CON NGỰA CHẠY BĂNG BĂNG. Theo sau nó là một chùm khói đen dày đặc và lửa rực màu cam.
Con ngựa đang bốc cháy.
Cháy phừng phừng, con thú kiêu hãnh phi nước đại với sự khẩn trương không sinh ra từ nỗi đau mà chính từ khát khao. Ban đêm, thấy rõ từ xa cả dặm, con ngựa không người cưỡi, không yên cương phóng qua miền quê đồng bằng cằn cỗi, hướng về phía làng, về phía người canh gác.
Fet chết trân trước cảnh tượng ấy. Biết rằng nó đang đến tìm mình. Anh đoán trước được điều đó. Chờ đợi nó.
Tiến vào vành đai bên ngoài làng, xông tới anh với tốc độ của một mũi tên lửa, con ngựa đang phi nước đại lên tiếng - lẽ đương nhiên, trong một giấc mơ, nó lên tiếng - nói rằng, tôi còn sống.
Fet rú lên lúc con ngựa rực lửa chồm qua anh - và anh bừng tỉnh.
Anh đang nằm nghiêng trên một cái giường gấp trong phòng ngủ của đoàn thủy thủ bên dưới boong trước một con tàu tròng trành. Con tàu lớn trồi lên hụp xuống và lắc lư, anh cũng trồi lên hụp xuống và lắc lư cùng nó, tư trang tài sản xung quanh anh được bọc lưới và chằng buộc chắc chắn xuống sàn. Các giường khác đã được gập lên tường. Hiện tại, anh là người duy nhất đang ngủ.
Giấc mơ - về cơ bản các giấc mơ luôn giống nhau - đã ám ảnh anh suốt thời còn trẻ. Con ngựa rực lửa với bốn vó bốc cháy từ trong đêm đen phi về phía anh, khiến anh bừng tỉnh ngay trước cú va chạm. Nỗi sợ anh cảm thấy khi tỉnh dậy thật đậm đặc, nỗi sợ của một đứa trẻ.
Anh nhoài người lấy túi đồ dưới gầm giường. Cái túi ẩm ẩm - mọi thứ trên con tàu này đều ẩm ướt - nhưng nút thắt trên miệng túi rất chặt nên các thứ bên trong ổn cả.
Con tàu này tên là Farrell, một tàu đánh cá loại lớn dùng để buôn lậu cần sa, một thứ, đúng vậy, vẫn là món hàng chợ đen sinh lời. Đây là chặng cuối của hành trình từ Iceland trở về. Fet đã thuê tàu này với giá là một tá vũ khí loại nhỏ cùng cả đống đạn dược có thể giúp chúng kiếm bộn tiền trong nhiều năm nữa. Biển là một trong số ít những khu vực còn lại trên hành tinh này đặc biệt nằm ngoài tầm ảnh hưởng của ma cà rồng. Các loại dược phẩm trái phép trở nên đặc biệt khan hiếm sau khi có lệnh cấm mới, giao thương bị hạn chế trong phạm vi các loại ma túy được trồng và điều chế nội địa như cần sa và các gói ma túy đá. Ngoài ra họ còn thực hiện một công việc kinh doanh phụ nhỏ nhỏ là buôn rượu lậu - và trong chuyến này, có đến vài thùng vodka Nga lẫn Iceland hảo hạng.
Sứ mệnh của Fet khi tới Iceland gồm hai việc. Việc thứ nhất là tới Đại học Reykjavik. Trong vài tuần lẫn vài tháng sau thảm họa ma cà rồng, trong khi vẫn bị mắc kẹt bên trong hầm tàu dưới sông Hudson đợi không khí trên mặt đất dễ thở trở lại, Fet liên tục lật giở cuốn sách mà giáo sư Abraham Setrakian đã đánh đổi cả tính mạng để giành về, cuốn sách đã được ông già chuyên săn tìm những-người-sống-sót-thời-Holocaust-nay-đã-biến-thành-ma-cà-rồng dứt khoát giao cho một mình Fet.
Đây là cuốn Occido Lumen, dịch nôm na là "Ánh sáng lụi tàn". Bốn trăm tám mươi chín trang, viết tay trên giấy da, kèm hai mươi trang minh họa, bìa bọc da, hai mặt phủ tấm bạc nguyên chất có thể đẩy lui ma cà rồng. Cuốn Lumen là bản mô tả sự trỗi dậy của strigoi, dựa trên bộ sưu tập các phiến đất sét cổ đại có từ thời Lưỡng Hà, được tìm thấy trong một hang động ở rặng núi Zagros vào năm 1508. Được viết bằng tiếng Sumer và cực kỳ dễ vỡ, các phiến đá này tồn tại được một thế kỷ thì rơi vào tay một giáo sĩ người Pháp quyết tâm bí mật giải mã chúng - hơn hai thế kỷ trước khi tiếng Sumer được dịch ra rộng rãi. Vị giáo sĩ cuối cùng đã tặng bản thảo có minh họa ấy cho Vua Louis XIV - và ngay lập tức bị bỏ ngục vì nỗ lực của ông.
Các phiến đá gốc bị tán thành bột theo lệnh hoàng gia và bản dịch kia được cho là đã bị tiêu hủy hoặc thất lạc. Người tình của nhà vua, một người học đòi huyền thuật, đã mang cuốn Lumen ra khỏi hầm cung điện năm 1671, rồi từ đó nó đã bí mật qua tay nhiều người và mang tiếng là một văn bản bị nguyền rủa. Cuốn Lumen thoáng xuất hiện trở lại năm 1823 rồi một lần nữa vào năm 1911, mỗi lần lại trùng với những đợt bùng phát dịch bệnh bí ẩn, trước khi lại biến mất. Văn bản này được đưa ra đấu giá tại Sotheby ở Manhattan chưa đầy mười ngày sau khi Chúa Tể tới và đại dịch ma cà rồng bắt đầu - và Setrakian đã giành được nó sau bao công sức bỏ ra, với sự hậu thuẫn của các Chúa Tể cổ Đại cùng toàn bộ tài sản của họ hợp lại.
Setrakian, giáo sư đại học đã xa lánh xã hội bình thường sau sự cố người vợ yêu dấu bị biến đổi rồi trở nên ám ảnh với chuyện săn lùng và tiêu diệt Strigoi do virus sinh ra, đã xem quyển Lumen như văn bản có căn cứ đích xác về âm mưu gây bệnh dịch cho trái đất của ma cà rồng suốt phần lớn chiều dài lịch sử loài người. Ngoài mặt, địa vị của ông trong cuộc sống đã hạ xuống thành một chủ tiệm cầm đồ hạ cấp trong một khu suy thoái kinh tế của Manhattan; song ngay trong lòng cửa hiệu của mình, ông đã duy trì một kho vũ khí chống ma cà rồng cùng một thư viện các ghi chép cổ và sổ sách liên quan đến giống loài chết chóc này, tập hợp được từ mọi ngóc ngách của địa cầu xuyên suốt bao thập kỷ săn đuổi. Có điều, khao khát được tiết lộ các bí mật ẩn giấu trong cuốn Occido Lumen của ông lớn đến độ cuối cùng, ông đã hy sinh cả mạng sống để cuốn sách ấy có thể đến tay Fet.
Trong những đêm dài tăm tối ấy ở hầm ngầm dưới sông Hudson, Fet đã nảy ra ý nghĩ rằng quyển Lumen hẳn phải được ai đó đưa ra đấu giá. Ai đó từng sở hữu cuốn sách bị nguyền rủa ấy - nhưng ai mới được? Fet nghĩ có lẽ người bán có nhiều hiểu biết hơn mình về quyền năng và nội dung cuốn sách. Sau khi họ trở lên mặt đất, Fet đã cần mẫn đọc qua tập sách với quyển từ điển Latin trong tay, nỗ lực hết sức mệt mỏi dịch từ vựng. Trong chuyến tham quan bên trong tòa nhà Sotheby hoang vắng ở khu Thượng Đông, Fet khám phá ra Đại học Reykjavik hẳn là bên thụ hưởng ẩn danh số tiền thu được từ việc bán cuốn sách đặc biệt hiếm ấy. Anh và Nora cân nhắc lợi hại của việc thực hiện chuyến đi này và họ cùng quyết định rằng hành trình dài này tới Iceland là cơ may duy nhất để họ khám phá sự thật ai đã đưa cuốn sách ra đấu giá.
Tuy nhiên, khi đến nơi, anh nhận ra trường đại học này là một ổ ma cà rồng. Fet đã hy vọng Iceland có lẽ đã học theo nước Anh, nơi đã nhanh chóng phản ứng trước nạn dịch, cho nổ tung hầm Chunnel và săn lùng Strigoi sau đợt bùng phát đầu tiên. Quốc đảo bởi vậy gần như sạch bóng ma cà rồng và người dân của họ, dù hoàn toàn tách biệt với phần địa cầu nhiễm dịch, vẫn là con người.
Fet đợi đến sáng để lục soát khu văn phòng hành chính vừa bị cướp phá, hy vọng dò ra được lai lịch quyển sách. Anh biết được rằng chính quỹ tín thác của trường đã đưa cuốn sách ra đấu giá, không phải một học giả làm việc ở đây hay một nhà hảo tâm nào đó như Fet hy vọng. Vì ngôi trường đã bị bỏ hoang, đây đúng là đi một chặng đường dài chỉ để đụng ngõ cụt. Nhưng cũng không hoàn toàn phí công. Vì trên một kệ sách trong khoa Ai Cập học, Fet đã tìm thấy một văn bản vô cùng kỳ lạ: một cuốn sách cũ bọc da, in tại Pháp năm 1920. Trên bìa là mấy từ Sadum et Amurah. Những từ cuối cùng mà Setrakian đã yêu cầu Fet phải ghi nhớ.
Anh cầm văn bản đó theo. Mặc dù chẳng biết một chữ tiếng Pháp.
Phần thứ hai trong sứ mệnh của anh tỏ ra khả quan hơn nhiều. Hồi mới hợp tác với những kẻ buôn lậu cần sa sau khi biết mạng lưới của chúng rộng đến thế nào, Fet đã thách chúng tìm cho anh một món vũ khí hạt nhân. Yêu cầu này không khó như người ta lầm tưởng. Đặc biệt là ở Liên Xô, nơi Strigoi giành trọn quyền kiểm soát, nhiều vũ khí hạt nhân cỡ đựng vừa va li đã bị các cựu sĩ quan KGB xoáy mất và có tin đồn là đang sẵn hàng - ở tình trạng không còn hoàn hảo - ở các chợ đen Đông Âu. Quyết tâm của Chúa Tể trong việc dọn sạch những thứ vũ khí này khỏi thế giới - để người ta không thể sử dụng chúng vào việc tiêu hủy địa điểm khởi nguồn của nó, giống như nó đã tự mình tiêu diệt sáu Chúa Tể Cổ Đại - chứng tỏ cho Fet thấy Chúa Tể thực chất có thể bị tổn thương. Hệt như các con Cổ Đại, địa điểm khởi nguồn của Chúa Tể, chìa khóa quan trọng dẫn tới khả năng thủ tiêu nó, được mã hóa trong các trang sách Lumen. Fet đưa ra giá hợp lý và mua cả bạc để bảo vệ.
Nhóm buôn lậu này đánh tiếng với cánh đồng hương đi biển, hứa hẹn đổi một khoản bạc. Fet không khỏi nghi ngờ khi nhóm buôn lậu thông báo có ngạc nhiên dành cho anh, nhưng thường người tuyệt vọng gần như sẽ tin bất cứ điều gì. Họ hẹn gặp nhau trên một hòn đảo núi lửa nhỏ phía Nam Iceland, với một thủy thủ đoàn Ukraina bảy người lái một du thuyền tả tơi gắn sáu động cơ khác nhau phía ngoài đuôi tàu. Thuyền trưởng của đoàn thủy thủ này còn trẻ, khoảng hai lăm tuổi và về cơ bản chỉ còn một tay, tay trái anh ta bị teo và gắn một cái móc khó coi.
Thiết bị kia hoàn toàn không phải vali. Nó giống một thùng chứa hay một thùng rác nhỏ bọc vải dầu đen và quấn lưới, thêm các dây đai xanh khóa hai bên và trên nắp. Cao chừng một mét rộng chừng sáu mươi phân. Fet nhẹ nhàng thử nâng nó lên. Nó nặng gần năm mươi cân.
"Các anh chắc nó hoạt động được chứ?" anh hỏi.
Thuyền trưởng lấy bàn tay lành lặn gãi chòm râu màu đồng. Anh ta nói thứ tiếng Anh bập bẹ bằng giọng Nga. "Thấy bảo là được. Chỉ có một cách để biết thôi. Nó thiếu một bộ phận."
"Một bộ phận bị thiếu?" Fet hỏi. "Để tôi đoán nhé. Plutonium. U-233."
"Không. Nhiên liệu ở trong lõi. Đương lượng nổ một kiloton. Nó thiếu ngòi nổ." Anh ta chỉ một búi dây ở trên nắp rồi nhún vai. "Mọi thứ khác đều ổn."
Sức nổ của một quả bom nguyên tử một kiloton tương đương một nghìn tấn TNT. Sóng xung kích lan xa nửa dặm có khả năng phá hủy đến mức bẻ cong sắt thép. "Tôi rất muốn biết sao các anh lại vớ được thứ này đấy," Fet nói.
"Tôi thì muốn biết anh dùng nó làm gì," thuyền trưởng bật lại. "Nhưng tốt nhất là ai giữ bí mật người nấy."
"Được thôi."
Thuyền trưởng bảo một thủy thủ giúp Fet đưa quả bom lên thuyền của đám buôn lậu. Fet mở khoang giấu bạc bên dưới sàn thép. Strigoi quyết tâm thu gom từng mẩu bạc theo đúng cách chúng thu gom và giải giáp vũ khí hạt nhân. Bởi vậy, giá trị của chất tiêu diệt ma cà rồng này tăng theo cấp số nhân.
Ngay khi thỏa thuận hoàn tất, bao gồm cả giao dịch bên lề giữa hai đoàn thủy thủ đổi vodka lấy các túi thuốc lá cuộn, rượu liền được rót vào ly.
"Anh người Ukraina à?" thuyền trưởng hỏi Fet sau khi nốc ly rượu mạnh.
Fet gật đầu. "Anh nhận ra à?"
"Giống người làng tôi, trước khi làng biến mất."
"Biến mất?" Fet hỏi.
Vị thuyền trưởng trẻ tuổi gật đầu. "Chernobyl," anh ta giải thích, giơ cánh tay đã bị teo lại ra.
Fet nhìn món vũ khí hạt nhân được buộc vào vách bằng dây chống sốc. Không nhấp nháy, không tít tít tít. Một thứ vũ khí không người điều khiển đang đợi kích hoạt. Có phải anh vừa đổi lấy một thùng phế liệu? Fet không nghĩ vậy. Anh tin tay buôn lậu người Ukraina đã xem xét cẩn thận những nguồn cung hàng của gã, chưa kể gã còn phải tiếp tục giao dịch với những kẻ buôn lậu cần sa này.
Fet cảm thấy kích động, thậm chí tự tin. Việc này giống như nắm một khẩu súng đã lên đạn, chỉ còn thiếu cò. Tất cả những gì anh cần là một cái ngòi nổ.
Fet đã thấy tận mắt một đoàn ma cà rồng đang khai quật các khu vực xung quanh một vùng suối nước nóng có nhiều hoạt động địa chất bên ngoài Reykjavik, thường được gọi là Vũng Đen. Điều này chứng tỏ Chúa Tể không biết chính xác vị trí điểm khởi nguồn của nó - không phải sinh quán của Chúa Tể, mà là khu đất nơi nó lần đầu trỗi dậy trong hình hài ma cà rồng.
Bí mật về vị trí ấy được giấu trong cuốn Occido Lumen. Việc duy nhất Fet phải làm cũng chính là việc đến nay anh vẫn chưa thể hoàn thành: tự mình giải mã cuốn sách và khám phá ra vị trí địa điểm khởi nguồn ấy. Giá mà Lumen giống một cuốn cẩm nang dễ hiểu về vấn đề tiêu diệt ma cà rồng, Fet hẳn đã có thể làm theo các chỉ dẫn - nhưng thay vì thế, cuốn Lumen lại đầy những hình ảnh hoang dại, những phúng dụ kỳ lạ và các tuyên ngôn nước đôi. Nó vẽ nên một con đường chạy ngược dòng lịch sử nhân loại vốn không được lèo lái bởi bàn tay số phận mà là dưới ách kìm kẹp siêu nhiên của các Chúa Tể Cổ Đại. Cũng như những người khác, anh bị văn bản này làm cho hoang mang. Fet không mấy tin vào tri thức uyên bác của mình. Giờ đây, anh thấy nhớ nhất khối tri thức khiến người ta vững dạ của vị giáo sư già. Không có ông, cuốn Lumen với họ chỉ có giá trị như một thiết bị hạt nhân không ngòi nổ.
Nhưng dẫu sao, đây cũng là bước tiến. Lòng nhiệt tình bất tận của Fet đã đưa anh lên boong thuyền này. Anh nắm chắc tay vịn và phóng tầm mắt ra đại dương xáo động. Đêm nay xuất hiện một màn sương mù mặn rát, nhưng không có mưa nặng hạt. Bầu khí quyển thay đổi khiến hành trình thêm nguy hiểm, thời tiết biển khó dự đoán hơn. Thuyền của họ di chuyển qua một bầy sứa, loài sinh vật chiếm phần lớn vùng biển khơi, ăn trứng cá và ngăn cản vầng mặt trời nhỏ bé hằng ngày với tới đại dương - thỉnh thoảng lại thành những mảng trôi dạt rộng tới vài dặm, che phủ hết mặt nước như lớp màng bánh pudding.
Họ đang di chuyển cách bờ biển New Bedford, bang Massachusetts, không quá mười dặm, Fet nhớ tới một trong những câu chuyện thú vị hơn trong đống giấy tờ nghiên cứu của Setrakian, những giấy tờ ông đã biên soạn để lưu lại cùng cuốn Lumen. Trong đó, ông giáo sư kể chuyện hạm đội Winthrop năm 1630 đã thực hiện hành trình xuyên Đại Tây Dương, mười năm sau tàu Mayflower™ [1] , chở làn sóng thứ hai những người hành hương đến Tân Thế giới. Một tàu trong hạm đội, tàu Hopewell, đã chở ba món hàng không rõ danh tính đựng trong các thùng gỗ đẹp đẽ chạm khắc tinh xảo. Khi những người hành hương cập bến tại Salem, Massachusetts và sau đó tái định cư ở Boston (bởi nơi này có nguồn nước ngọt dồi dào), điều kiện sống của họ đã trở nên ác nghiệt. Hai trăm người định cư bị chết trong năm đầu tiên, nguyên nhân tử vong bị quy cho bệnh tật thay vì lý do đích thực: họ đã thành mồi ngon cho các Chúa Tể Cổ Đại, sau khi vô tình chở Strigoi sang Tân Thế giới.
Cái chết của Setrakian để lại một khoảng trống lớn trong lòng Fet. Anh nhớ quay quắt những lời khuyên bảo cũng như sự đồng hành của ông già khôn ngoan, nhưng nhớ nhất là trí tuệ của ông. Sự ra đi của ông già không chỉ đơn thuần là một cái chết mà - và nói thế này không hề quá lời - còn là một cú đánh chí tử vào tương lai của nhân loại. Ông đã liều mạng để giao được vào tay họ cuốn sách thiêng này, cuốn Occido Lumen - dù không giao cách giải mã nó. Fet vẫn miệt mài nghiên cứu các trang sách Lumen cùng những quyển sổ bọc da chứa đựng các suy ngẫm sâu xa thầm kín của ông già và đôi khi còn kèm cả mấy bình luận vặt vãnh về chuyện trong nhà, các danh mục hàng tạp hóa, các tính toán tài chính.
Anh mở quyển sách tiếng Pháp và - không có gì đáng ngạc nhiên - chẳng hiểu đầu cua tai nheo gì hết. Song một vài bản in khắc đẹp đẽ có vẻ khiến anh sáng tỏ một chút: trong một bức minh họa nguyên trang, Fet thấy hình ảnh một ông già và vợ đang chạy khỏi một thành phố cháy bừng bừng ngọn lửa thiêng - bà vợ đang biến thành bụi. Đến anh cũng biết câu chuyện ấy... "Lot..." anh nói. Sau vài trang, anh lại thấy một minh họa khác: ông già che chắn cho hai sinh vật có cánh đẹp đến nhói lòng - hai tổng lãnh thiên thần được Chúa gửi xuống. Fet vội gấp sách lại để nhìn bìa. Sadum et Amurah.
"Sodom và Gomorrah..." anh nói. "Sadum và Amurah chính là thành Sodom và Gomorrah..." Rồi đột nhiên, anh cảm thấy thông thạo tiếng Pháp. Anh nhớ ra một minh họa trong cuốn Lumen, gần tương tự minh họa trong cuốn sách tiếng Pháp này. Không phải về phong cách hay sự tinh tế mà về nội dung. Lot bảo vệ hai tổng lãnh thiên thần khỏi những người đàn ông đòi được giao cấu với các thiên thần.
Các đầu mối đều ở đó, nhưng Fet hầu như không tận dụng được. Đến đôi tay anh, vốn thô ráp và to kệch như đôi găng bóng chày, cũng dường như hoàn toàn không thích hợp để cầm quyển Lumen. Tại sao Setrakian lại chọn anh làm người bảo vệ cuốn sách chứ không phải Eph? Eph thông minh hơn, chắc chắn là vậy, uyên bác hơn nhiều. Khỉ thật, có khi Eph còn nói được thứ tiếng Pháp khốn kiếp này ấy chứ. Nhưng Setrakian biết rõ Fet thà chết chứ không đời nào cho phép quyển sách rơi vào tay Chúa Tể. Setrakian rất hiểu Fet. Và rất yêu quý Fet - với sự kiên nhẫn và quan tâm của một người cha già. Mạnh mẽ mà bao dung, Setrakian chưa bao giờ khiến Fet cảm thấy mình quá chậm chạp hay dốt nát; hoàn toàn ngược lại, ông vô cùng cẩn thận và kiên nhẫn giải thích từng vấn đề một, khiến Fet cảm thấy mình là người trong cuộc. Ông khiến anh cảm thấy mình thuộc về cả đội.
Cảm giác trống rỗng này trong đời Fet đã được khỏa lấp bởi một yếu tố không ngờ tới. Khi Eph càng lúc càng thất thường và ám ảnh, bắt đầu từ thời kỳ đầu bên trong đường tàu dưới lòng đất rồi càng trở nên nghiêm trọng sau khi họ lên mặt đất, Nora càng lúc càng dựa dẫm vào Fet, tin tưởng anh và trao cho anh cũng như tìm kiếm nơi anh nguồn động viên an ủi. Dần dần, Fet đã học được cách đáp lại. Anh càng lúc càng ngưỡng mộ sự bền bỉ của Nora khi đối diện với nỗi tuyệt vọng lớn lao nhường ấy; rất nhiều người khác đã không chống lại nổi sự tuyệt vọng hay điên dại, không thì cũng như Eph, để mặc cho nỗi tuyệt vọng biến đổi con người mình. Nora Martinez hiển nhiên đã thấy gì đó ở Fet - có thể chính là điều mà giáo sư đã thấy nơi anh - tính cao thượng ban sơ, giống thứ thân lừa ưa nặng hơn là một con người, một thứ mà chính Fet cũng không hề nhận thức được cho đến mãi gần đây. Và nếu cái phẩm chất mà anh sở hữu này - sự kiên định, quyết tâm, tính tàn nhẫn, bất kể là gì đi chăng nữa - khiến anh hấp dẫn cô hơn trong hoàn cảnh khắc nghiệt này, vậy thì tốt hơn hết anh cứ nên như thế.
Xuất phát từ lòng kính trọng Eph, anh đã cưỡng lại sự mắc míu này, phủ nhận cảm xúc của mình cũng như của Nora. Nhưng sức hút giữa họ giờ càng rõ ràng hơn. Ngay trước hôm đi, Fet đã tì chân vào chân Nora. Một cử chỉ bình thường xét trên mọi phương diện, ngoại trừ với một người như Fet. Anh là người kềnh càng nhưng lại ý thức rõ ràng đến khó tin về không gian cá nhân của mình, không vi phạm cũng không muốn bị ai vi phạm nó. Anh giữ khoảng cách, cực kỳ không thoải mái với phần lớn sự đụng chạm của người khác - nhưng đầu gối Nora đang ép vào đầu gối anh, và tim anh nhảy lô tô. Nhảy lô tô đầy hy vọng khi ý nghĩ này chợt đến với anh: Cô ấy đang giữ nguyên tư thế. Cô ấy không tránh ra...
Cô đã dặn anh cẩn thận, dặn anh chăm sóc lấy bản thân, và mắt cô long lanh lệ. Những giọt nước mắt chân thành khi nhìn anh ra đi.
Trước giờ chưa từng có ai khóc vì Fet.
---❊ ❖ ❊---