MỘT buổi tối mùa hạ, lúc ấy chừng đã chín, mười giờ.
Trời nóng, mấy con đường quanh hồ Hoàn-Kiếm như Avenue Beauchamp, Francis Garnier còn tấp nập những khách thừa lương dạo chơi đón gió.
Các chòi bán đồ giải khát ở ven đường Beauchamp tối hôm ấy không còn thừa một ghế. Bờ Hồ phải một hôm ngập lụt. Lụt nước chanh, nước lựu, nước cam, rượu bia…
Người ta gặp đủ mặt mấy «bạn trẻ» có tiếng hồi bấy giờ.
K., T., hai ông «kép kịch» chết dở về nghề.
L., ông chủ báo hay đội bérêt trắng, đi đâu cũng mang hộp thuốc lá ăng-lê như chiếc ống bơ ;
T.T., ông chủ nhiệm tờ báo vài tháng lại xuất bản một kỳ ;
X., nhà văn lúc nào cũng giắt trong lưng chiếc búa đanh ;
Nguyễn-thị-H.T., cô «gái mới» ăn tương rau muống mà tính nhảy đầm ;
Hoàng-thị-Y.A., cô gái cũ đã bị đòn vì muốn làm một «tiểu thư đi bộ».
Người ta thấy mặt đủ… đủ. Lại cả mấy ông con nhà quí phái xứ Huế, vài ba ông con nhà triệu-phú Bắc-kỳ và Nam-kỳ.
Thì tối hôm ấy, chính tôi cũng là một khách đến giải khát tại một chòi bán đồ giải khát ở Bờ Hồ. Ngồi cạnh tôi, có hai người. Một người Saigon đứng tuổi với một người trẻ tuổi Trung-kỳ, đang nói với nhau về một chuyện «đuổi hoa», câu chuyện người ta thường thấy trên miệng lưỡi các anh em bạn trẻ.
– Con gái Bắc-kỳ, nhất là ở Hà-Thành, hầu hết là hư hỏng. Người ta bảo Hanoi bây giờ là một cái «nhà chứa». Điều đó, không ngoa mà.
– Nói như vậy hơi quá. Nhưng thật ra, con gái Hanoi lắm kẻ hư. Bọn điếm đĩ, mình chẳng nói đến làm gì. Lắm đứa con nhà lương-gia cũng đi tắt về ngang để «bom xu» lấy tiền mua áo hàng mầu, giây chuyền vàng, bông tai đầm với trăm thứ nữa. Ở Huế, không biết thế nào chớ như ở Saigon, đâu có thể. Cứ thiệt tình mà nói thì cũng có dăm ba đứa làm chuyện chó mèo chi đó, nhưng dăm ba đứa không phải là số nhiều.
– Anh phải biết, ở Huế, không khi nào. Huế là đất Đế-đô, trừ một số ít con nhà bình dân, còn phần đông vào hạng ngọc diệp kim chi cả. Con nhà quyền quí có bao giờ làm những chuyện tầm bậy như thế. So với Huế, Hanoi khác nhiều.
Trời đã nóng mà tôi thấy mắt tôi càng nóng như thiêu. Hớp nước chanh ướp nước đá uống đã khỏi cổ rồi cũng chỉ như những giọt dầu tưới trên mớ lửa lòng đang bùng ngọn.
Giữa lúc ấy, người Huế trẻ tuổi lại nói tiếp :
– Năm kia, tôi có một người bạn học trong trường Thuốc. Tốt nghiệp ra rồi, lúc bổ về Saigon. Nhân qua Huế có lại thăm tôi, kể cho nghe chuyện Bắc. Trong những chuyện đó, có nhiều chuyện về tụi thiếu-nữ đất ngàn năm văn vật. Nhưng lý thú nhứt, có câu chuyện này. Năm ấy, anh ta đã lên niên học thứ hai, thường sáng nào cũng đến tập việc tại phòng khám bệnh trong nhà thương Phủ-Doãn. Trước, anh ta còn xem cho những người đến xin khám bệnh làm phúc, sau thăm đến những người chịu khám mất tiền. Một hôm có một thiếu-nữ đến khai với anh ta bị bệnh đau tim. Ghé tai hết ngực đến lưng, anh ta vẫn thấy trái tim người ấy đập đều, không thấy có biến chứng. Hỏi lại kỹ xem, người bệnh của anh ta cứ nhất định khai là bị bệnh. Anh ta cho rằng tại mình chưa học đến nơi đến chốn, nhưng vì chẳng muốn để làm mất thể-diện trước mặt một người con gái đẹp, nên cũng cứ cho đơu. Từ bữa ấy, sáng nào người bệnh ấy cũng đến nhờ khám như thường ; còn anh ta sáng nào cũng cứ kê đơn, mà toàn đơn thuốc bổ. Được ngót một tháng như thế, bạn đồng học anh ta, một tối, gặp «thầy lang» với «con bệnh» khoác tay nhau đi trong một con đường vắng, cạnh nhà Hỏa-lò.Thì ra, người con gái ấy là con một quan Tuần, thác bệnh để đến nhà thương bắt tình với anh «học trò nhà Thuốc» nọ. Anh ta lại kể rằng trong ba năm học cuối cùng, anh ta gặp đến hơn mười «con bệnh» như thế, truy đến gốc tích, hết thẩy đều là con nhà tử tế cả. Anh ta thế ; còn biết bao nhiêu bạn đồng học của anh ta.
Người Saigon đứng tuổi cười :
– Truyện thú hả! «Thầy khám hộ em đi ..!»
Người Huế trẻ tuổi cũng cười:
– Như thế là con bé «đau tim» thực.
Riễu cợt chán, anh chàng Huế lại lên cái giọng nghiêm nghị của nhà đạo-đức :
– Con gái Bắc hư hỏng như thế vì chúng nó không có gia đình giáo dục. Trước hết chúng còn làm ra bộ ái tình cao thượng. Sau thấy thằng nào có máu mặt một chút thì giở đến chuyện làm «khó dễ» xoay tiền. Cái thói xa xỉ, cái tính dâm-ô của bọn thiếu-nữ Bắc đã xây dựng lên ở đây biết bao nhiêu khách sạn, nhà săm. Đạp đổ tháp bút với nghiên mực ở cửa đền Ngọc-Sơn, mình sẽ thấy Hà-Thành, đất cố-đô Thăng-Long, chỉ là một cái «phòng cho thuê» lớn…!
Nghe câu chuyện lý thú ấy, tôi không thể không can thiệp :
– Xin hai ông tha lỗi. Hai ông xét như thế thì lầm. Thật ra, các ông chưa thật biết Hà- Thành.
Người Saigon đứng tuổi, ngoảnh nhìn tôi bằng cặp mắt ngạc nhiên :
– Ông không biết, tôi ra ngoài này làm việc đã ba năm.
Người Huế trẻ tuổi cũng trông tôi, nhếch mép cười một cách khinh đời :
– Tôi ra học ngoài này một năm, ông phải biết.
Tôi cũng mỉm cười :
– Hai năm với một năm của các ông không có nghĩa gì hết. Tôi xin nhắc lại: Các ông chưa thật biết Hà-Thành. Cạnh cái Hà-Thành điếm đĩ nhơ nhớp mà các ông vùi xác lăn lưng, còn có cái Hà-Thành làm lụng đầu tắt mặt tối suốt ngày mà các ông chưa từng bước đến. Các ông chỉ biết Hà-Thành ở những xóm Khâm-Thiên, Vạn-Thái, Đồng-Lợi, Vạn-Lợi, mà không biết Hà-Thành ở những xóm Sinh-Tử, Cửa-Nam, Bạch-Mai, Chợ-Hôm. Hà-Thành không phải chỉ là một chỗ bán vui mà còn là một công-xưởng suốt ngày có biết bao nhiêu người đổi bát cơm bằng bát bồ-hôi nước mắt. Trong những lúc họ ngủ thì các ông thức, những lúc các ông ngủ thì là lúc họ cắm đầu làm việc, làm việc một cách lương thiện giữa chỗ có bóng sáng mặt trời.
Mỉm cười một cách kiêu ngạo, người trẻ tuổi khẽ nhún vai:
– Thưa ông, thế còn hạng làm việc buôn bán ở những «nơi» với trong những «lúc» không có bóng sáng mặt trời ?
– Cái đó tôi không bảo hẳn là không, nhưng cuộc «buôn bán» ông vừa nói, Hà-Thành không giữ độc quyền, ngay ở Huế người ta cũng thấy.
– Ông lấy gì làm bẳng? Xin lỗi ông, ông có mất công cũng không tìm thấy ở Huế những chuyện ấy.
Tôi chịu mất công vậy.
Nửa tháng sau cái đêm hè ấy, một mình với chiếc va-li, thui thủi, tôi đáp chuyến xe lửa tốc-hành vào Huế lần thứ hai.
Cuộc lữ-hành của tôi đã đến đoạn chót rồi.
Những «bằng chứng» ông trẻ Huế đòi hỏi, tôi đã đem theo về cả với cuốn sổ tay. Bẩy bài «Mặt trái Trường-An» tôi đăng trên báo trong nửa tháng nay đều là những nét bút mực, chì, tôi đã ghi chép được trên cuốn sổ tay ấy.
Tôi không dám tự phụ đã điều-tra được hết về nghề mãi-dâm ở Huế. Đây, tôi chỉ thuật lại «những cái… mắt thấy» ở Huế trong mấy đêm ngày…
– Thưa ông, thế còn hạng làm việc ở những «nơi» với trong những «lúc» không có bóng sáng mặt trời?
– Thưa ông, những «của ấy» không phải của riêng Hanoi!
Août 1932