CHIỀU nay, định mua ít món đồ lặt-vặt về làm quà cho bà con ngoài Bắc, tôi lang thang ngoài phố một mình.
Qua mấy cửa hàng tạp hóa ở đường Gia-long, nhân trời lấm tấm mưa, tôi tạt sang chợ Đông-Ba, định tìm mua mấy chiếc nón Kinh với một chiếc điếu ống.
Khách lạ, chợ chiều. Khách nhìn nhà hàng, nhà hàng ngó khách.
Cái cảnh mấy người đàn bà ngồi xổ đầu cho mấy người đàn bà khác xức hộ dầu, búi hộ tóc [1] , chẳng làm cho khách hoa mắt bằng những tấm áo hàng màu : hồng, lục, tím, xanh.
Vào dẫy hàng bán đồ tơ lụa, khách tưởng chừng như lạc bước vào một khu vườn mà những mùi thoang thoảng quanh mình chỉ là mùi phấn ngát với mùi dầu thơm của những bông «hoa cười» e-lệ nấp sau nhữag trong hàng bầy la liệt trên bục.
Dẫy hàng bên kia, ồ-ồ giọng nói một người đàn ông Bắc :
– Hào hai, cô có bán thì bán…
Tôi ngoảnh lại. Người đang mà-cả đó là một người trẻ tuổi tôi thường gặp mặt ở Hà-Thành.
– Xin thày cho giác [2] năm.
– Ừ, thì giác năm. Nhưng cô phải chọn cho tôi mấy đôi thật tốt…
– Dạ, bẩm tui chỉ còn có thứ vừa…
– Hạng này hào rưỡi một đôi thì đắt.
Thấy tôi nhìn, cô hàng như có ý hơi bẽn lẽn.
Lúc ấy tôi mới trông rõ mặt — một khuôn mặt trái soan có cặp mắt trong mà sắc dưới hai đường lông mày vành nguyệt như hai chiếc lá liễu cong cong.
Chuyện mua bán chưa ngã giá, khách hàng đã «cười tình» rồi nhà hàng cũng «cười tình».
Chẳng muốn để cho đôi trai gái ấy để ý đến mình, tôi cũng sang chọn xem mấy chiếc nón ở hàng bên, làm như người vô tình không để ý đến câu chuyện …
Câu chuyện hai người nói với nhau, tuy nghe tiếng được tiếng không, nhưng đại ý, tôi rõ hết. Người con gái hẹn khách hàng đúng tám giờ tối đến nhà riêng ở số… đường Đông-Ba chọn hàng đẹp ; vì, cứ như lời cô ta nói với khách thì thứ hàng tốt cô ta không bầy bán ở chợ bao giờ.
Khách hàng cũng thuận thế, chào nhà hàng rồi đi.
Thấy lời chào hẹn với tình-ý hai bên cùng đáng ngờ, tôi chẳng thể nén được lòng muốn biết của mình, cũng làm bộ tự nhiên bước đi, cố dõi theo người thanh niên đó.
Ra khỏi chợ, anh ta nói chuyện với một người đàn ông bận quần áo ta, chừng đã lâu, vẫn đứng đợi anh ta ở cửa.
Người này cũng là người Bắc. Anh ta nói đúng giọng Bắc-kỳ:
– Bây giờ mày đã cho là đúng chưa ?
– Chúng nó ở Bắc vẫn bảo mày là thổ-công trong này kia mà; tao phục.
– Năm năm giời, anh phải biết….
– Có lẽ mày biết cả tường thành Huế có mấy viên gạch… Nhưng này, tao hỏi thật : đến như thế có cái gì nguy hiểm không ?
– Thằng này nhát lạ. Dễ mày tưởng như ngõ Hội-vũ ngày trước, chúng nó cho mày vào tròng. Mày phải biết ở đây là đất Thần-kinh, không phải ở Hanoi.
– Tao tin mày, nhưng tao vẫn có ý hơi ngài ngại.
– Ngại nó rút dao ra, bắt mày viết cái văn tự nợ ngàn bảy phải không ? «Kinh cung chi điểu», mày sợ là phải, nhưng con bé ấy đã làm gì có chồng! Bố chết, nó ở với mẹ, nhưng mẹ lại bằng mười con. Đấy, rồi mày đến đấy mà xem nó có chọn đồ hàng tốt cho mày không. Hàng gì ? Hàng «bà nàng» bán cho «ông mãnh».
– Vì thế tao cũng liều. Nhưng phải chi cho nó bao nhiêu tiền, mà cách thức vào ra thế nào, mày cũng phải bảo để tao biết.
– Chỉ một «công» đã sang trọng như ông Hoàng rồi. Còn, mày phải tùy cơ ứng biến. Nhưng đại khái chuyện nó sẽ loanh quanh như thế này, tao không cần phải đoán cũng biết. Mày đến, nó lại sẽ đưa ra thứ… nó đã đưa cho mày xem ở chợ rồi tán ma tán mãnh cho mày bằng lòng. Lúc ấy, chính là lúc nó vừa bán hàng cho mày, lại vừạ «tống tình». Của có xấu, mày cũng nhắm mắt mà mua, nhưng phải bảo nó : «nể cô, tôi lấy vậy, nhưng ở đây còn có hàng nào bán thứ tốt hơn nữa, cô làm ơn dẫn tôi đi xem». Thế là nó dẫn mày đi liền. Còn đi đến đâu, cái đó rồi mày khắc biết…
Bẩy giờ ruỡi tối hôm ấy, tôi đã có mặt ở trước nhà số… đường Đông-Ba, đến chỗ hẹn không ai hẹn.
Đường dài, người vắng, tôi lững thững bước một, hết đi xuống lại đi lên.
Con sông Đông-Ba tối nay yên lặng như một đường cống xây hở chạy giữa hai con đường lớn thông nước từ bến Tiên-Nộn thẳng xuống Hương-Giang. Cầu Đông-Ba vắt mình từ đường Đồng-Khánh sang đường Đông-Ba trông như cuốn cửa gạch tròn xây ngang trên miệng cống.
Buồn, trong lúc nghĩ ngợi vẩn vơ, tôi lấy thuốc lá, đánh diêm lên hút. Nhìn sang căn nhà hai người hẹn nhau gặp mặt, tôi thấy có ánh đèn le-lói bên trong.
Nhà kiểu cũ, thấp không đầy ba thước, trước cửa có mảnh phên cót tre giả làm hiên. Giữa lối cửa vào có hai bực thềm, vôi đã long, gạch đã sụt.
Một lát sau, đằng miệt cầu Gia-Hội, có chiếc xe đi đến. Xe chạy chậm, tôi trông được rõ người ngồi trên. Người ấy chính là người trẻ tuổi chiều hôm đó tôi đã gặp trong chợ, lại đi dõi theo cho đến cùng đường. Lần này anh ta vận bộ đồ nỉ rất sang, đầu để trần, tay cầm một chiếc «can» to gộc.
Chiếc xe đỗ xuống bên kia đường, ngay trước chỗ tôi đứng. Do dự một lát, anh ta ra bộ quả quyết, bước lên thềm căn nhà cũ thấp, giơ «can» gõ cửa, rồi lại chống «can» đứng nhìn ra mặt đường.
Cánh cửa gỗ kẹt mở, người trẻ tuổi ấy quay lại đã thấy có bóng người con gái đứng trong. Anh ta lại ngoảnh lại nhìn, trước khi né mình bước qua khe tấm cánh cửa nửa mở nửa khép. Cửa lại đóng kín như trước. Hè đường bên này, tôi vẫn điềm nhiên đứng như người hóng mát, nhìn thẳng ra sông.
Mười phút sau, cửa mở, rồi cả hai người cùng bước xuống thềm.
Đi bộ khỏi đầu cầu Gia-Hội, cặp trai gái ấy tạt sang đường Paul-Bert, qua cầu Trường-Tiền, gọi hai chiếc xe kéo đậu ở trước hàng Morin, mỗi người bước lên một chiếc.
Chạy thẳng đường Jules Ferry, hai người đã cách xa tôi chừng năm-mươi thước. Tôi cũng vẫy một chiếc xe khác đến, bước lên, bảo phu xe chạy theo hai xe trên.
Qua nhà Băng Đông-Pháp, trường Quốc-học, cầu ga xe-lửa, chúng tôi cùng đến một phố vắng, lơ-thơ có mấy ánh đèn. Thấy hai chiếc xe trước chạy tạt vào con đường hẻm tối như bưng, tôi xuống xe, đi theo bước. Đường gồ ghề, thoai-thoải dốc. Cuối dốc là một chỗ bến —bến Trường-Súng— bên hữu ngạn sông Hương.
Ra về tối hôm ấy, tôi lại chợt nghĩ đến câu nói của anh chàng răng vàng bữa trước tôi gặp trên cầu Trường-Tiền :
– Thiệt ông không biết cái nghề họ mần ? Mỗi người họ mần những hai nghề : một nghề «ngỏ», một nghề «kín»
Chú thích:
[1] Ở Huế có những người đàn bà chuyên nghề bán dầu thơm xức đầu và bới tóc hộ cho người khác.
[2] Giác là một hào. Giác năm là hào rưỡi