem việc tâu lên, Chúa Nguyễn Phúc Chu rất thương tiếc, sắc tặng là Hiệp tán Công thần, thụy là Trung Cần. Người Cao Miên lập miếu thờ ông ở đầu châu Nam Vang. Nơi cù lao ông nghỉ bệnh, nhân dân cũng lập đền thờ, được mạng danh là Cù lao Ông Lễ. Còn chỗ đình quan tài ở dinh Trấn Biên cũng lập miếu thờ”.

Trong các sách "Hoàn vũ ký”, “Nhất thống dư địa chí”, “Đại Nam nhất thống chí”, “Đại Nam dư địa chí ước biên”, “Nam Kỳ địa chí”... đều có ghi rõ những nơi lập đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh như Biên Hòa, Long Xuyên, Châu Đốc, Sài Gòn, Nam Vang... Trong đó đền thờ lớn nhất tại Cù Lao Phố, là nơi ông dừng chân khi đến phương Nam và cũng là nơi dừng linh cữu ông trước khi đưa về cố hương.

Sau khi Đức ông Nguyễn Hữu Cảnh mất, những nông dân vùng Ngũ Quảng xưa kia theo chân Đức ông đến cù lao Phố, đã ngược dòng sông đến một cù lao khác, để lập làng, lập ấp.”3

Thầy suy nghĩ mãi, sử sách không hề nói đến cù lao nào tên là cù lao Dao, nơi thầy đang công tác. Trong sử sách chỉ nói đến một cù lao không tên nào đó, mà những cư dân Ngũ Quảng đã đến, liệu đó có phải là cù lao Dao. Chức năng của người thầy, không cho phép thầy bịa ra lịch sử để dạy cho học sinh. Lịch sử cần phải trung thực, không nên vì lý do gì mà bóp méo lịch sử. Cù lao Dao có lịch sử như thế nào? Thầy Hải băn khoăn với câu hỏi này.

Không có cách nào khác, thầy tìm đến quán cà phê của chị Lụa, chị vợ của thầy, để tìm nhà thơ và nhờ anh ta giúp thầy những tư liệu về lịch sử. Chị Lụa đon đả chào thầy:

- Hải, hôm nay em không đi dạy hả?

- Dạ! Hôm nay em đi tìm anh Trường có việc, ảnh có nhà không chị?

- À sáng nay anh Trường đi sưu tầm cái gì đó chị không biết, chút nữa thế nào ảnh cũng về, em chờ chút!

Lài có khỏe không em?

- Dạ! Vợ em đang học bài để chuẩn bị đi thi giáo viên giỏi.

- Trời ơi! Khổ vậy! Đã giáo viên mà còn thi cử cực quá vậy! Nó đang bầu bì sao không nghỉ ngơi cho khỏe!?

- Dạ, không được đâu chị. Năm nào cũng phải thi giáo viên giỏi, giáo viên bây giờ không khổ vì thiếu ăn như hồi trước mà khổ vì chuyện vẽ vời của mấy ông lãnh đạo bên giáo dục chị ạ.

Lụa đặt trên bàn Hải một ly nước ép bưởi, đặc sản của cù lao, thì nhà thơ cũng vừa đưa con thuyền cập bến. Giúp nhà thơ đưa cá lên bờ, Lụa nói:

- Có thầy Hải qua tìm anh.

Miên Trường cười với Lụa:

- Thầy muốn hỏi về lịch sử cù lao Dao chứ gì?

Lụa giật mình, nghĩ thầm: “Quả thật con người này có nhiều điều kỳ lạ!”

- Mời anh ngồi! - Hải kéo ghế mời nhà thơ. - Chị ơi, cho em ly bưởi ép!

- Cám ơn thầy! Nhà thơ uống ngon lành ly nước ép bưởi:

- Thầy muốn hỏi tôi về lịch sử cù lao Dao à?

- Dạ! Em không tìm thấy cái tên này trong bất kỳ tư liệu lịch sử nào, nghe nói anh sưu tầm chuyện cổ vùng đất, anh cho em biết với được không? Em cần dạy học sinh, với lại bà xã em cũng cần biết để đi thi giáo viên giỏi.

Nhà thơ khẽ cười:

- Cù lao Dao có phải cù lao Phố ngày xưa mà trong sử sách đã chép lại hay không? Đó là câu hỏi của nhiều người dân cù lao Dao khi đọc lịch sử. Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh kinh lược phương Nam là có, cù lao Phố là có, thầy cứ dạy cho học sinh những điều thầy đọc được trong sách. Cù lao Dao là vùng đất tồn tại ở chiều không gian khác mà lịch sử không chạm tới được. Thầy thấy đó, cù lao Dao là tên gọi dân dã. Tên gọi này, ngay cả trong hệ thống giấy tờ bây giờ cũng không tồn tại, chứ nói chi ngày xưa. Cù lao Dao là vùng đất tồn tại ở chiều không gian khác mà lịch sử không chạm tới được, thầy hiểu không?

- Như vậy cù lao Dao không phải cù lao Phố sao?

- Phải cũng đúng mà không phải cũng đúng!

- Em không hiểu?

- Thầy không thể hiểu, khi thầy lớn lên trong nền giáo dục với hệ thống tư duy của không gian ba chiều.

Lụa dọn mâm cơm với bát canh chua nghi ngút nấu từ những con cá mà nhà thơ đã bắt được từ sông Thanh Long. Bát canh chua hấp dẫn với những bông so đũa trắng và bạc hà thơm ngát.

- Mời hai anh em ăn cơm, nói chuyện xa xưa chi cho mệt, “có thực mới vực được đạo!”

Hải chịu, anh không hiểu nổi chuyện nhà thơ nói, thôi đành dùng lịch sử cù lao Phố để dạy cho học sinh vậy! Lịch sử đôi khi cũng mù mờ, bởi chủ quan của người viết ra. Anh nhớ chuyện cười ra nước mắt ở trong trường anh. Một thầy giáo dạy lịch sử, bữa nọ nhà học trò có giỗ, mời thầy, chiều thầy đến lớp trong trạng thái mơ mơ, màng màng vì hơi men. Thầy dạy:

“- Trong chiến dịch Điện Biên Phủ liệt sĩ Phan Đình Phùng lấy thân mình lấp lỗ châu mai.

Cậu lớp trưởng đứng lên nhắc nhở:

- Thưa thầy, thầy nói lộn rồi, Phan Đình Giót chứ không phải Phan Đình Phùng ạ!

Thầy tự ái đập bàn và sửng cổ:

- Em tưởng ta say à? Trong tình huống dầu sôi lửa bỏng ấy, Phan nào cũng phải lấp lỗ châu mai!”

Thế đấy, đôi khi lịch sử có thể bị sửa lại bởi tự ái của ông vua nào đó. Thầy không tin lắm vào sách lịch sử nhưng thầy tin vào nhân dân. Nhân dân không sai bao giờ, khi dân đã thờ ai thì người ấy nhất định có công trạng và đức độ, dù sử sách có công nhận họ hay không, thì họ vẫn ở trong lòng dân. Nhưng khổ nỗi ai cho phép thầy dạy những điều nhân dân tin, những điều nhân dân nói?

Thầy đi về giữa con đường làng, hẹp và quanh co như con đường của ba trăm năm trước, đi giữa ngạt ngào của hoa bưởi và mật mía. Cù lao Dao có phải cù lao Phố không? Nếu đúng thì ba trăm năm trước ai đã đặt chân trên con đường này, Ngọc Vạn Công chúa hay Lễ thành hầu? Ngọc Vạn Công chúa, nàng “Huyền Trân” phương Nam, một người phụ nữ có công lớn trên vùng đất này. Vì sứ mệnh Tổ quốc giao phó phải bang giao với phương Nam, Công chúa Ngọc Vạn đành gạt lệ ra đi, bỏ lại sau lưng lầu son gác tía để vào miền sông nước này. Thời gian đã xóa đi dấu vết của người. Thầy Hải còn nhớ thầy đọc trong cuốn sách cũ có đoạn như sau:

“Nếu nói người có công đầu xác định lãnh thổ phương Nam thì chính là Ngọc Vạn Công chúa. Theo gia phả của Chúa Nguyễn, được Tôn Thất Hân sưu nghi, thì Chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên, Vương phong bà Mạc Thị Giai làm Chánh hậu. Bà này sanh hạ ba lịnh nữ: Công chúa Ngọc Vạn là con thứ hai. Lúc ấy Lạp Vương Chây-Chét-Ta II xin cầu hôn hoàng nữ nước Việt. Sãi Vương thuận gã công chúa Ngọc Vạn cho Chân Lạp. Về sau bà là Hoàng thái hậu. Nhân lúc tình hình Chân Lạp rắc rối, nhân dân cầu cứu, bà đã nhờ Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần can thiệp. Vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân xin nhượng đất Nông Nại cho phủ Chúa. Kể từ đây các cư dân Đại Việt đặt chân đến vùng “gạo trắng nước trong" dưới sự bảo trợ của bà Ngọc Vạn”4

Cù lao toàn mùi thơm, thầy bỗng thấy mảnh đất này thật đáng yêu cho dù nó chẳng có lịch sử chính thống, cho dù nó tồn tại trong bất kỳ chiều không gian nào cũng chẳng quan trọng. Thầy ghé lại bên đường bẻ cây mía, tước vỏ nhai ngon lành để vị ngọt thấm dần vào bao tử.

« Lùi
Tiến »