Dệt Áng Mây Trời

Lượt đọc: 693 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 5
tháng mười – quyết tâm của một nghệ nhân

Từ xưa, xưởng Yamazaki đã phân chia rạch ròi: nhuộm là việc của đàn ông, dệt là việc dành cho phụ nữ. Có lẽ vì vậy nên, dù thi thoảng bố vẫn nhờ mẹ thiết kế màu nhưng việc nhuộm sợi luôn do ông tự tay đảm nhiệm.

Lý do mẹ rời khỏi bố để gây dựng xưởng Hanamaki có lẽ là vì bà muốn tự mình làm tất cả các công đoạn.

Trong công việc của gia đình, bố – với khí chất một người nghệ sĩ – luôn ý thức mình là một nghệ nhân chứ không đơn giản chỉ là thợ nhuộm. Ngược lại, mẹ vốn xuất thân là một nghệ nhân làm việc dưới cái bóng của bố lại luôn khao khát trở thành một người thợ nhuộm. Có lẽ bởi bà tin vào khả năng nơi bàn tay người thợ.

Gần đây, Hiroshi hay suy nghĩ về ý nghĩa của lao động, của chế tác. Điều đó giúp anh có dịp nhìn lại những ý kiến trái chiều giữa bố mẹ, đồng thời suy ngẫm xem tương lai nên hành xử thế nào. Có điều, những dòng suy nghĩ rối ren chưa bao giờ được sắp xếp gọn gàng.

Một buổi chiều giữa tháng Mười, Hiroshi ghé qua tòa thị chính gần nhà, lấy mẫu đơn xin ly hôn. Gần đây, người ta có thể tải về nhiều loại đơn thư từ máy tính, nhưng không hiểu sao, khu anh sống lại không cho phép tải đơn xin ly hôn trên mạng. Thay vào đó, nếu quầy tiếp nhận đã hết giờ làm việc thì có thể xin ở phòng bảo vệ. Phải chăng vì nhiều người cần tới nó? Vừa nhắc tới “ly hôn”, anh đã được người bảo vệ đưa cho một phong bì giấy.

Cởi chiếc áo khoác cao cổ, Hiroshi kẹp nó cùng chiếc phong bì vào nách. Chiếc áo tuy mỏng nhưng thời tiết này vẫn chưa nên dùng đến nó.

Trước đây, sáng nào Maki cũng xem dự báo thời tiết để chuẩn bị quần áo cũng như lấy ô cho anh mỗi lúc trời mưa. Nhưng từ khi Mio về sống ở Iwate, cô không còn làm vậy nữa, mà anh lại không giỏi để ý nên mặc đồ gì.

Quệt mồ hôi rịn trên trán, Hiroshi đi qua trước nhà ga, dừng lại ở một hàng hoa.

Cạnh chậu hoa cánh bướm màu hồng là một chiếc lọ thủy tinh giống chiếc bình hoa ở nhà bố ở Iwate. Anh nhớ rất rõ vì nó trông khá thú vị với hình dạng mấy chiếc ống nghiệm chồng chất lên nhau.

Hình như Maki cũng đang tìm mua bình hoa thì phải. Nghĩ vậy, Hiroshi nhặt chiếc bình lên. Rẻ hơn anh nghĩ. Anh mua bình hoa ghép từ ba ống nghiệm đó cùng một bó hoa cánh bướm giá 500 yên. Khi tới quầy thu ngân, mấy bông hồng đỏ đập vào mắt anh.

Tháng Tám, công ty đã chính thức quyết định sẽ giải thể và bán bộ phận sản xuất đồ gia dụng anh trực thuộc. Đối tác hình như là một công ty châu Á.

Tối cùng ngày hay tin đó, bố cũng nhắn rằng Mio đã quyết định sẽ dệt một chiếc khăn san màu đỏ. Con bé sẽ tự mình làm tất cả mọi thứ: từ quay sợi, nhuộm tới dệt – giống như cách bà nội đã làm chiếc khăn đỏ cho lễ đầy tháng của mình. Đồng thời, Taichi cũng báo rằng bố anh đã hoãn dự định vào nhà dưỡng lão, dốc hết sức để dạy Mio các kỹ thuật nhuộm sợi, miệt mài như thể bị ma làm.

Như thường lệ, ông sẽ ở lại căn nhà ở Takizawa và dạy Mio đến cuối tháng Mười một, sau đó sẽ chuyển đến showroom ở Natayacho sống cho tới mùa xuân.

Chỉ cần Mio muốn, ở đâu ông cũng có thể dạy con bé.

Dưới sự hướng dẫn của ông nội, có vẻ Mio cũng rất nỗ lực học hỏi. Do nghỉ học nhiều, con bé đã bị ở lại lớp một năm, nhưng Taichi chỉ nhẹ nhàng: “Có sao đâu. Dạy kiến thức cấp ba thiếu gì người làm được. Nhưng kỹ thuật của Koujiro Miyazaki thì ngoài thầy ấy ra không ai dạy được hết. Với lại, sức khỏe của thầy cũng có hạn.”

Tuy nhiên, tay nghề thợ học việc còn nhiều hạn chế. Anh cảm thấy thật đau lòng khi nghĩ tới việc những sợi lông cừu cao cấp nhất mà bố mình mua sẽ biến thành những búi sợi đỏ chẳng dùng được vào việc gì.

Tuần trước, cuối cùng Mio đã quay sợi xong, chuẩn bị học dệt bằng khung cửi.

Trùng hợp thay, đúng lúc ấy, cấp trên cũng gọi Hiroshi lên. Từ mùa xuân sang năm anh sẽ ra nước ngoài làm việc. Tùy tình hình có thể sẽ chuyển sang làm kinh doanh hoặc công nhân trong xưởng. Anh hỏi lại, tùy tình hình cụ thể là sao nhưng chỉ nhận được một câu nói mù mờ. Có lẽ, đây là cách công ty vòng vo để anh tự xin nghỉ hưu non.

Đến nay, công ty đã có hai người tự nguyện xin nghỉ sớm, sắp tới có nghỉ cũng không được trợ cấp hưu trí nữa. Tìm việc mới sẽ càng khó, bởi tất cả các ghế trống đã dành cho những người xin nghỉ trước rồi.

“Thưa quý khách…”

Hiroshi quay lại. Giọng cô nhân viên dõng dạc. Cô rút ra một bông hồng đỏ đưa cho anh.

“Nếu không phiền, xin tặng anh một bông.”

“Không… Không cần đâu. Tôi…”

Khá ngạc nhiên vì một bông hồng có giá 390 yên, anh cuống quýt xua tay.

Cô nhân viên nhanh nhẹn gói bông hồng, cắm vào túi đựng bình hoa cho anh.

“Anh cứ coi như là quà khuyến mại nhé, dù sao hoa cũng nở bung rồi. Nhưng mùi thơm dễ chịu lắm. Chỉ cần cắt ngắn rồi cắm vào bình là được.”

Cô tươi cười đưa túi cho Hiroshi. Không thể từ chối, anh xách lấy, bước ra khỏi cửa hàng. Nhìn vào trong, quả thực bông hồng đang tỏa hương thơm như đào chín.

Hiroshi bỏ cả chiếc phong bì đựng giấy tờ ly hôn vào đó. Lần này, mồ hôi lại túa ra trên mặt.

Anh rút khăn mùi soa ra lau. Chiếc khăn này cũng nằm trong túi mấy ngày rồi. Càng gần đến nhà, mồ hôi càng tuôn ra như tắm. Khi chiếc khăn mùi soa đẫm nước, bắt đầu bốc mùi khó chịu cũng là lúc Hiroshi về đến nhà.

Ánh đèn từ phòng Maki hắt ra hành lang.

“Tôi về rồi đây,” anh lên tiếng. Maki ngó qua cánh cửa. Mái tóc cô buộc cao lên bằng một sợi thun đen, gương mặt gầy guộc lấm tấm mồ hôi. Từ tháng Tám, cô đã xin nghỉ phép dài hạn, suốt ngày nằm bệt trên giường. Tuy nhiên, từ khi quay lại trường vào đầu tháng Chín, cô đã tươi tỉnh hơn, bắt đầu dọn dẹp nhà cửa từng chút một. Tình trạng này kéo dài tới hiện tại – tháng Mười. Hàng ngày, cô đều gom đồ cũ, không dùng tới trong nhà dồn vào một góc, đợi ngày vứt rác không cháy sẽ đem vứt.

Mỗi lần nhìn thùng đồ đó, Hiroshi có cảm giác như mình đang vứt bỏ cuộc sống trước đây. Tuy nhiên, nhờ được dọn bớt đồ đạc nên phòng bếp lẫn phòng khách đều trở thoải mái hơn nhiều.

“Anh về đấy à?” Maki dùng tay áo bộ đồ tập lau mồ hôi trên cánh mũi. “Tối nay trời hơi nóng nhỉ!”

Sau lưng cô là hai hộp các tông, bên trong chất đầy quần áo và sách tranh.

“Lại vứt gì thế?”

“Tôi định đóng thùng để gửi cho Mio.” Maki quay lại nhìn hai thùng các tông. “Hôm qua bố gửi thư bảo Iwate bắt đầu lạnh rồi.”

“Bố có nói gì không?”

“Không có gì đặc biệt. Chỉ thông báo tình hình thôi. Anh vào chứ?”

Maki mở toang cánh cửa. Một mùi hương dễ chịu như đang ở trong rừng thoảng qua. Là mùi sáp thơm đặt trên giá sách. Cô cúi xuống cạnh hộp các tông.

“Trong thư, bố nói rằng công việc của Mio đang vào giai đoạn gấp rút. Ngoài ra, sắp tới bố có việc lên Tokyo nên nếu được sẽ dẫn cả Mio theo. Anh đã nghe nói gì chưa?”

“Tôi không nghe bố nói gì về việc lên đây hết. Cả hai thùng đều gửi cho Mio hả?”

“Quần áo rét cồng kềnh lắm.” Maki gấp chiếc áo khoác lông vũ, cất vào thùng. “Đa phần là quần áo. Còn lại là bánh kẹo và sách. Anh muốn gửi gì thì bỏ vào luôn.”

“Chẳng có gì đâu. Sách tham khảo phải không?”

“Không. Anh vào đi.”

Bước vào phòng của Maki, Hiroshi thấy một chiếc giường tầng với thanh chống khá cao. Thiết kế hai tầng của nó cho phép tùy ý lắp đặt và sử dụng tầng bên dưới làm bàn học, xô pha, tủ quần áo… Loại giường này rất thích hợp cho lứa tuổi teen hoặc người độc thân.

Maki đã đặt mua chiếc giường và dàn âm thanh trên mạng, yêu cầu họ tới lắp trực tiếp, tay nhân viên làm việc khá vụng về. Thấy vậy, anh phải ra tay lắp giúp, khiến cô vô cùng cảm kích. Cũng từ lúc đó, những cuộc trò chuyện không đầu không cuối của cả hai mỗi lúc một nhiều. Tuy nhiên, từ hôm lắp chiếc giường này, đây mới là lần thứ hai Hiroshi bước vào phòng.

“Nó ổn không? Không lung lay chứ?”

“Vẫn ổn. Chắc chắn lắm. Cảm ơn anh!”

Bên dưới chiếc giường ống màu trắng là một chiếc bàn làm việc dài và hẹp cùng chất liệu. Trên bàn bày một cây đèn ngủ lộng lẫy, sách và khay đựng bộ ấm trà.

Vào phòng vợ mình mà cảm giác như vào phòng một người quen. Có lẽ Maki cũng đang tận hưởng không gian riêng tư mười mấy năm mới có lại được giống như anh. Maki với chiếc nệm ngồi màu cam nhạt đưa cho Hiroshi.

“Anh ngồi đi. Sàn nhà cứng đấy. Hay thay đồ đi cho thoải mái.”

“Không sao đâu.”

Cô rót trà trong bình ra cốc.

“Anh mở giùm tôi cái bàn gấp cất chỗ giá sách được không?”

“Cái gì đây? Sao thấp thế.”

“Bàn để đặt trên giường mà. Để ngồi viết, đọc sách, uống trà… Có điều, vác lên tầng hai thì phiền nên tôi đặt dưới sàn luôn.”

Hiroshi nhấp một ngụm trà houji, nhìn quanh phòng. Chỗ cửa sổ treo rèm chống nắng hồi phòng này còn là kho chứa đồ đã được thay bằng một tấm rèm trắng với hình thêu tinh xảo. Lúc quyết định kết hôn và được mời tới nhà Maki, anh thấy phòng cô cũng có một tấm rèm như vậy.

Hồi Hiroshi đi dạy thêm toán cho một lò luyện thi, Maki lúc ấy đang theo học một trường đại học nữ sinh trong thành phố cũng dạy tiếng Anh ở đó. Lúc đầu, cả hai hầu như chẳng để ý tới nhau. Nhưng sau lần anh cho cô mượn ô vào một ngày trời đổ mưa đột ngột, họ đã bắt đầu bắt chuyện với nhau.

Không hiểu sao chỉ vì một chiếc ô nhựa rẻ tiền, có thể bắt gặp ở bất cứ đâu mà Maki lại để mắt tới một gã như mình nhỉ. Ưu điểm duy nhất của mình chắc chỉ là sinh viên một trường khá nổi trong ngành khoa học tự nhiên mà thôi.

Hương đào chín thoang thoảng bay.

“À, đúng rồi. Cô đang tìm mua bình hoa đúng không. Này.”

Lúc từ Morioka về Tokyo, bố đã đưa cho Maki mấy tấm lót bình hoa và sợi len Mio tự làm. Cô nói muốn tìm một chiếc bình thủy tinh để có thể nhìn rõ miếng lót đế bình.

Hiroshi rút từ trong túi ra chiếc hộp đựng bình hoa cùng bó hoa cánh bướm nhỏ, đặt dưới sàn.

Tiếp đó, anh đưa bông hồng cho Maki. Cô thoáng ngạc nhiên rồi mỉm cười, ghé mặt sát bông hoa.

“Cảm ơn anh, thơm quá… Đây là lần đầu tiên tôi được tặng hoa chẳng nhân dịp gì cả.”

Maki mở hộp, nhìn chiếc bình ghép từ ba ống nghiệm.

“Ồ, thời trang quá. Bình hoa phong cách Pháp.”

“Giống bình hoa nhà bố ở Morioka.”

“Đúng là giống thật. Có điều…”

Maki đặt chiếc bình xuống sàn, đứng dậy.

“Dù gì cũng là sản phẩm đầu tay của Mio, có khi dùng làm đồ trang trí thì hơn. Mẹ cũng bảo hay là đóng thành khung ảnh nhỉ. Tôi cũng mới nghĩ đến đó chứ chưa quyết định gì.”

Maki chìa ra một chiếc khung ảnh trắng. Bốn góc chiếc khung màu kem được trang trí bằng sợi ruy băng làm từ len trắng. Những sợi len xù xì đầu tiên Mio quay được.

“Chà, lồng vào khung nhìn y chang đồ lưu niệm.”

“Tôi đang định đặt miếng lót đế bình ở giữa.”

Treo ở đâu được nhỉ? Vừa tự hỏi, Maki lần lượt nhìn bình hoa rồi lại nhìn khung ảnh. Hai gò má cô ửng hồng, giọng nói như reo. Có lẽ cô thực sự thích chiếc bình.

“Tôi định làm ba khung với kích cỡ khác nhau. Anh có muốn treo một cái trong phòng không? Hay gom lại treo hết ngoài phòng khách?”

“Nếu đây là ý của mẹ thì tặng mẹ một cái đi. Coi như quà lưu niệm của Mio. Tiện thể bảo mẹ cứ thoải mái đến chơi như trước, không cần khách sáo.”

“Dạo này mẹ bận tham gia dàn hợp xướng. Nhưng cảm ơn anh. Lần tới tôi sẽ nhắn.”

Maki lại cầm bông hồng, đưa lên mũi ngửi.

“Bố cũng là người rất có gu thẩm mỹ. Đồ nội thất, đèn và thảm trong nhà đều rất tuyệt vời. Tuy chủ yếu là đồ thủ công truyền thống nhưng lại điểm xuyết vài món mang phong cách Bắc Âu và Anh nữa.”

“Tôi cũng không hiểu lắm. Có điều từ xưa bố đã khá kỹ tính trong việc chọn đồ nội thất.”

Sự kỹ tính đó vừa hay lại rất hợp với công việc của ông. Về tố chất một người thợ thủ công, tôi cũng giống hệt ông. Liệu ra nước ngoài, lại còn làm việc ở lĩnh vực hoàn toàn khác, tôi có xoay xở nổi không? Còn nếu từ chối và xin nghỉ việc, liệu tôi có tìm được công việc nào tương tự trong tình cảnh kinh tế đang suy thoái thế này không?

Hơn nữa, bố tôi lại vừa quyết định sẽ không vào viện dưỡng lão. Không sớm thì muộn, tôi sẽ phải chăm sóc ông. Tiếp tục ở cạnh tôi sẽ không có lợi cho Maki.

Tôi rút chiếc phong bì có logo của tòa thị chính ra, đặt xuống sàn. Đang ghé mặt sát bông hồng đỏ, Maki nhìn tôi đầy nghi hoặc.

“Cái gì thế?”

“Về chúng ta. Chúng ta đã nhất trí sau khi giải quyết xong chuyện của Mio…”

Maki buông bàn tay đang cầm bông hồng đặt xuống đùi. Mắt cô chăm chú nhìn chiếc phong bì.

“Hôm trước tôi đã kể chuyện công ty sẽ bị bán rồi đấy. Tuy chưa quyết định chính thức nhưng… có thể tôi sẽ ra nước ngoài làm việc ít lâu… Một nước nào đó ở châu Á.”

“Có khả năng anh sẽ tiếp tục ở lại Nhật không?”

“Tôi cũng không biết nữa,” tôi đáp lại ngay, lo sợ về tương lai bất định. “Có ở lại chắc cũng bị chuyển sang bộ phận khác, mà ra nước ngoài có khi sẽ phải làm việc hoàn toàn khác. Họ có ý khuyến khích tôi nghỉ hưu non. Nên tôi muốn đưa cho cô trước. Về quyền nuôi con, trợ cấp hay tiền vay mua nhà, khi nào có trợ cấp thôi việc đó ta sẽ bàn sau.”

Maki chết lặng, nhìn chằm chằm vào phong bì của tòa thị chính. Gò má cô đã mất sắc hồng, mọi biểu cảm tan biến trong nháy mắt.

“Bố tôi… chắc cũng sắp rồi, cần có người chăm sóc. Mio cũng muốn về quê sống. Dù tôi nghỉ việc hay chọn cách khác, chúng ta cũng khó có thể tiếp tục thế này.”

Maki đặt bông hồng trên sàn nhà, mở phong bì, đọc tờ đơn bên trong.

“Anh chưa điền tên sao?”

“Nếu cô viết, tôi sẽ đi nộp đơn.”

“Đồ tồi…”

Maki thì thào.

“Sao anh không tự viết rồi đưa cho tôi!”

“Xin lỗi, tôi là một thằng tồi, một thằng bỉ ổi. Nhưng… tôi xin lỗi. Tôi không đủ dũng khí điền tên mình vào đó. Dù tôi biết chắc một điều, chúng ta nên chia tay, vì hạnh phúc của cô.”

Công ty anh sắp bị xoá sổ, và gia đình anh đang trên đà tan vỡ.

Hiroshi nghĩ mình đã làm hết sức, nhưng tại sao mọi thứ đều vuột khỏi tay anh?

“Không hiểu sao gần đây tôi chẳng quyết định được chuyện gì ra hồn. Tôi mệt lắm… Những điều cô nói hồi mùa hè, tôi hiểu rồi. Tôi cũng mệt mỏi lắm rồi.”

Maki đặt tờ đơn xin ly hôn cạnh chiếc bình hoa, nhìn chằm chằm vào dòng chữ xanh lá trên tờ giấy đặt giữa chúng tôi.

“Lấy nhau gần 20 năm và kết cục của chúng ta chỉ là một câu ‘mệt mỏi’. Rốt cuộc, chúng ta đã làm gì thế này?”

“Tôi xin lỗi!”

“Đừng xin lỗi. Anh khiến tôi cảm thấy mình mới là người có tội.”

Maki gục đầu, cầm trên tay khung ảnh trang trí bằng sợi len của Mio.

“Anh có biết tặng một bông hồng đỏ nghĩa là gì không?”

“Tôi không biết. Con số có ý nghĩa gì ư?”

Nước mắt Maki rơi trên khung ảnh đang đặt trên đùi. Bông hồng đỏ trên sàn tỏa hương ngào ngạt.

Mio đạp xe trên đường, gió tạt vào má lạnh buốt. Hễ đạp nhanh còn bị đau tai.

Trời lạnh dần làm bầu trời thêm cao và trong xanh, đường nét của những rặng núi và tòa nhà trở nên rõ nét hơn, khiến cho khung cảnh thành phố thêm nổi bật.

Xưởng Yamazaki vẫn thường thuê những người thợ già quay sợi tại nhà. Hôm nay, trên đường đi lấy sợi về, Mio đạp ngang qua trước cửa tòa thị chính tỉnh Iwate.

Cô kéo chiếc ống màu xanh nhạt lên gần miệng, cảm nhận hơi ấm lan lên gò má.

Chuo-dori – nơi tọa lạc tòa án và tòa thị chính tỉnh Iwate – là một con phố lớn cỡ bốn làn xe cùng hàng cây dẻ ngựa cổ thụ cao đến độ phải ngước nhìn. Những tán cây cành lá sum sê đổ bóng xuống vỉa hè, vọng tiếng xào xạc khi lắng nghe thật kỹ.

Gần cuối tháng Mười, hàng cây nhuốm vàng nâu và lộng lẫy hơn hẳn lúc còn xanh. Mio xuống xe, rút trong túi áo ra một chú cừu nhồi bông màu hồng.

Ngày đầu tiên Mio tới showroom học việc, Taichi đã lén đặt một chú cừu nhỏ trên bàn cho cô. Lần lượt sau đó, các chú cừu tiếp theo xuất hiện. Mio thường lấy tên gọi các tháng bằng tiếng Anh để đặt cho chúng. Chú cừu thứ năm được đặt tên Mei đã bị rơi xuống sông hồi tháng Tám.

Sau khi được Taichi hướng dẫn, cô đã tự làm ra chú cừu thứ sáu bằng những sợi len chính tay mình nhuộm. Đó là một chú cừu sặc sỡ với phần thân màu hồng, đầu và bốn chân màu xanh bạc hà. Cô định đặt tên nó là Juun – (tức June – tháng Sáu) nhưng Taichi lại muốn gọi là “Mei số 6” nên rốt cuộc, cả hai dùng luôn tên đó.

Mio đã chụp kha khá ảnh cho “Mei số 6” với phong cảnh và đồ ăn ở Morioka kèm những dòng bình luận để Taichi đăng lên “Du lịch Morioka”, khiến bạn bè Taichi hết sức thích thú.

Vì vậy, từ tháng trước, cả hai đã quyết định làm một album “Ngày hôm nay của Mei” để đăng cả lên facebook của xưởng Yamazaki. Album được đăng kèm cả bản dịch tiếng Anh nên gần đây có khá nhiều người nước ngoài nhắn tin hỏi về homespun của xưởng.

Dù rất vui vì việc đó đã giúp PR cho xưởng, nhưng Mio cũng cảm thấy buồn vì từ đó trở đi, không còn chú cừu mới nào được đặt trên bàn cô nữa.

Tay trái cầm chú cừu hồng giơ lên trước hàng dẻ ngựa, tay phải Mio bấm điện thoại chụp mấy tấm liền. Sau khi được một góc ưng ý, cô quay lại chỗ dựng xe, đạp tiếp.

Lúc Mio đi tới cầu Yonoji bắc ngang sông Nakatsu, có mấy người đang nhìn xuống dưới. Nhìn về phía hạ lưu, hai, ba người trên cầu Nakanohashi cũng làm tương tự.

Cá hồi bắt đầu bơi ngược lên thượng nguồn sông Nakatsu.

Mio cũng dừng xe, mắt nheo nheo chăm chú nhìn dòng nước.

Dưới làn nước trong vắt, hai chú cá hồi dài cỡ ba chục phân đang bơi cạnh nhau. Hai cái đầu kiên định cùng hướng về thượng nguồn, chỉ có phần đuôi nhè nhẹ quẫy.

Mio lấy chú cừu hồng ra, toan chụp thêm ảnh nhưng dừng ngay lại. Ngay gần đó, xác một chú cá khác đang nằm phơi bụng. Nó đã chết. Mio hạ điện thoại, nhìn chằm chằm vào cái bụng trắng đang nổi lềnh bềnh.

Sang học kỳ II, vì không về Tokyo, không đi học ngày nào nên nhà trường đã quyết định cô bị lưu ban.

“Người ta đại học xong vẫn còn thất nghiệp đầy ra đấy, con đừng lo,” bố an ủi cô rồi đưa điện thoại cho mẹ. “Đành chịu chứ biết làm sao,” mẹ thì thầm, nhắc Mio nhớ giữ gìn sức khỏe rồi dập máy ngay.

Tuần sau, mẹ gửi cho cô hai thùng các tông lớn. Bên trong thùng đầu tiên là chiếc áo khoác lông vũ cùng một chiếc áo len. Thùng còn lại cũng đề “Quần áo” nên cô bỏ xó, định khi nào trời lạnh sẽ mở ra.

“Con nhận được đồ rồi,” Mio nhắn LINE cho mẹ ngay, nhưng mẹ chỉ trả lời cộc lốc.

Lần này có lẽ mẹ quá thất vọng nên đã bỏ rơi mình thật rồi.

Cho tới hôm qua, khi nhiệt độ đột ngột giảm mạnh, Mio mới mở chiếc thùng thứ hai. Trên cùng là một bọc quà màu trắng gắn ruy băng xanh nhạt.

Cô mở ra. Bên trong là một chiếc pound cake phủ đường trắng được trang trí bằng một quả cherry đỏ mọng. Do để trong hộp quá lâu, phần đường trắng đã bị mốc đen.

Bên dưới chiếc bánh là một cuốn sách với tựa đề: “Những câu chuyện ngon lành từ nước Anh”. Trong cuốn sách khổ bằng cuốn tạp chí là tập hợp những bức ảnh cùng công thức mô phỏng lại các món ăn xuất hiện trong những cuốn truyện thiếu nhi kiểu như “Biên niên sử Narnia”.

Mio lật một trang và lập tức bị thu hút ngay.

Trước mắt cô là bức ảnh chụp một chiếc bàn ăn phủ vải sọc và caro lộng lẫy, bày đầy bánh kẹo, món ăn, hoa và bộ dao dĩa đang tắm mình trong nắng. Đĩa và ly trông cũng rất xinh, khiến cô có cảm giác mình đang được thưởng trà ngay tại một khu vườn kiểu Anh xinh đẹp.

Mio nằm bò trên giường, đọc ngấu nghiến và phát hiện ra một trang có dán giấy nhớ. Chính là trang xuất hiện chiếc bánh trong “Biên niên sử Narnia.”

“A!” Cô reo lên.

Đó là hình minh họa cảnh một người thú tên là Tumnus mời trà nhân vật chính. Bên cạnh là công thức làm chiếc bánh phủ đường trắng và trang trí bằng một quả cherry giống như mẹ gửi.

“Mẹ thử làm đấy.” Bình thường, chữ mẹ hay viết ngoáy nhưng dòng chữ trên giấy nhớ lần này lại nắn nót từng chữ một. Nhớ lại chiếc bánh bị vứt vào thùng rác, cô hối hận khôn nguôi.

Từ mai, Mio sẽ theo ông lên Tokyo năm ngày. Ngày đầu tiên, cô sẽ cùng ông về nhà để nói chuyện với bố mẹ về chuyện tương lai.

Năm nào cũng vậy, khi tuyết rơi dày, ông sẽ chuyển tới sống trên tầng hai showroom ở Natayacho. Năm nay, giữa tháng sau – tháng Mười một – ông sẽ chuyển.

“Nếu Mio muốn ở lại học nghề thì ông sẽ thu xếp cho, nên cứ chọn hướng nào cháu muốn,” ông nói.

Mình sẽ quay lại trường cũ? Hay chuyển trường?

Nếu chuyển thì chuyển sang trường khác ở Tokyo hay ở Morioka?

Trong thùng mẹ gửi có cả tờ bướm của một trường dạy học từ xa. Bị bắt quay lại trường, ý chí phản kháng trong cô sẽ bùng lên. Nhưng “cứ chọn hướng nào cháu muốn” thì cô lại phân vân không biết phải chọn gì.

Mio nhìn xuống sông. Hai chú cá hồi vẫn sóng đôi bơi ngược dòng. Buông tay khỏi lan can cầu, cô tiếp tục đạp xe. Đi hết cầu Yonoji, cô ngước nhìn lên, trông thấy tháp canh lửa Konyacho Banya. Nhìn mái tòa tháp đỏ, tâm trạng Mio khá lên đôi chút. Những sợi len cô xe được suốt mùa hè cuối cùng đã được mắc lên khung cửi.

*

Về tới showroom, Mio đã thấy đôi giày của ông đặt trước cửa. Cạnh đó là sáu đôi giày da và một đôi giày cao gót màu đen.

Hôm nay ông tới showroom để xem vải may áo khoác sắp giao cho một người thợ may ở Tokyo. Nhưng cô không nghĩ lại có nhiều khách đến vậy.

Học viên lớp trải nghiệm dệt khăn hoặc miếng lót bình hoa sẽ học ở phòng đặt một khung cửi nhỏ tên là mise nằm ngay cạnh cửa ra vào. Tuy nhiên, ở đó cũng chẳng có ai.

Mio lướt qua mise, nhanh chân tiến vào khoảng thông tầng joi nằm bên trong.

Tấm chiếu chính giữa joi hệt như đang chiếm trọn spotlight từ ánh nắng rọi xuống qua giếng trời. Ở đây cũng chẳng có ai.

Có khá nhiều tiếng chân ở tầng hai – trong dãy phòng bao quanh joi. Khách ở trên đó cả.

Mio bước vào joi, vuốt ve khung cửi đặt ở góc phòng.

Cô đang dùng khung cửi ở nhà ông để dệt một chiếc khăn san cỡ lớn. Hôm trước, nó đã được chở tới đây bằng xe tải nhẹ cho cô tập thêm dưới sự hướng dẫn của bác Yuko.

Mio ngồi trước khung cửi, nhìn những sợi dọc màu đỏ đã được mắc ngay ngắn vào khung. Cô muốn bắt tay làm ngay. Hễ nhìn thấy những sợi len thẳng tắp sẵn sàng trên khung, lòng cô sẽ rộn ràng khó tả. Mio vừa nhẹ nhàng chạm vào hàng sợi dọc thẳng căng thì có tiếng cười lớn từ tầng hai vọng xuống. Cô giật mình quay lại, đứng dậy, rời khỏi khung cửi.

Hôm nay, bác Yuko nhờ Mio chuẩn bị trước khi quay sợi, để cô có thể bắt tay vào việc ngay sau khi họp với ông xong.

Mio lót một tấm vải mịn trên đầu gối, đặt chú cừu sặc sỡ sang bên cạnh.

Sau khi nhuộm đủ màu sợi theo đúng thiết kế màu, công đoạn tiếp theo là trộn chúng lại với nhau để chải thô – hay “carding”. Công đoạn này làm các đầu sợi nằm song song với nhau, giúp việc xe sợi trở nên dễ dàng hơn.

Ngày xưa, người ta dùng một chiếc lược bí gọi là “card” để chải từng chút một, nhưng giờ đều dùng máy chải gọi là “drum carder”. Công việc hôm nay là gỡ nhỏ những búi lông cừu để máy chải dễ dàng hơn.

Vừa bắt đầu gỡ, Mio đã ngừng tay. Sợi do cô nhuộm khác hẳn. Nếu nhuộm khéo, lông cừu sẽ không vón thành từng cục, lúc gỡ sẽ nhàn hơn hẳn. Không biết mình phải làm bao nhiêu lần mới đạt được đến trình độ đó, cô nghĩ.

Trên tầng có tiếng bước chân, rồi tiếng người vọng xuống.

“Ồ, kia là Bé Cừu à?”

“Ichi. Có phải Mei số 6 kia không?”

Tiếng bước chân mỗi lúc một dồn dập. Vài cậu trai mặc vest màu chàm xuất hiện. Nhìn họ trông giống học sinh cấp ba, nhưng đồng phục thì không phải.

“Nào nào, đừng có bu lấy thế.”

Taichi và hai anh chàng nữa bước xuống cầu thang. Giọng anh có vẻ hơi khó chịu.

Hai người đó cũng mặc vest sẫm màu. Với thân hình cao lớn, thật khó có thể coi họ là nam sinh cấp ba, nhưng cũng không giống người đã đi làm.

Tiếp theo, một cô gái mặc vest màu chàm cũng bước từ tầng hai xuống. Trông cô rất xinh đẹp với đôi môi son đỏ.

Xuống đến nơi, cô ấy đập vào lưng Taichi:

“Ic-chan, có cô bé dễ thương thế kia chẳng trách dạo này toàn lặn mất tăm.”

“Vớ vẩn,” Taichi hẩy nhẹ lưng. “Giống em gái đấy.”

“Em gái cậu còn lâu mà được dễ thương thế kia.”

“Này này, cậu định dizz bố mẹ tôi đấy hả?”

Tất cả cười ồ lên. Âm thanh vui vẻ vang vọng khắp gian joi tĩnh mịch…

Một anh chàng đeo kính cúi xuống, vuốt ve chú cừu bông.

“Ui cha, bông bông xù xù đẹp thật. Mà sao lại nhiều màu này thế?”

“Đó là…”

Mio nhìn anh ta chằm chằm. Ánh mắt ẩn sau cặp kính thật hiền.

“Này này hai người kia. Định thi xem ai chớp mắt trước à. Nói cho cậu biết, đừng có xớ rớ con gái nhà này.”

Taichi ôm lấy hông, kéo anh bạn đứng lên.

“Câu trả lời là, phối tất cả các màu này với nhau sẽ được màu chàm. Hiểu chưa?”

“Rồi rồi. Tôi hứa sẽ không cuỗm mất đâu. Giới thiệu cho tôi đi.”

“Anh Taichi…”

Mio đứng dậy, định đi lấy trà. Đúng lúc ấy, cô gái xinh đẹp thốt lên:

“Chu choa, cô bé vừa gọi ‘anh Taichi’ kìa. Ngọt như đường. Ọe ọe.”

“Đừng có ọe ọe vớ vẩn ra đây. Về đi về đi.”

Taichi khoát tay xua mấy người bạn về.

Cô gái vừa cười vừa bước ra cửa, mấy anh chàng kia cũng lũ lượt theo sau.

“Ic-chan, gặp cậu sau nhé. Vẫn ở chỗ cũ.”

“Bọn tôi đi trước đây.”

“Rồi,” Taichi vẫy lấy lệ. Khi tất cả đã ra ngoài, anh nới lỏng cà vạt, bước xuống bếp.

“Aaaa, khó chịu thế không biết. Ngày nào cũng phải thắt quanh cổ thì chết cho rồi.”

Có tiếng mở tủ lạnh và tiếng uống nước vang lên.

Vừa nghe, Mio vừa nhớ lại lời cô gái ban nãy. Lý do Taichi “dạo này toàn lặn mất tăm” là vì anh phải đứng trông chừng lúc ông dạy Mio nhuộm sợi.

Ông thường dạy Mio vào chiều tối thứ Hai, thứ Tư – khi cô không phải đến showroom học dệt – và chiều thứ Bảy.

Những ngày đó, Taichi thường chở đồ ăn cùng đồ dùng sinh hoạt tới cho hai ông cháu, quay video và giải thích cặn kẽ những chỗ quan trọng cho Mio. Nhờ sự tận tình của anh, những lời dạy khó hiểu của ông ngấm vào đầu cô một cách tự nhiên hệt như màu nhuộm ngấm vào lông cừu vậy.

Taichi nói anh cần quay video để làm sách hướng dẫn. Có điều, Mio nghĩ đó chỉ là cái cớ. Lý do thực sự là anh lo cho sức khỏe của ông.

Mình muốn tiếp tục học nhuộm và dệt vải.

Tuy nhiên, không biết mình được ông và Taichi đối xử đặc biệt như vậy có phải vì mình đã “dùng nước mắt làm vũ khí” như mẹ nói không?

Mỗi lần nhớ lại những lời đó, Mio lại lúng túng không biết phải làm sao.

“Này, nghỉ tay đã.”

Taichi từ trong bếp bước ra. Anh đã cởi áo khoác, chỉ còn mặc một chiếc sơ mi trắng. Trên khay là một bình cà phê, cốc và một chiếc bánh phô mai cỡ lớn.

“Có bánh ngọt đấy, của nông trại Koiwai. Thử không?”

“Cảm ơn anh… Còn bác Yuko và ông…”

“Họ bảo cứ ăn trước đi.”

Mio đứng dậy, lôi ra chiếc bàn trà bệt. Mùi cà phê thơm nồng.

Taichi trở lại bếp, lấy thêm sữa, đường và đĩa.

“Xin lỗi nhé. Lúc nãy chắc cô giật mình lắm hả?”

“Bạn đại học hả?”

“Bạn và đàn em khóa dưới, cùng trong câu lạc bộ.”

Taichi bảo không cần phải nói năng quá trịnh trọng nên gần đây Mio không dùng kính ngữ với anh nữa. Có điều, không trịnh trọng đến mức nào là được? Cô không biết. Có khi cứ dùng kính ngữ lại thấy thoải mái hơn.

Taichi rót cà phê ra cốc.

“Nhỏ vừa nãy là người hiệu đính tiếng Anh mấy bài đăng trên facebook.”

“Chị ấy chắc giỏi tiếng Anh lắm nhỉ?”

“Sinh ở nước ngoài, tới cấp hai mới về mà.”

Lấp ló dưới tay áo Taichi là một chiếc đồng hồ với mặt số màu đen. Chiếc đồng hồ với những đường nét thô ráp cực kỳ hợp với cánh tay rắn rỏi, khiến anh trông như một người xa lạ.

“Cà phê này, Bé Cừu.”

“Em là Mio. Đừng gọi Bé Cừu nữa.”

Taichi cười, đặt chiếc cốc cà phê trước mặt Mio.

“Rồi. Cà phê này, Mio.”

Không hiểu sao chính mình yêu cầu như vậy, mà khi được gọi bằng tên “Mio”, cô lại thấy bồn chồn.

“À… thật ra anh gọi em là Cừu cũng được.”

“Đồ phiền phức. Cừu. Cừu Con. Cà phê đây, uống đi.”

“Phiền phức…?”

Taichi cười, nhìn vào gian phòng bên trong.

“Mà lạ thật. Từ mai thầy Koujiro phải lên Tokyo mấy ngày. Bình thường toàn gửi hàng cho họ thôi. À, chắc là…”

Taichi gật gù, mặt đăm chiêu.

“Ừ đúng rồi. Vì cô phải về nhà.”

Mio im lặng gật đầu, bỏ thêm một viên đường và sữa vào cà phê. Từ ngày tới đây, cô đã biết thưởng thức vị ngon của cà phê nhưng vẫn thích thêm nhiều sữa.

“Làm gì mà mặt mày sầm sì thế kia. Nè, cho cô miếng to nhất.”

Taichi cắt bánh, đặt một miếng to nhất vào đĩa cho Mio. Mio lấy chú cừu nhồi bông ra, đặt cạnh đĩa bánh.

“Ồ, ‘Ngày hôm nay của Mei.’ Bánh phô mai hả? Viết comment xong thì gửi tôi.”

Chụp ảnh chú cừu hồng bên đĩa bánh xong, Mio viết comment ngay.

“Anh Taichi, em gửi rồi.”

“Nhanh thế.”

Taichi đưa điện thoại lên xem.

“Chà, ‘Bữa xế hôm nay là bánh phô mai từ nông trại Koiwai gần nhà tôi’. Hừm, khu đó tận Shizukuishi, nhưng thôi, gọi là ‘gần’ cũng được. ‘Vậy mà tôi cứ nghĩ nông trại Koiwai ở tận Hokkaido.’ Giời ạ, ở Iwate chứ. Gần đây thôi mà.”

“Mấy bữa trước em mới phát hiện ra.”

“Nhẽ ra phải phát hiện ra sớm hơn mới phải!”

Taichi dịch sang tiếng Anh rồi đăng lên facebook. Ngay lập tức, bố Mio nhấn nút “like”.

“Bố em vừa like.”

“Chú ấy có làm việc hẳn hoi không thế?”

Gần đây, Mio dùng bài đăng cho album “Hôm nay của Mei” thay cho báo cáo tình hình. Nhờ thế, bố cô đã thường xuyên theo dõi facebook của xưởng. Bố còn bảo, mẹ cũng thường xuyên xem đấy nhưng bà không bao giờ để lại dấu vết gì.

Ngày mai, Mio phải về nhà gặp mẹ.

Cô ăn bánh với tâm trạng đầy chán nản. Vị kem phô mai ngầy ngậy tan trong miệng hệt như những bông tuyết mềm xốp, ngọt ngào.

Taichi đang xem lại các bài viết cũ trên facebook.

“Ảnh chụp tấm vỏ gối ôm nhuộm bằng rệp son tương tác tốt quá. Không biết nhờ màu sắc, thiết kế hay mọi người thích xem ảnh gối ôm nhỉ?”

Chắc là tất cả, Mio vừa uống cà phê vừa nghĩ.

Cô đã quyết định dùng tấm vải hồng định làm rèm cửa làm vỏ gối ôm. Ban đầu, Mio định chỉ làm bằng tấm vải đó thôi, nhưng khi hỏi ý kiến Taichi, anh đề nghị nhờ một người bạn đang cùng quản lý cửa hàng online thiết kế thêm hoa văn trang trí. Kết cục, chiếc vỏ gối gồm làm từ miếng vải hồng và vải hoa đen đối xứng đã ra đời.

Nền vải hồng dễ thương được nhấn thêm chút màu đen trông người lớn hẳn. Hơn nữa, tấm vải mẫu Taichi trả lại Mio trông thật thần bí khi nền vải đen tuyền được tô điểm bằng những chiếc lá xanh, những bông hoa li ti trắng muốt cùng hoa chuông đỏ. Hệt như bức “Blackthorn” của William Morris.

Từ tấm vải khổ lớn vốn định làm rèm cửa làm được bảy vỏ gối to nhỏ khác nhau. Nghe Taichi nói nếu tặng nhà thiết kế một chiếc, người may một chiếc và để lại cho anh một chiếc coi như bù tiền vải thì sẽ được miễn phí, Mio đã rất vui.

Một tuần sau, chiếc gối ôm hoàn thiện được đính thêm những búi tua màu hồng vốn không có trong thiết kế ban đầu. Chính những chiếc tua đó làm tổng thể thêm phần ấn tượng.

Mio gần như bị mê hoặc bởi không ngờ tấm vải đầu tiên mình làm ra lại trở thành những miếng vỏ gối duyên dáng nhường này.

Taichi cũng có vẻ hài lòng. Cả hai cùng nhau bài trí mấy chiếc gối cùng “Mei số 6” trong showroom để chụp vài bức ảnh đăng facebook.

Vừa xem điện thoại, Taichi vừa tấm tắc:

“Tuyệt thật. Đúng là thứ đầu tiên thường mang nhiều kỉ niệm. Nhân tiện, người thiết kế là cậu đeo kính lúc nãy đấy.”

“Tác phẩm đầu tiên của anh là vải bọc ghế xô pha phải không?”

Taichi rời mắt khỏi điện thoại, lắc đầu.

“Không biết… giờ nó ra sao rồi. Có còn không nhỉ? Tôi tặng cho bạn gái cũ…”

“Giờ chị ấy…”

“Chuyển đến Osaka rồi. Mà yêu xa vốn không bền.”

“Giá chị ấy trả lại cho anh có phải tốt rồi không.”

Taichi cười, không nói thêm gì. Nhưng mặt anh như thể có ý “Đúng là trẻ con.”

Cảm thấy hơi bực bội, Mio rót cốc cà phê thứ hai, với tay định lấy thêm một miếng bánh. Đang đứng dựa vào cột nhà, Taichi nhìn cô tủm tỉm:

“Chà, cà phê đen cơ đấy. Người lớn gớm. Nhưng lại thêm cả bánh thì… ‘Anh nhiều lời quá đấy, Taichi’ hả?”

Bị đọc từng suy nghĩ trong đầu, Mio dừng tay. Taichi khoanh tay, bật cười, lưng khom lại.

“Mà, chắc cô thích dùng kính ngữ nói chuyện hơn nhỉ. Tôi quên béng mất. Càng bảo không cần vâng vâng dạ dạ trịnh trọng quá lại càng chẳng biết phải nói thế nào.”

Mio nhìn Taichi chằm chằm. Như thể anh đang đi guốc trong bụng cô vậy.

“Sao thế…?

“Anh biết à?”

Taichi buông tay, nhìn lại:

“Cổ thuộc tuýp người luôn để ý đến ánh mắt người khác còn gì. Con người thật đáng sợ. Vì vậy cần phải để ý sắc mặt họ ra sao. Và mình sẽ cố. Để không bị người ta ghét. Để không làm bố mẹ thất vọng.”

Mio nắm chặt bàn tay đang khẽ run rẩy, đặt chúng lên đầu gối. Thật đáng sợ. Cặp mắt to tròn của Taichi dường như đã nhìn thấu tâm can cô.

Taichi cụp mắt xuống, nói tiếp:

“Đồng cảm mạnh mẽ với đối phương khiến chỉ cần nét mặt họ thay đổi chút xíu là đủ để cô có cảm giác tiêu cực về bản thân mình. Rồi cô lại nghĩ, mình sẽ cố gắng, để không làm bầu không khí lúc đó tệ hơn. Có điều, cứ dồn nén, dồn nén mãi sẽ tới lúc bung. Hồi bé, cũng có dạo tôi không muốn ra ngoài. Giống hệt cô bây giờ, nên tôi hiểu.”

“Nhưng bây giờ…”

“Giờ thì ổn rồi.”

“Anh làm thế nào?”

“Tôi đã rèn luyện. Bằng cách tập judo.”

Taichi hạ giọng, nhấp một chút cà phê.

“Bị ghét hay bị làm gì cũng được. Lúc nào nguy khốn quá thì bỏ đi. Nghĩ được như thế, cô sẽ không còn phải để ý sắc mặt người khác đâu.”

“Có vẻ không hữu ích lắm nhỉ,” anh cười.

Ngạc nhiên thật. Không ngờ Taichi đã từng có thời gian như vậy. Mio càng nhìn anh chằm chặp.

“Tôi không đùa đâu. Mà đừng nhìn kiểu đó nữa. Thủng lỗ trên mặt tôi bây giờ.”

“Em xin lỗi!”

“Không sao. Tôi cũng không khó chịu đâu. Chỉ lo không biết có cọng lông mũi nào đang lấp ló không thôi.”

Taichi lại cười xòa. Đôi mắt to tròn mạnh mẽ của anh dịu đi, giúp Mio bớt căng thẳng phần nào.

Thở phào, cô ngước nhìn trần nhà. Một tia nắng nhè nhẹ xuyên qua cửa sổ trên miệng giếng trời. Vài cụm mây trắng như hòa vào giữa trời xanh.

Cô có cảm giác, mình đang ngước nhìn bầu trời từ đáy nước.

“Clammbon vừa cười bi bô bi bô đấy.”

Một câu trong truyện “Yamanashi” Mio từng đọc trong sách giáo khoa lướt qua đầu cô.

Taichi nhìn lên cửa sổ giếng trời với vẻ nghi ngại.

“Gì thế? Có chuột à?”

“Mây đang hòa lẫn với bầu trời. Em có cảm giác, mình đang ở dưới đáy sông.”

“Tại kính cửa sổ cũ quá đấy. Làm bằng kính thổi thủ công nên độ dày không đều.”

Một tia nắng dịu dàng rọi vào mặt Taichi khi anh ngước lên. Mio lại ngước theo đó lên trần.

“Em nhớ lại đoạn ‘Clammbon vừa cười bi bô bi bô đấy’.”

“Chúng ta là hai con cua đó hả?”

Taichi cúi xuống.

“Ở Morioka có rất nhiều quán cà phê, nhưng thầy Koujiro luôn chọn Hataya để bàn công việc. Còn khi muốn ở một mình, thầy sẽ đến quán Clammbon ở Konyacho. Nếu tình cờ bắt gặp thầy ở đó tôi cũng vờ như không thấy.”

“Anh có chỗ nào giống vậy không?”

“Tôi á? Có chứ. Nhân tiện, cô Yuko luôn chọn quán Tyrol ở Oodori. Mỗi lần cãi nhau xong, bà ấy thường tới đó, gọi thật nhiều bánh phô mai ăn cho hả giận.”

Còn Taichi, những lúc muốn một mình, anh sẽ tìm đến nơi nào?

Một lần, lúc được bác Yuko sai ra ngoài, Mio từng trông thấy anh đi một mình ở gần đền Sakurayama, đoạn ngay trước quán jajamen Pairon. Nhưng sau đó anh đã biến mất ngay.

“Nè, tôi không có ý lấy bánh dụ cô đâu, nhưng tôi muốn bàn một chuyện.”

Taichi đặt một chiếc túi nhỏ làm từ homespun màu đỏ lên bàn.

“Tác phẩm mới của tôi đấy. Bao đựng điện thoại. Dùng được cả hai mặt, mặt trong chống nước.”

Taichi lật mặt sau chiếc túi lại. Mặt này có họa tiết hoa.

Trên nền vải chàm là hình hai chú chim đối xứng với nhau, xung quanh là những quả dâu tây đỏ cùng vô vàn họa tiết lá phức tạp. Hình vẽ mang hơi hướm bức “Blackthorn” dùng cho vỏ gối ôm.

“Tôi định mùa đông làm bằng homespun, mùa hè làm bằng vải cotton. Cô sẽ mua cái này với giá bao nhiêu?”

Taichi chìa ra chiếc bao điện thoại màu đỏ. Mio nhìn chằm chằm. Đẹp thật. Nhưng bao nhiêu nhỉ? Vốn dĩ cô không dùng bao điện thoại.

“Em không biết. Bao nhiêu thế?”

“4.800 yên cả thuế.”

“Ui, đắt quá!”

Taichi thất vọng.

“Ừ… có thể… Nhưng làm tốn công lắm. May công phu nữa. Nhìn cũng dễ thương mà.”

“Nhưng vẫn đắt. Tầm 1.200 yên thì may ra.”

“1.200 yên? Xót thật. Có điều, bị chê đắt cũng buồn.”

“Sao lại buồn?”

Ông từ gian phòng bên trong bước ra joi. Theo sau là bác Yuko.

“Em đang băn khoăn không biết nên bán với giá bao nhiêu.”

Taichi lắc chiếc bao điện thoại đỏ cho hai người thấy.

“Đây là bao điện thoại giá 4.800 yên. Thế có đắt không nhỉ? Em định nhắm vào giới trẻ…”

“Mio, cất cái này cho ông.”

Nhận chiếc bao điện thoại từ Taichi, ông đưa lại chiếc phong bì đang kẹp nách cho Mio.

Cô nhận lấy, cất vào ngăn kéo tủ đồ ở gầm cầu thang. Tủ đồ này là nơi chứa tài liệu quan trọng của xưởng.

Ông lật xem cả mặt sau.

“Strawberry Thief của Morris à? Cái này chắc hợp với tầm tuổi lớn hơn Mio một chút.”

Ông đưa lại cho bác Yuko. Cô cẩn thận kiểm tra các đường may.

“Cũng không tệ, nhưng giá đó có vẻ không ổn lắm. Nếu đánh vào giới trẻ, sao không chọn loại vải vừa túi tiền hơn?”

“Taichi thích thiết kế của Morris nhỉ.”

Ngồi cạnh ông, Mio nhìn lại họa tiết được gọi là “Strawberry Thief”.

Quả nhiên, chiếc bao điện thoại với cách phối màu tương tự này cũng được sản xuất ở cùng một chỗ với mấy chiếc vỏ gối ôm.

“Khó lắm,” Taichi lầm bầm, nhận lại chiếc bao từ tay bác Yuko.

“Biết là phải tăng đơn giá, nhưng vẫn muốn làm một món đẹp mắt. Giờ lại băn khoăn không biết bán giá bao nhiêu. Với giá đó liệu ai sẽ mua? Không phải em muốn tăng tiền lời, bán thế cũng là suýt lỗ rồi ấy chứ… Homespun cũng thế. Tại sao len chứ có phải lụa hay cashmere đâu mà lại có giá đó?”

“Chà,” ông cười.

“Thời nay không phải cứ cái gì tốt sẽ bán chạy đâu.”

“Thế thì phải làm thế nào?”

“Đó là câu hỏi dành cho thế hệ trẻ.”

“Thầy Koujiro, đừng có đùn hết trách nhiệm lên đầu cho bọn em thế chứ. Phải không cô Yuko?”

“Con cũng đừng đùn đẩy cho mẹ nữa. Thầy Koujiro, tôi đi pha trà nhé.”

“Để em…”

Mio đứng dậy, định đi vào bếp nhưng bác Yuko đã giữ lại.

“Không cần, không cần. Mio cho thằng Taichi tham khảo ý kiến của nữ sinh cấp ba đi.”

Nghe tới “nữ sinh cấp ba”, lòng Mio chùng xuống. Giờ mình còn được coi là nữ sinh cấp ba nữa hay không?

Mio ngồi xuống. Bầu không khí giữa ông và Taichi nặng nề quá.

Cô cầm chiếc bao điện thoại đang đặt trên bàn lên, vuốt ve thử. Homespun dày dặn và dai hơn hẳn chất liệu làm khăn ống và khăn san. Chiếc bao được làm từ vải vụn còn thừa khi may quần áo. Cô lật mặt sau, nhìn họa tiết “Strawberry Thief”.

Sau khi nghe tên, Mio có thể tưởng tượng được một câu chuyện giữa hoa lá, quả dâu cùng những chú chim. Mọi thứ sống động hệt như một cuốn sách tranh. Mio chăm chú nhìn, mắt như bị hút vào thứ gì đó – cảm giác giống hệt lúc nhìn bức “Blackthorn”.

Thế giới của xe sợi, dệt, nhuộm màu sắc và họa tiết.

Chỉ trong một mảnh vải, chừng ấy thế giới đang phập phồng hơi thở.

“Ông… à, thầy Koujiro!”

Lúc học nhuộm, Mio có thể gọi ông là “thầy” một cách rất tự nhiên. Nhưng lúc ở showroom, việc này lại khiến cô ngượng nghịu.

“Gì thế?” Ông cũng ngượng nghịu không kém.

“Mio, ngoài lúc học nhuộm, cháu không cần gọi ông là thầy. Ở đây, cô giáo của cháu là bác Yuko.”

“Vậy thì, ông ơi. Morris có phải là người đã nhuộm họa tiết này không?”

“William Morris là một nhà thơ người Anh. Đồng thời là một nhà tư tưởng và nhà thiết kế. Ông ta để lại rất nhiều thiết kế từ giấy dán tường, vải đến sách… Nhà mình có nhiều sách lắm. Cháu thử tìm đọc xem.”

“Ông có gợi ý cuốn nào không ạ?”

“Cháu phải tự đọc thôi.”

“Thầy Koujiro, còn phong trào Nghệ thuật và Thủ công Mỹ nghệ thì sao ạ?”

“Thử giải thích xem nào.”

Taichi đăm chiêu suy nghĩ.

Lần trước, khi sơ ý làm cháy bếp, ông đã cúi gập người lẩm bẩm “Không ổn rồi.” Từ đó đến nay đã hai tháng trôi qua. Lần nào gặp ông, Mio cũng thấy ông không thay đổi gì, thậm chí gương mặt còn nghiêm khắc hơn lần trước.

“Phong trào Nghệ thuật và Thủ công Mỹ nghệ,” Taichi bắt đầu giải thích. “… là một phong trào do Morris đề xướng, đại khái là hãy dùng những đồ vật đẹp đẽ ngay trong cuộc sống thường nhật. Vì vậy, em cháu mới có ý tưởng tạo ra một chiếc bao điện thoại thật đẹp…”

“Ra vậy.”

Taichi nhíu mày lúng túng.

“Ơ, sao đột nhiên lại chùng xuống thế? Với tư cách một giáo viên môn xã hội tương lai, em đang truyền dạy kiến thức của mình một cách đầy say sưa và nhiệt huyết cơ mà?”

“Thôi đủ rồi.”

“Thầy đừng nói thế. Nghe em giảng xong đã chứ.”

Ông cười thích thú. Thấy vậy, Taichi cũng cười. Bầu không khí đã trở nên thoải mái hơn.

“Chịu ảnh hưởng của phong trào Nghệ thuật và Thủ công Mỹ Nghệ ở Anh, vào thời Taisho, Muneyoshi Yanagi cũng khởi xướng phong trào Nghệ thuật Dân gian ở Nhật. Vải homespun Iwate chính là kết quả của phong trào đó.”

“Thầy Taichi, thầy có thể giải thích ngắn gọn hơn về phong trào Nghệ thuật Dân gian không?”

“Cái gì?” Taichi kêu lên vẻ khó xử.

“Câu này ‘khoai’ quá… Một phong trào tìm ra vẻ đẹp từ những sản phẩm thủ công tự nhiên, mộc mạc được tạo ra từ bàn tay của các nghệ nhân? Được không ạ?”

“Chính là vậy đấy.”

Nghe tới “tự nhiên, mộc mạc”, Mio bất giác sờ lên chiếc khăn ống trên cổ.

Vào một ngày gió lạnh, ông đã đưa cho cô chiếc khăn ống cùng một đai quấn bụng màu hồng. Ở trong nhà cũng không được để người bị lạnh, ông nói. Màu xanh nhạt được nhuộm bằng chàm, màu hồng được nhuộm bằng hồng hoa.

“Ông ơi. Sản phẩm thủ công tự nhiên thì nên nhuộm bằng cây hơn là bằng hóa chất nhỉ?”

Đang uống cà phê, Taichi vội vàng đặt cốc xuống.

“Không được. Vải nhà mình không dùng thuốc nhuộm sẽ không ra đúng màu mong muốn.”

“Nhưng lông cừu là sản phẩm tự nhiên. Nếu dệt thủ công thì cũng nên dùng nguyên liệu tự nhiên để nhuộm vẫn hơn chứ?”

Ông định trả lời nhưng lại thôi, hai mắt nhắm nghiền.

“Vì nguyên liệu tự nhiên không ổn định. Đúng không, thầy Koujiro?”

Ông khẽ lắc đầu, từ từ đứng dậy.

“Ông ơi, ông sao thế?”

“Ông định mua thêm chút quà cho ngày mai.”

“Ngay bây giờ ạ? Cháu cũng đi.”

“Xa lắm, không cần đâu.”

“Thầy Koujiro,” bác Yuko gọi với theo.

“Tôi hoặc Taichi sẽ lái xe tới đó sau.”

“Không cần đâu. Tôi cũng muốn ghé vài nơi nữa.”

Ông vội vàng ra cửa trước và xỏ giày.

Nhìn cánh cửa trượt đóng lại, Taichi lẩm bẩm:

“Gay rồi, Cừu. Cừu ơi là Cừu. Cô vừa giẫm vào bãi mìn rồi đó.”

“Bãi mìn? Ông giận em à?”

“Không phải giận,” bác Yuko lên tiếng. “Nhưng đáng ra không nên gợi lại chuyện đó. Chiếc khăn san sợi gai dầu Mio dùng cả mùa hè và cả chiếc khăn ống bây giờ đều là vải Kayo đúng không?”

“Vải Kayo?”

“Nhìn nhãn xem,” bác Yuko nói. Mio cởi khăn. “Trên mép vải đính nhãn đề một dòng Hán tự. Vậy mà trước giờ bác vẫn đinh ninh cái tên này đọc là ‘Kouyou’.”

“Đó là nhãn hiệu cô Kayo lập nên sau khi chia tay thầy Koujiro. Lý do thì, giống hệt chuyện Mio vừa nói. Họ tranh cãi rất gay gắt về việc nên nhuộm vải bằng hóa chất hay nguyên liệu tự nhiên. Sau đó, cô Kayo đã rời khỏi xưởng rồi mất.”

Taichi kéo tay áo bác Yuko.

“Cô Yuko, đừng đột ngột thế. Phải kể tuần tự chứ.”

Bác Yuko thở dài.

“Chuyện hai người họ… không biết phải giải thích thế nào cho rõ.”

Thảo nào khi Mio hỏi về bà, ai cũng ấp úng. Mio quàng lại chiếc khăn ống màu xanh lam lên cổ.

Cả chiếc khăn làm từ “vải Kayo” lẫn chiếc khăn san làm từ homespun đều khiến cô cảm thấy nhẹ lòng.

*

Ba mươi phút sau khi ông ra ngoài, Taichi cũng đi. Cả tiếng sau ông vẫn không về. Mio thử nhắn LINE thì ông bảo đang ngồi nghỉ ở quán Clammbon ở Konyacho.

Bác Yuko cũng lo nên gọi Mio cùng đi đón ông về. Tuy nhiên, vừa tới nơi, thấy ông ngồi một mình bên chiếc bàn bốn chỗ, lưng quay ra cửa, cô vội vã quay lại xe.

“Gay rồi, gay rồi.”

“Bác Yuko, đợi cháu với.”

“Mio, về thôi. Trông thầy Koujiro u ám lắm.”

Bác Yuko ngồi vào ghế lái. Mio ngoái lại nhìn quán cà phê rồi ngồi vào ghế phụ.

“Bỏ về thế này có ổn không ạ? Nhìn ông buồn quá.”

“Lần nào thầy Koujiro như thế cũng gay go đấy. Hút thuốc liên tục thế kia rõ là trầm cảm rồi.”

“Chắc là lỗi của cháu. Tại cháu tự nhiên hỏi chuyện không đâu.”

“Cũng không hẳn. Vì thầy sắp nghỉ hưu nên có lẽ còn nhiều chuyện nặng lòng. Lần này, thầy lên Tokyo cũng là để chào hỏi và thăm mộ bạn bè.”

Mio nhìn bảng hiệu đề “Quán cà phê rang xay tại nhà”.

Một ống khói bạc nối lên tận nóc tầng hai lặng lẽ ánh lên trong nắng thu. Có lẽ là ống dẫn khói rang cà phê.

“Nhưng đã mất công đến tận đây rồi. Để em vào gọi ông.”

“Nhìn thế kia thì thầy chưa về được đâu. Nhưng để thầy một mình cũng không ổn. Được, Mio đi đi.”

“Cứ để em!” Mio hùng hồn nói với bác Yuko rồi bước xuống xe.

Vừa bước vào, Mio đã bị mùi cà phê đậm đặc bao quanh. Hít hà mùi hương đó, cô gọi ông.

Ông quay lại, nhíu mày.

“Ông ơi, cháu với bác Yuko đến đón ông. Bác đang đợi ngoài xe.”

“Bao giờ muốn về ông sẽ về. Để ông yên.”

“Ông ơi, ông còn muốn ghé chỗ nào nữa?”

Ông im lặng đứng lên, ra quầy tính tiền. Nhân lúc đó, Mio nhắn LINE cho bác Yuko nói hình như ông còn việc cần làm.

Bác Yuko lái xe ra khỏi bãi đỗ xe, dừng lại trước cửa quán, mở cửa bên ghế lái.

“Mio, vậy bác tìm chỗ nào uống trà nhé. Lúc nào về thì gọi. Bác sẽ đưa hai ông cháu về tới ga Takizawa.”

“Nhưng em còn việc đang làm dở…”

“Không cần gấp. Lo cho thầy Koujiro trước đã. Nhờ em nhé.”

“Ơ, nhưng mà…”

“Nhờ em đấy!” Bác Yuko nhắc lại rồi phóng xe đi.

Mio nghe ông gọi từ đằng sau.

“Bác Yuko đi rồi à?”

“Bác ấy bảo khi nào về thì gọi. Ông định đi đâu thế ạ?”

“Trời thu đẹp thật.”

Ông ngước nhìn bầu trời, bắt đầu bước đi chậm rãi. “Ông ra sông đi dạo một chút.”

Mình có nên đi cùng không?

Mio đang bối rối, thì ông đã đi tới trước cửa nhà kho xưởng nấu rượu Kikunotsukasa. Ông quay lại hỏi:

“Cháu có đi không?”

“Cháu đi cùng được không ạ?”

Ông gật đầu. Không hiểu sao, Mio thấy trong lòng khấp khởi, chạy lại bước bên ông.

“Quán ruột của ông mùi hương dễ chịu thật.”

“Quán ruột?” Ông hỏi lại.

“Nơi mọi người thường tìm đến khi muốn một mình. Bác Yuko là Tyrol, Taichi cũng có một nơi như thế.”

“Làm việc cùng người nhà khiến cuộc sống riêng và công việc của ông dường như là một. Vì vậy, đôi khi ông cần ở một mình.”

Mio có thể nhìn thấy mái ngói đỏ của tòa tháp canh lửa Konyacho Banya và hàng bánh gạo Shirasawa.

Mái nhà nào ở Natayacho, nơi đặt showroom xưởng Yamazaki cũng đều sơn đen, riêng Banya lại là một tòa nhà hai tầng theo phong cách phương Tây với những bức tường trông vừa giống màu xanh lam nhạt vừa giống màu xám, khung cửa sổ trắng đầy lãng mạn cùng mái nhà đỏ chót.

Ông nhìn lên quả chuông treo trên đỉnh tháp canh lửa.

“Bố cháu cũng có một quán ruột ở Morioka. Hiroshi cũng thích cà phê. Từ hồi vào cấp ba, bố cháu thỉnh thoảng có tới Hataya.”

“Cấp ba đã uống cà phê sao ạ?”

“Nếu trúng hôm ông ở đó, ông sẽ trả tiền luôn.”

“Bố cháu ‘tiện thể’ ghê.”

“Nhưng cũng hay ho lắm. Khi nhìn thấy con trai mình nhâm nhi cà phê, như một người đàn ông.”

Ông cười khúc khích, rẽ vào góc Banya, băng qua đường, tiến về phía cầu Yonoji.

Đó là con đường Mio thường chạy xe đạp vào buổi chiều. Có điều, đi bộ thế này mới thấy khung cảnh lướt qua thật chậm rãi.

Khi bắt đầu băng qua cầu, ông chỉ vào tòa nhà lát gạch nâu ở bên kia bờ sông:

“Ông cho Mio một ứng cử viên làm quán ruột nhé. Gần hội trường tỉnh có một nơi chắc cháu sẽ thích. Ở đó có món nước táo ép hoa hồng.”

“Là nước táo màu hoa hồng ấy ạ? Không biết trông thế nào nhỉ? Cháu muốn thử quá.”

“Ông cũng đoán thế. Gợi ý: Tên quán là một thẻ bài* tiếng Bồ Đào Nha.”

“Chải sợi thô?”

“Mio đúng là người nhà ta rồi. Không phải nghĩa chải sợi mà là thẻ bài kìa.”

Ông dừng lại giữa cầu Yonoji.

“Mio, ông xin lỗi, nhưng ông muốn hút thuốc. Cháu tránh xa xa ra một chút.”

Mio lùi xa ra đầu gió, đặt tay lên lan can cầu. Ông rút từ trong túi ra một điếu thuốc, cong tấm lưng to lớn, châm lửa. Mặt trời chiếu vào chiếc vòng cổ màu hổ phách, ánh lên sắc hồng trà êm dịu lay lay.

Tuy đã nhượng lại kha khá bộ sưu tập gồm cả thảm lẫn đồ thủ công, ông vẫn giữ lại bộ khoáng vật. Nghe nói một phần ông được một tiền bối đáng kính nhượng lại cho, phần còn lại tự ông sưu tập. Tất cả đều là những loại đá xuất hiện trong các tác phẩm của Miyazawa Kenji.

Trong tất cả các bộ sưu tập của ông, Mio cũng thích bộ đó nhất. Đọc lại “Ngày mồng 4 tháng hoa thủy tiên”, có đoạn Miyazawa Kenji đã ví con dốc phủ đầy tuyết như một “phiến đá xuyên sáng hoa tuyết chói lọi”.

Đọc câu đó, Mio đâm ra thích thú đá xuyên sáng hoa tuyết. Khi cô hỏi, ông lập tức đưa ra một viên đá trắng. Tuy là khoáng vật nhưng nó lại có màu trắng bóng và mang hơi ấm như một sinh vật sống.

Kể từ đó, mỗi khi đọc thêm tác phẩm nào của Miyazawa Kenji trên giá sách của ông, Mio lại tìm xem loại đá đó ở đâu. Hồng ngọc khiến trái tim reo lên mừng rỡ, lam ngọc với màu xanh huyền bí hay ánh sáng từ viên hoàng ngọc.

Thường chỉ cần nghe tên cũng đủ để tưởng tượng được màu sắc đó. Nhưng khi trực tiếp nhìn thấy chúng, bạn sẽ cảm nhận được khung cảnh mô tả trong truyện tràn ngập màu sắc và ánh sáng kỳ diệu đến mức nào.

Ông kể cho Mio bí mật về màu sắc từng khoáng vật bằng cách nói về các nguyên tố kim loại. Tuy nhiên, do ở trường không chọn môn hóa học nên phải tốn khá nhiều thời gian cô mới hiểu được. Không chỉ khoáng vật, việc dùng hóa chất để nhuộm lông cừu cũng gần giống với làm thí nghiệm hóa học. Vốn kém mấy môn tự nhiên nên đôi khi Mio không hiểu nổi ông nói gì. Những lúc như thế, cô phải nhờ ông giảng lại, nhưng có chép vào vở rồi cũng quên ngay.

Lần đầu tiên, Mio muốn học hành nghiêm chỉnh. Nhưng lại không muốn quay lại trường.

Trong bầu không khí trong veo, điếu thuốc của ông tỏa hương thơm ngào ngạt.

“Ông ơi!”

“Sao thế?” Giọng ông từ xa vọng lại.

“Ông nghĩ sao về chuyện học hành?”

“À,” ông phả một hơi thuốc.

“Ông nghĩ cháu nên tốt nghiệp cấp ba, bằng cách này hay cách khác.”

“… Vâng.”

“Sau khi tốt nghiệp, nếu muốn học nhuộm học dệt, cháu có thể vào một trường đại học dạy mấy môn đó.”

Mio không hề biết có một ngôi trường đại học dạy những môn này. Định hỏi ông đó là trường nào, nhưng nhìn khuôn mặt u ám trong làn khói thuốc của ông, cô đâm ra sợ.

“Bỏ học… đúng là không tốt ông nhỉ.”

“Không tốt, cũng chả xấu,” ông đáp.

“Nhưng sẽ cần rất nhiều quyết tâm. Bất kể chọn đường nào, cháu cũng cần quyết tâm để chấp nhận những gì xảy đến.”

“Cháu không thể… Nên cháu mới rối bời đây. Quyết tâm ư? Bằng cách nào ạ? Nếu có đủ dũng khí cháu đã chẳng phải đau đầu.”

“Cháu nói thế là sao hả?”

Thấy ông bực bội, bàn tay đặt trên lan can của Mio khẽ run lên.

“Ông ơi, ông giận cháu à?”

“Không,” ông lại phả một hơi đầy khói.

“Lúc ông làm cháy bếp, cháu đã can đảm nhường nào. Chính nhờ dũng khí đó mà giờ cháu đang ở đây, đã làm được từng ấy việc.”

Mio nhìn xuống sông. Bốn chú cá hồi đang bơi ngược dòng về thượng nguồn. Chỉ cần dừng lại sẽ bị dòng nước đẩy lùi. Vì vậy, chúng đang lấy hết sức mình chọi lại dòng nước xiết.

“Nhưng cháu chỉ toàn chạy trốn. Toàn để mình bị cuốn theo dòng. Cháu có tự quyết định việc ở lại lớp đâu. Vì không còn thời gian nên… cháu.”

Mio nhìn ra bờ sông. Xác chú cá hồi chiều đã chìm nghỉm tự lúc nào.

“Trong khi… Giống như những con cá hồi kia. Tất cả mọi người đều đang tiến lên.”

Ông rút chiếc gạt tàn trong túi ra, dụi thuốc.

“Chúng không trôi theo dòng. Mà đang dốc hết sức làm những việc cần làm.”

“Khác hẳn với cháu.”

Giọng ông trở nên thật lạnh lùng. Mio cắn môi.

“Cháu chưa bao giờ dốc hết sức làm những việc cần làm. Hàng ngày, cháu vẫn mải mê nhuộm sợi, dệt vải. Nhưng nhỡ cháu làm vậy không phải vì thực sự đam mê với nó mà chỉ vì không muốn phải quay lại trường thì sao? Chắc là không phải thế. Nhưng mà… cháu không đủ quyết tâm, không đủ sẵn sàng. Cháu đúng là một đứa bỏ đi. Mai gặp mẹ, cháu phải nói gì đây?”

“Bình tĩnh nào, Mio. Đi dạo thêm chút nhé?”

Ông quay lại bên này, rẽ vào con đường nhỏ dọc bờ sông Nakatsu. Mio im lặng nối gót.

Sau khi hai ông cháu đi qua tòa nhà Điện lực Tohoku, mái ngói và bức tường đất sét trắng của tiệm tạp hóa Gozaku hiện ra sau rặng liễu chạy dọc triền đê.

Ông dừng lại dưới gốc cây đầu tiên, rút ra một tấm vải nhuộm chàm và quấn quanh cổ.

“Ông ơi, đó cũng là vải Kayo ạ?”

“Đúng,” ông thì thầm.

“Ông có giận những điều cháu nói ở showroom lúc nãy không?”

“Ông không giận. Nhuộm bằng hóa chất hay cây cỏ, mỗi thứ đều có ưu điểm riêng. Có điều…”

Ông nhìn xuống sông. Mặt nước phản chiếu nắng chiều lấp lánh ánh vàng.

“Nhuộm bằng lá dễ bị phai màu, ngay cả khi dùng kèm thuốc hãm. Đặc biệt khi bị nắng chiếu trực tiếp. Sản phẩm của chúng ta hầu hết là áo khoác, phải mặc ngoài trời. Để bị sờn màu như vậy thì không ổn. Nên phải dùng thuốc nhuộm.”

Một cơn gió thổi tới. Lạnh cóng, Mio đút tay vào túi, chạm ngay vào chú cừu nhồi bông.

Homespun làm từ lông cừu là một loại vải “sống”. Theo năm tháng, những thứ dư thừa trong vải sẽ dần được loại bỏ, giúp quần áo càng ngày càng thoải mái hơn. Chắc chắn, với loại vải đủ bền để truyền lại cho con cháu, bền màu cũng là điều vô cùng quan trọng.

“Cháu xin lỗi! Cháu chỉ nghĩ gì nói nấy thôi.”

“Ai cũng từng nghĩ thế. Bà cháu cũng vậy nên mới bỏ đi.”

“Vì vậy nên… Kể cả bà không bỏ đi thì ông cũng không thể bỏ qua chuyện đó sao?”

“Khác biệt về quan điểm là điều khó có thể lấp đầy.”

Cả hai đã gần tới cầu Nakanohashi với những chiếc giỏ đầy hoa treo dọc lan can.

Ông nhìn mấy giỏ hoa.

“Những thứ do tự nhiên sinh ra mang sức mạnh của sự sống. Những thứ con người tạo ra thì không. Vì vậy, mơ ước của một người thợ thủ công luôn là thổi hồn vào những thứ họ làm ra. Với ông, đó là những tấm áo mình làm ra có thể làm đẹp, giữ ấm và bảo vệ cơ thể người mặc nó. Họ sẽ không bao giờ chán, sẽ luôn mang theo nó bên mình.”

Ông sờ lên chiếc khăn nhuộm chàm trên cổ.

“Nhưng Kayo lại không thổi hồn mà muốn đưa sự sống từ cây cỏ vào vải dệt. Bà ấy nói, cách làm của ông – tạo linh hồn cho một thứ vô tri – là phản khoa học. Tranh cãi mãi không ai chịu ai, kết cục, bà ấy bỏ về quê, tự mở xưởng dệt riêng. Bằng cách thuê một căn nhà cũ người ta dùng làm kho thóc.”

“Có lẽ tinh thần bà ấy không được ổn,” ông lẩm bẩm.

“Nhưng ông cũng thế. Ít lâu sau thì Mio ra đời. Để làm khăn san, ông bà bắt đầu nói chuyện lại, còn đi ăn cùng nhau nữa.”

“Giống như những sợi chỉ.”

Mio ngước nhìn ông. Gương mặt ông thoáng ngạc nhiên.

“Lần đầu tiên cháu quay sợi, Taichi đã nói: ‘Đứt thì nối lại là được’.”

Cành liễu đung đưa trong gió. Mio nhẹ nhàng nắm lấy một cành đang sà vào vai mình bằng cả hai tay.

“Chỉ cần ta xoắn vào, chúng sẽ nối lại với nhau.”

Nói rồi cô thử nối hai cành liễu khiến ông bật cười.

“Đúng vậy. Sợi chỉ của ông và bà nối lại được chính là nhờ có Mio đấy.”

Bên kia cành liễu là quán cà phê Fukakusa, nơi Taichi và Mio từng ghé qua. Căn nhà ẩn mình sau những dây thường xuân xanh dạo hè giờ đã nhuốm đầy sắc thu.

Ông nhặt lấy một chiếc lá vàng rớt xuống vai mình.

“Thế này công viên Iwate hẳn sẽ đẹp lắm rồi. Cháu đã thăm di tích lâu đài Morioka bao giờ chưa?”

“Chưa ạ,” Mio đáp.

“Thế là không được rồi”, ông bắt đầu bước đi.

“Đã đến Morioka nhất định phải tới đó một lần. Nhất là tuổi teen.”

“Tại sao ạ? Hai mươi tuổi thì không được đến nữa ư?”

“Cứ đi thì biết,” ông cười.

*

Công viên di tích lâu đài Morioka không có tòa nhà nào nhưng lại còn nhiều hàng rào đá ngạo nghễ.

Trên nền những bước tường thành mạnh mẽ còn sót lại, những tán cây ngập trong sắc vàng, sắc đỏ dường như kéo dài bất tận. Từ đỉnh con dốc dẫn đến lâu đài Ninomaru, Mio nhìn lại con đường mình vừa đi qua.

“Cháu chưa bao giờ thấy lá đỏ rực thế này. Bình thường chỉ toàn màu vàng thôi.”

“Vì ở Tokyo có nhiều cây bạch quả. Tuy nhiên, lá vàng hay lá đỏ ở xứ lạnh vẫn đẹp hơn. Vì không khí lạnh sẽ khiến chúng đậm màu.”

“Tức là ngắm lá thu ở Hokkaido hay Tohoku sẽ đẹp lắm ông nhỉ.”

“Là ở đây đấy.”

Ông và Mio rẽ phải trên con dốc thoai thoải, tiến vào một quảng trường. Sau những tán cây rực rỡ sừng sững như một bia đá.

Ông dừng lại trước bia đá.

“Chắc ở trường cháu đã học rồi. Đây là lâu đài Kozukata xuất hiện trong bài thơ ‘Nằm trên bãi cỏ lâu đài Kozukata’ của Ishikawa Takuboku. Đây là bia đá khắc bài thơ ‘Trái tim tuổi mười lăm bị hút lên trời.’ Takuboku đến đây khi ông ấy trạc tuổi cháu bây giờ.”

“Lúc đó ông ấy còn kém tuổi cháu.”

“Kém hai, ba tuổi với ông cũng như nhau cả.”

Thay vì nằm trên cỏ, Mio đi dưới những tán cây và ngước nhìn trời. Những chiếc lá đỏ rực đang ra sức lấp kín trời xanh. Như thể những chiếc lá chỉ ít ngày nữa sẽ lìa cành, hướng lên trời cao mà gào thét.

Đứng giữa khung cảnh ấy, dường như Mio có thể đồng cảm được mong muốn đưa sự sống từ cây cỏ vào vải dệt của bà. Mặt khác, cô cũng rất khâm phục khả năng dùng sức mạnh khoa học để tạo ra bất kỳ màu sắc nào mình muốn của ông.

Vừa đi cạnh Mio, ông vừa đưa tay chạm vào một thân cây.

“Sau khi mở xưởng dệt riêng, Kayo… bà cháu bắt đầu dệt sợi gai dầu và lụa. Hồng hoa, thiến thảo, chàm, sơn trà, ngải cứu. Bà ấy bắt đầu nhuộm vải bằng cách dùng màu tự nhiên từ các loài cây đó, với mong ước có thể làm nên mọi loại quần áo, từ đồ lót tới áo khoác cho từ trẻ con tới người già.”

“Thảo nào cảm giác dễ chịu thật.”

Mio sờ vào chiếc khăn ống trên cổ. Chắc chắn bà phải sờ không biết bao nhiêu lần để nghiên cứu cách dệt nên chúng.

Ông cởi chiếc khăn ống trên cổ, nhìn nhãn vải đính ở mép khăn.

“Nhưng vải Kayo không bán chạy. Bất chấp hoài bão lớn lao và chất lượng của nó. Như vậy thì biết sống làm sao. Bà ấy gần như tuyệt vọng. Nhưng nhất quyết không nhờ ai giúp đỡ, chỉ một mình cố gắng xoay xở… Bà ấy không bao giờ thể hiện sự yếu đuối của mình – ngay cả trước mặt ông.”

Ông cẩn thận gấp tấm khăn màu chàm lại, bỏ vào túi.

“Sau khi bà ấy qua đời, ông có xem sổ kinh doanh để liên lạc với người quen. Lúc đó ông mới nhận ra. Bà đã vất vả cỡ nào để tìm cách bán hàng, để xoay xở chuyện tiền nong… Đến mức gần như bị dồn tới chân tường.”

Ông tiếp tục bước đi chầm chậm, khẽ giẫm lên những chiếc lá khô.

“Sao bà không quay về? Sao không nhờ ông giúp? Sao bà không bàn với ông, chỉ một câu thôi là được mà.”

“Không,” ông gục đầu. “Lẽ ra ông phải gọi bà về mới đúng.”

Ông nói tiếp, như đang nói với chính mình.

“Hai tháng sau, lúc ông đang dọn dẹp xưởng Hanamaki thì một người khách tìm tới mua vải Kayo. Anh ta nói có liên lạc nhưng không được hồi âm nên đã tới tận nơi. Hai tuần sau thì có đơn đặt mua số lượng lớn từ một nhóm các phụ huynh có con mắc bệnh da liễu. Toàn bộ lượng hàng tồn kho đã được bán hết.”

“Vậy là ông đã giữ lại cái này?”

Mio chỉ vào chiếc khăn ống. Ông gật đầu.

“Chọn con đường chưa ai kinh qua không thể tránh khỏi bất an. Sẽ có lúc, cháu tuyệt vọng như thể đang vươn tay lên trời nhưng chẳng có gì đáp lại. Nhưng, chỉ cần cháu làm việc một cách chân thành, nhất định nỗ lực đó sẽ được đền đáp.”

Hai người rẽ tiếp. Trước mắt là một cây cầu có lan can đỏ. Đó là con đường dẫn đến nơi đặt tòa Thiên Bảo Các tên là Honmaru. Cả hai leo lên những bậc thang, đi hết cây cầu sang tới bức tường đá bên kia.

Cảnh vật đột nhiên trải rộng trước mắt. Hai hàng cây đỏ thắm mọc thẳng tắp bên đường. Lá rụng phủ kín mặt đất, nhuộm cả đất và trời trong sắc đỏ.

“Ông ơi, tại sao bà mất?”

“Bà mất trên núi. Khi đang hái cây nhuộm vải. Có người nói bà tự tử nhưng không phải vậy.”

Ông nhặt một chiếc lá rụng trên mặt đất.

“Bà có hẹn khi về sẽ đi ăn cùng ông. Bà còn cười bảo tiện thể sẽ hái rau rừng về làm tempura cho ông nữa… Lúc tìm thấy xác dưới vách đá, trong tay bà đang nắm một mầm bạch chỉ…”

“Chính là món ông thích nhất,” ông thì thầm.

“Chắc chắn khi nhìn thấy mầm bạch chỉ, bà đã vươn tay mải mê hái chúng… Thỉnh thoảng ông vẫn mơ thấy.”

“Ông mơ thấy gì?”

“Ông mơ thấy bà đang đi trong rừng. Với một gùi đầy cây thuốc nhuộm. Nhưng bà vẫn muốn tìm rau rừng. Lúc tìm thấy mầm bạch chỉ, bà mải mê chạy miết. Ông đuổi theo, cố hết sức hét lên. Kayo, đằng trước là vách đá. Đừng chạy nữa. Quay về đi. Nhưng bà không nghe thấy.”

Ông thở dài.

“Bà cháu đã từ bỏ tất cả để chọn con đường tự lập. Tuy mọi chuyện không như ý nhưng ông chắc rằng nếu được chọn lại, bà vẫn tiếp tục chọn con đường đó. Ông cũng vậy. Nhưng giá mà… giá mà cả hai đồng hành cùng nhau, dù chỉ thêm một chút thôi. Thì có lẽ ngày mai, ba người chúng ta sẽ cùng nhau xuống Tokyo.”

Núi Iwate thấp thoáng sau tán lá thu. Đỉnh núi phủ một màn tuyết mỏng.

“Sau này nghĩ lại có thể nghĩ ra vô số cách khôn ngoan. Nhưng chính lúc đang đối diện với hoàn cảnh trước mắt, ta thường chẳng nghĩ được cách nào.”

“Ông cũng vậy sao?”

Ông khẽ nhắm mắt, gật đầu.

“Chính vì là người nhà nên ông không chấp nhận. Lòng ông cũng rối bời. Nhưng nếu cứ thế này thì Mio… Cháu sẽ lạc mất. Sao không thể đi thêm cùng nhau, dù chỉ một đoạn đường nữa thôi?”

Trong giấc mơ, ông đã gọi bà về.

Liệu bố mẹ cô ở Tokyo có đang mơ như vậy?

*

Vào buổi sáng hai ông cháu về Tokyo, hơn 11 giờ thì xe của Taichi đến.

“Bữa trưa thầy định thế nào?” Vừa lái xe trên đường núi thoai thoải, Taichi vừa hỏi.

“Không cần chuẩn bị đâu,” ông đáp.

Taichi lo lắng nhìn ông ngồi trên ghế phụ.

“Sao thế ạ? Thầy không đói à? Hay để em mua cơm hộp ở ga nhé?”

“Grand Class mà.”

“Ồ, thế thì còn gì bằng!”

Lúc dừng chờ đèn đỏ, Taichi quay lại nhìn Mio.

“Thích nhỉ, Cừu. Bé Cừu. Cừu Non.”

“Cừu Non…?”

Taichi bật cười. Sau đó cả hai bắt đầu nói về cầu thủ Aoyama.

Aoyama hiện đang thi đấu ở châu Âu. Từ lúc khai mạc giải, anh đã thi đấu rất xuất sắc và được truyền thông đặc biệt để ý. Nghe Taichi và ông bàn luận sôi nổi, Mio đâm sợ không dám hỏi Grand Class là gì.

Tuy nhiên, khi đến ga Shinkansen, cô đã biết thì ra đó là tên của toa tàu.

Cánh cửa có dấu lục giác vàng bật mở. Đập vào mắt Mio là một tấm thảm đỏ. Trong ánh đèn vàng nhạt, dãy ghế hai chỗ ngồi rộng rãi màu kem cạnh cửa sổ bên phải và dãy một chỗ nằm bên trái cách nhau một lối đi.

Cả toa chỉ có mười tám ghế gồm sáu hàng, mỗi hàng ba ghế.

“Ông ơi, thế là thế nào! Sang trọng quá.”

Mio thả mình xuống chiếc ghế bọc vải trông giống như da thuộc. Cảm giác toàn thân lọt thỏm trong chiếc ghế khổng lồ mới dễ chịu làm sao.

“Dễ chịu quá ông ơi!”

“Ông cũng nghe bảo giống như ngồi máy bay.”

Cất hành lý vào ngăn chứa đồ phía trên ghế ngồi xong, ông ngồi xuống cạnh Mio. Nhân viên phục vụ đã mang khăn ấm tới. Ông xin thêm chăn và miếng bịt mắt.

“Cháu từng đi máy bay rồi, nhưng ghế không được thế này.”

Mio với tay lấy thực đơn trên ghế. Trong đó là thực đơn đồ uống và bữa ăn nhẹ.

“Ông ơi nhìn này. Có cả đồ ăn nhẹ, rồi đồ ăn vặt nữa. Gọi gì cũng được hả ông?”

“Cháu vui thế thì cũng bõ công chi.”

Ông nhận chăn từ nhân viên phục vụ.

“Cháu thích gì cứ gọi. Ông ngủ đã.”

“Ông ngủ á? Uổng quá.”

“Ông hơi mệt. Cháu ăn luôn phần của ông cũng được.”

“Làm sao cháu ăn nổi.”

“Ông không nghĩ thế đâu.”

Ông cười, chụp miếng bịt mắt rồi hạ lưng ghế.

Mio gọi phần ăn nhẹ cho một người nhưng bánh ngọt thì lấy hai phần, thêm một tách cà phê và một tách trà với tâm trạng thoải mái. Sau đó, cô cũng ngả lưng xuống ghế, nhìn ra ngoài một lúc. Lát sau, ông là người đánh thức cô dậy.

Shinkansen vừa đi qua Ueno. Vừa ra khỏi cửa soát vé ở ga Tokyo đã thấy bố chờ sẵn. Theo yêu cầu của ông, Mio phải gặp bố mẹ ở ga Tokyo và cùng ăn trưa tại một nhà hàng Trung Hoa ở Kanda.

Mio hỏi bố sao mẹ không tới thì được biết lúc trưa, bà ngoại gọi tới nói có người quen biếu ít thịt bò cao cấp, nên bà sẽ mang tới nhà để cùng làm sukiyaki. Vả lại, cũng lâu rồi bà chưa gặp ông nội nên muốn chào ông một tiếng.

Mio nghĩ chắc ông không thích thay đổi kế hoạch đột ngột như vậy nhưng ông lại đáp thế cũng hay.

“Tôi cũng định tranh thủ lúc ở đây tới xem nhà cửa anh chị thế nào. Có điều nhà anh ở tận Inagi. Về muộn thì hai ông cháu đều mệt.”

“Bố trọ ở Ueno phải không? Con sẽ lái xe đưa bố về tận nơi. Nhưng cả Mio cũng ở đó sao?”

“Vâng, con…”

Giọng bố có vẻ bực, khiến Mio không dám nói tiếp.

Ông bảo sẽ thuê hai phòng khách sạn. Nếu không thích ở nhà thì cứ đến ở với ông. Giả sử Mio không tới thì cũng có thể dùng vào việc khác.

“Ngày nào cũng phải đi từ sáng sớm nên tôi tiện thể đặt phòng cho Mio nữa.”

Ông trả lời thay Mio rồi đi trước.

“Hiroshi, xe của anh dưới hầm đúng không. Đi thôi.”

“Bố, việc gì phải vội thế chứ.”

Bố kéo va li, bước đi cạnh ông.

“Mio ở khách sạn thì mẹ thất vọng lắm đấy. Từ hôm qua mẹ đã hào hứng lau chùi chỗ nọ chỗ kia.”

Mẹ thường lau chùi nhà cửa mỗi khi tâm trạng không thoải mái. Vậy mà bố tưởng mẹ làm vậy là vui mừng khi thấy con gái về sao? Bố chẳng hiểu gì cả.

Mio cho tay vào túi váy, nắm chặt chú cừu bông. Cảm giác đó dần dần làm tan đi sự khó chịu trong cô.

*

Từ ga Tokyo đi chừng bốn mươi phút thì về đến nhà. Ngôi nhà dường như đã thay đổi đáng kể.

Những thùng các tông đựng các hộp màu cũ, sách, đồ ăn cùng vài món lặt vặt đã biến mất. Căn phòng nhỏ làm kho chứa đồ giờ là phòng của mẹ. Còn phòng ngủ của bố mẹ đã trở thành phòng làm việc của bố.

Căn bếp nơi mẹ hay nhờ Mio đứng phụ cũng thay đổi hẳn. Những chiếc đĩa và ly thủy tinh khuyến mãi đã được dọn sạch. Bộ đồ ăn trước đây dành cho khách đã trở thành đồ dùng hàng ngày. Các ngăn kéo của tủ bếp được phân chia gọn gàng, dụng cụ nấu ăn được sắp đặt lại thật ngăn nắp.

Mọi thứ trở nên đơn giản và đẹp đẽ hệt như Mio vừa đặt chân tới một ngôi nhà xa lạ. Bà ngoại hình như cũng thấy giống cô. Khi Mio cùng ông vừa bước tới bàn ăn thì ở phía bên kia, bà và mẹ cũng bắt đầu nói tới chuyện này.

“Sao lại thay đổi thế?” Bà hỏi.

“Con chỉ vứt hết những thứ không cần thiết đi thôi,” mẹ trả lời.

“Những thứ không cần thiết? Mẹ xin lỗi, nhưng mà…”

Bà nhìn ông, khẽ cúi đầu.

“Maki, con có kiệm lời quá không thế? Nói vậy khác nào trước giờ cả nhà sống giữa một đống bừa bộn.”

“Cũng có thể. Giờ con thoải mái lắm.”

Giọng mẹ nghe mà ớn lạnh. Sợ hãi, Mio cụp mắt xuống. Đập một quả trứng vào bát, Mio len lén quan sát bố. Ngồi ở chiều ngang bàn ăn, bố đang lặng lẽ đổ nước dùng vào nồi và nhúng thịt bò.

Bà nhìn quanh phòng.

“Có điều, con chẳng biết chọn thời điểm gì cả. Tội nghiệp Mio. Làm vậy sao con bé có cảm giác được về nhà? Đến mẹ còn giật cả mình. Đúng không, Hiroshi.”

Vừa trở mặt miếng thịt, bố vừa ngẩng đầu lên.

“Có phải thay đổi đột ngột đâu ạ. Maki dọn từng chút một mấy tháng nay mới được thế này.”

“Ồ, vậy sao? Mẹ không tới đây đã lâu thế rồi cơ à?”

Bố với lấy bát của bà.

“Thịt chín rồi. Để con gắp cho mẹ.”

“Gắp cho ông thông gia trước đi.”

“Bố. Để con gắp thịt cho.”

“Tôi tự gắp được.”

Ông cầm đũa và thìa, vớt thịt vào bát.

Nhận đôi đũa từ tay ông, Mio cũng gắp vài món cho mình. Vừa ăn, cô vừa lén nhìn chạn bát sau lưng bố. Trên đó là chiếc đĩa “Truyện kể ở vương quốc hoa hồng”. Chính giữa viền đĩa trang trí bằng quả mâm xôi là một cô chuột con đang khám phá bụi hoa hồng dại. Đó là hình ảnh minh họa cho câu chuyện “Khi quả hạch chín”.

Sau khi được ông tặng chiếc thìa sơn mài, gần đây Mio bắt đầu để mắt tới những bộ dao kéo và bát đĩa xinh đẹp. Muốn cầm chiếc đĩa lên xem thử, cô len lén nhìn mẹ.

Mẹ im lặng ăn. Đột nhiên, ánh mắt hai mẹ con chạm nhau, khóe mép mẹ khẽ nhếch lên. Hình như mẹ vừa cười. Mio bất giác đánh mắt sang chỗ khác.

“Sao thế?” Ông hỏi.

“Không có gì đâu ạ,” cô cuống quýt trả lời, gắp miếng thịt nhúng trứng đưa lên miệng.

Thịt đã mềm nhưng không hiểu sao, tiếng nhai vang trong đầu cô rõ mồn một. Sợ bị mẹ mắng ăn uống thô lỗ, Mio lại nhìn mẹ. Mẹ đang nhìn chằm chằm vào một điểm trong nồi.

Bà ngoại mỉm cười với ông, như thể không chịu nổi không khí yên lặng trên bàn ăn thêm được nữa.

“Xin lỗi ông, tôi thật vô ý quá. Chắc ông thích ăn món Trung hơn nhỉ?”

“Không sao,” ông nhẹ nhàng đáp lại.

“Đến ăn tối ở nhà lũ trẻ thế này cũng vui. Có điều, chắc tôi cũng có tuổi rồi. Nên gần đây không ăn uống được mấy.”

“Tôi cũng vậy.” Bà cười buồn. “Đúng là tuổi già ập tới lúc nào không hay. Gần đây tôi chẳng thiết đi ăn ngoài.”

“Tôi còn lo ăn uống với một ông già như thế không biết Mio có chịu nổi không. Cũng may con gái không ăn nhiều như con trai. Hồi bằng tuổi Mio, cả Hiroshi lẫn cháu họ tôi đều ăn như hạm.”

“Con ăn nhiều thế sao?”

Bố xen vào với vẻ nghi ngờ.

“Sau khi anh lên Tokyo, tôi đã phải mua nồi cơm nhỏ hơn. Nói chung, Hiroshi ăn cơm khỏe lắm.”

“Nhờ vậy mới rắn chắc vạm vỡ thế này.”

Bà vỗ nhẹ lên cánh tay bố. Mẹ thoáng cau mày nhưng nét mặt của bố không hề thay đổi.

“Nhân tiện, Mio ăn sáng thế nào? Con có dậy sớm không đấy?”

“Có,” Mio vội vàng đáp. Sau đó cô sửa lại ngay:

“Sáng nào con cũng dậy sớm ăn sáng với ông.”

“Hai ông cháu thường ăn gì?”

Bố bỏ bún shirataki vào nồi. Nguyên liệu trong nồi sôi lục bục, tiếng bong bóng nhè nhẹ vỡ.

“Bánh mì nướng ạ. Thường kèm mật ong hoa dẻ ngựa với vừng đen. Sau đó là uống cà phê au lait. Bằng một chiếc bát sơn mài rất đẹp.”

“Ồ, sành điệu quá,” bà tỏ ra ngạc nhiên.

“Có cả bát cà phê bằng sơn mài sao?”

Ông gác đũa, trả lời thay Mio:

“Một người quen đã dựa vào hình dáng chiếc bát cổ để làm nó giúp tôi. Tuy ban đầu là bát cháo nhưng có thể dùng đựng canh hay salad đều được. Thời nào cũng vậy, đồ thủ công truyền thống cần được thay đổi theo thời cuộc. Homespun cũng thế.”

“Chắc gia đình bên ấy cũng vất vả,” bà nói.

“Giờ ít người dùng đồ thủ công, thế hệ sau cũng không theo nghề nữa.”

“Có phải là hoàn toàn không có đâu mẹ,” mẹ xen vào.

“Lớp trẻ cũng theo nghề chứ. Xưởng Yamazaki có người tiếp quản rồi mà.”

“Hiện giờ có cháu họ tôi nối nghiệp, nhưng sau đó chẳng biết ra sao. Vì con ruột mình không chịu theo nghề nên phải nhờ cậy họ hàng. Quả tình…”

“Rau chín rồi đấy ạ,” bố sỗ sàng xen vào.

“Mời cả nhà. Ơ kìa Mio, sao lại bỏ hành ra thế?”

Đột nhiên bị chú ý, Mio khe khẽ đáp:

“Con không ăn được hành.”

“Vậy sao Mio? Đang vào mùa nên hành ngọt lắm.”

“Ngọt cháu cũng không ăn được…”

Bà gắp chỗ hành cô vừa bỏ ra vào bát mình, rồi ngay lập tức quay lại tiếp chuyện với ông:

“Giả dụ Mio theo nghề dệt homespun thì có tương lai không ông?”

“Rất may là chúng tôi đã kín đơn cho hai năm tới. Tuy nhiên, việc tiếp cận khách hàng mới đang gặp khó khăn. Thời nay người ta chuộng đồ rẻ và dễ dàng thay mới hơn những món bền đẹp, dùng được lâu dài nên thường chê homespun đắt. Thành thử, chúng tôi cũng đang phải loay hoay tìm đường phát triển. Thú thực là khá nan giản.”

“Vậy thì phải đi học rồi.”

“Mio nhỉ?” Bà hướng mắt nhìn Mio, khiến cô chỉ biết cúi gằm.

“Bà có biết chuyện hồi mùa hè mẹ đã tát cháu một cái. Bạo hành như thế là không được. Nhưng, Mio à, hãy thông cảm cho mẹ. Cháu đau thế nào thì trong lòng mẹ cháu cũng đau thế ấy.”

Đau vì bị tát với đau lòng, rốt cuộc bên nào đau hơn? Bà bảo mình phải thông cảm cho mẹ, nhưng phải thông cảm bằng cách nào đây?

“Đừng im lặng thế, Mio. Cháu phải nói lên ý kiến của mình. Cháu hiểu mà, đúng không? Nếu không, mọi chuyện sẽ cứ vậy mà bị cuốn đi. Giống như việc cháu bị lưu ban…”

“Nhưng…”

“Nhưng sao?” Bà nhẹ nhàng hỏi.

“Mẹ nói là mẹ ghét cháu.”

“Chuyện đó…” “Chuyện là thế này.” Mẹ và bà lên tiếng cùng lúc.

Bà nhoài người lên, nhấn giọng.

“Ý mẹ cháu chỉ là mẹ không thích điểm nào đó ở Mio thôi. Chứ mẹ không ghét bỏ cháu đâu. Vì yêu thương nên mẹ mới muốn cháu thay đổi.”

“Nhưng cháu không hề có ý ‘lấy nước mắt làm vũ khí’ như mẹ nói.”

Bà đặt đũa xuống, nhìn mẹ:

“Maki, những lời như thế mà con cũng nói với con gái mình được sao?”

Như thể Mio đang tố cáo mẹ với bà. Nhưng lời lẽ cứ thế tuôn ra, không sao ngăn lại được.

“Mẹ còn nói cháu chỉ làm mình làm mẩy để được ông và bố chiều theo. Cháu chẳng hiểu ý mẹ là gì.”

Mẹ buông đũa, cúi mặt như thể đang bị tấn công.

“Đúng là con đã quá lời.”

Bố ngừng tay lật thịt. Tiếng nồi nước dùng sôi lục bục. Bà lúng túng hết nhìn mẹ lại nhìn bố bằng ánh mắt khó hiểu.

“Quá lời ư… Ai đời lại nói câu đó với chính con gái mình cơ chứ. Chỉ vì con bé được bố và ông nuông chiều đôi chút…”

“Mẹ không hiểu được đâu.”

Mẹ hạ giọng, nhìn bà.

“Con chưa từng được bố chiều. Không chỉ bố, mà bất kỳ ai cũng vậy. Lúc nào con cũng được dạy phải mạnh mẽ lên, không được dựa dẫm vào đàn ông. Chẳng phải chính mẹ cũng dạy con như vậy sao?”

“Ý chị là việc chị nặng lời với Mio hoàn toàn là lỗi của tôi?”

“Thôi nào thôi nào. Cả mẹ và Maki nữa, hai người bình tĩnh lại đi.”

Bố gắp thêm thức ăn từ nồi lẩu vào bát cho ông.

“Có gì thì vừa ăn vừa nói. Thịt nhúng nãy giờ chín quá lại dai mất. Mọi người gắp đi. Mio. Để con gắp cho mẹ.”

Bố lại gắp tiếp cho bà, nhưng bà khẽ xua tay.

“Không cần đâu, Hiroshi. Đã vậy thì ai có ấm ức trong lòng cứ nói hết ra trước đã. Đầu tiên phải bàn về Mio. Tội nghiệp con bé. Vì anh chị cứ lần lữa mãi nên Mio mới bị lưu ban.”

“Con lại nghĩ rằng Mio đang đi du học.”

Mẹ lập tức đáp lại.

“Suốt mùa hè, con đều nghĩ vậy. Mio đang đi du học để học cách làm homespun. Tạm dừng việc học một năm cũng chẳng ảnh hưởng gì. Có gì mà đáng thương với cả tội nghiệp.”

Bà lấy một quả trứng mới, đập vào bát.

“Ôi, gió đã đổi chiều rồi. Lúc trước con ghét chuyện con bé bị lưu ban lắm cơ mà.”

“Con nghĩ lại rồi. Bọn con cũng đang cố tìm cách, nên xin mẹ đừng can thiệp nữa.”

Bà khuấy trứng. Tiếng đũa va vào thành bát lanh canh.

“Can thiệp…? Chị quá đáng rồi đấy.”

“Con rất biết ơn mẹ,” mẹ thì thầm.

“Nhưng mẹ làm ơn đừng ép con nữa. Đừng áp đặt suy nghĩ của mình lên con nữa.”

Giọng mẹ bỗng trở nên yếu ớt. Môi mím chặt, mẹ nhìn chằm chằm vào chiếc bát trước mặt.

“Chuyện của con, con sẽ tự nghĩ. Cả con và Mio. Bọn con đang tự nghĩ xem mình cần phải làm gì.”

Bà chậm rãi đưa miếng thịt lên miệng.

“Chị quá đáng lắm. Lúc con còn nhỏ, chăm còn mệt thì nhờ tới tôi. Giờ nó lớn rồi lại ra vẻ con của con để con tự nuôi tự dạy đấy hả.”

Ông sỗ sàng đổ cả bát trứng khuấy cùng miếng thịt lên bát cơm trắng.

“Đỡ đần các con, chăm cháu, trông cháu không phải trách nhiệm của người làm ông làm bà hay sao? Được con cháu trông cậy với tôi cũng là hạnh phúc. Xin lỗi nếu cách ăn của tôi không đúng phép tắc cho lắm.”

Ông bắt đầu đảo đều bát cơm trứng cùng mấy miếng thịt bò tạo thành một bát gyudon.

Mẹ tiếp tục nhìn chằm chằm chiếc bát với khuôn mặt vô cảm. Bà cúi mặt. Bố gắp thêm rau vào bát.

Chỉ vì mình, bầu không khí trở nên thật ngột ngạt. Mio muốn chạy trốn.

Hãy lựa chọn, hãy quyết tâm. Ông nói với cô như vậy. Nhưng làm sao cô “chọn” được.

Ông lại tiếp tục đổ trứng, thịt vào bát cơm.

“Nào nào mọi người, động đũa đi. Không muốn ăn cũng phải ăn cho no bụng cái đã. Để bụng đói chỉ tổ bực thêm.”

“Con nhớ ra rồi…”

Mẹ thì thào, như thể không nghe thấy lời ông nói.

“‘Truyện kể về vương quốc hoa hồng’ và ‘Biên niên sử Narnia’ đối với con chắc chắn cũng giống như homespun đối với Mio. Vậy mà con lại quên mất. Rằng mình từng say mê chúng đến nhường nào. Con đã để dành tiền để đến và ở lại Anh cả một mùa hè. Đó là một mùa hè tuyệt diệu. Mio chắc cũng vậy.”

Mẹ ngước nhìn chiếc đĩa trên chạn bát.

“Có những lúc, con mải mê đến độ chẳng tính trước tính sau hay nghĩ tới bất cứ chuyện gì khác. Biết là không thể nên con đã từ bỏ mơ ước làm việc tại Anh. Nhưng thi thoảng con lại nghĩ. Nếu lúc đó con không bỏ cuộc mà theo đuổi mơ ước đến cùng thì sẽ thế nào?”

“Dù thế nào cũng phải tốt nghiệp cấp ba hẵng tính. Trường của Mio là trường danh giá. Đâu phải ai cũng vào được đâu.”

Ông chậm rãi nhấp một ngụm trà rồi đặt cốc xuống bàn.

“Tôi xin lỗi vì xen ngang, nhưng trường danh giá cỡ nào cũng chẳng quan trọng. Liệu Mio có thể vui vẻ ở nơi có những người đã khiến con bé phải bỏ học không?”

“Nhưng Maki nói rằng chỉ là bọn trẻ đùa hơi quá, và giờ chúng đã biết lỗi rồi. Chỉ cần đôi bên mở lòng là được.”

Ông cười nhạt.

“Lịch sử nhân loại là lịch sử của những cuộc xung đột. Xung đột nảy sinh vì có những người dù có nói chuyện cũng không thể hiểu nổi đối phương. Những người như thế thì ta nên tránh. Cực chẳng đã không thể tránh được thì chỉ còn cách giữ khoảng cách nhất định với họ. Mio đã chọn cách rời xa bạn bè – tuy có phần miễn cưỡng. Nên tôi nghĩ giờ con bé không cần phải quay về ngôi trường đó nữa.”

“Nhưng cứ chạy trốn mãi cũng không ổn.” Bà đặt tay lên bàn, nhìn ông.

“Mỗi lần gặp khó khăn lại chạy trốn thì làm sao trưởng thành được. Thế mới có câu ‘Nghịch cảnh xuất nhân tài’.”

“Nhưng ‘Thuốc hết hạn cũng thành thuốc độc’. Chưa kịp thành nhân tài đã gục ngã rồi thì còn mất cả chì lẫn chài ấy chứ.”

“Mio sẽ không gục ngã!”

“Chuyện đó phải do chính Mio quyết định.”

“Mio, nói gì đi. Đừng im lặng thế. Mọi người đang bàn về cháu đấy.”

Ông lắc đầu.

“Mio im lặng đâu có nghĩa là con bé đang không nghĩ gì? Đúng không, Hiroshi?”

“Vâng. Mọi người đang tranh luận như vậy muốn xen vào cũng khó.”

“Con…” Mio mở lời. Lập tức mọi ánh mắt đều dồn vào cô.

“Về chuyện lưu ban… Con cũng không biết làm gì hơn. Có điều, con vẫn chưa quyết được rằng sẽ bỏ học hay chuyển trường. Con không biết phải làm thế nào. Con không thể chọn… Con không thể.”

Ông vỗ lưng Mio hai cái.

“Đừng tự ép mình. ‘Không lựa chọn ngay’ cũng là một lựa chọn.”

Mẹ đứng dậy, rót nước nóng vào bình, sau đó im lặng rót thêm vào cốc cho ông bà.

“Mio thì sao? Con uống thêm nước trái cây nhé?”

“Con uống trà…”

Mẹ tiếp tục pha trà rồi đặt cốc xuống trước mặt từng người. Bố tắt chảo nướng. Mấy miếng thịt không ai buồn động tới cháy đen trên chảo.

Ông đặt cốc trà xuống, nhìn bà chằm chằm.

“Hãy bình tĩnh lại với nhau. Tôi thấy ai cũng hơi quá lên rồi đấy… Nhìn mắt hai người kìa, không khác gì Mio.”

Giọng ông ôn tồn, khiến bà cũng nhẹ giọng lại.

“Đầu Mio có hai xoáy, giống hệt ông ngoại.”

Chưa từng để ý tới xoáy tóc của mình, Mio bất giác đặt tay lên đầu.

“Giá mà có thể cho mọi người thấy. Chúng tôi ly hôn năm Maki lên tám, và ông ấy mất khi nó lên mười.”

Mio biết chuyện ông ngoại mất hồi mẹ còn bé nhưng không biết rằng trước đó, ông bà đã ly hôn. Bờ vai thõng xuống, mẹ nhìn chằm chằm vào cốc nước nóng.

Ông quay sang nhìn bố.

“Giọng Mio thì giống hệt bà nội. Đến mức mọi người trong xưởng ai cũng phải ngạc nhiên.”

“Mio,” ông gọi. “Khi cháu cười là bà nội đang cười. Khi cháu khóc là đôi mắt của bà ngoại đang khóc. Khi học nhuộm học dệt, cái đầu cúi gằm, gật gật gù gù lại giống hệt ông. Nếu cháu hạnh phúc, tất cả chúng ta sẽ hạnh phúc. Phải vậy không?”

“Đúng đấy.”

Bà hùng hồn đáp. Mẹ lặng lẽ gật đầu.

“Vì vậy,” giọng ông vang vọng. “Cháu đừng sợ hãi. Hãy tự chọn cuộc sống của chính mình. Dù còn bất đồng ý kiến ít nhiều nhưng tất cả đều sẽ đứng về phía cháu.”

“Phải không?” Ông lại hỏi. Bà đưa khăn mùi soa chấm nước mắt.

“Vâng… Đương nhiên rồi.”

“Maki và Hiroshi cũng vậy phải không?”

Bố mẹ Mio nhìn nhau gật đầu. Ông lại khẽ vỗ lưng cô.

“Vậy đấy, Mio. Cứ vừa dệt vừa nghĩ. Làm xong một việc ắt sẽ tìm ra mục tiêu mới.”

Bầu không khí trở nên nhẹ nhàng hẳn. “Giờ thì…” Giọng ông như đang tiếp khách. “Tráng miệng chứ nhỉ? Tôi có mang theo chút quà mọn. Mong là sẽ vừa miệng mọi người. Chắc chắn Maki sẽ thích.”

Mẹ khẽ nhoẻn cười. Thấy vậy, Mio đâm ra bối rối. Bố bắt đầu dọn dẹp bàn ăn trong im lặng.

Ông đã chuẩn bị bánh quy mua ở nông trại Koiwai để làm quà cho chuyến lên Tokyo. Hôm qua mới sực nhớ ra nên đã mua thêm hạt cà phê và loại bánh kẹo truyền thống tên là “ouseiame” nữa. Mai bà có việc phải đi sớm nên đã gói một ít mang về. Lạ thay, lần này bố cũng lái xe đưa bà ra ga.

Khi hai người đi khỏi, ông và mẹ ngồi bên bàn ăn trò chuyện.

“Nếu đã thích Turkish Delight thì chắc chắn sẽ thích ouseiame,” ông nói. “Mặc dù tên là ‘ame (kẹo)’ nhưng kết cấu của món này lại giống kyuhi với vị ngọt đậm đà từ một loại thuốc bắc tên là hoàng tinh.”

Mio im lặng uống trà, nghe hai người nói chuyện.

Trên tủ bếp có một hộp bánh sừng bò phủ sô cô la – loại bánh cô yêu thích khi còn ở Tokyo. Sau một thời gian trở về, phòng Mio đã được dọn dẹp sạch sẽ. Một bộ đồ ngủ màu xanh nhạt gấp gọn gàng đặt trên giường. Cô nhìn lên bàn. Trên đó là một bình nước màu nâu cũ kỹ.

Chiếc bình tròn xoe, mũm mĩm có hình dạng giống hệt bình nước trong “Biên niên sử Narnia” – điều mà bốn tháng trước cô không hề biết.

Tối nào Mio cũng đọc cuốn “Những câu chuyện ngon lành từ nước Anh” mẹ gửi cho.

Uống trà xong, ông đứng dậy đi vào nhà vệ sinh. Thật khó xử khi chỉ còn hai mẹ con với nhau.

“Con uống nữa không?”

Mẹ nhấc bình trà lên.

“Không. Con chỉ muốn nhìn nó một chút thôi.”

Mẹ đặt nó về chỗ cũ.

“Mẹ này. Đây là bình trà giống trong ‘Biên niên sử Narnia’ đúng không? Tranh minh họa ngôi nhà của ông bà Beaver…”

Mẹ ngạc nhiên.

“Con đọc rồi à? Chiếc bánh thế nào?”

“À… Vâng, ngon ạ.”

Mio lẩm bẩm, nhớ lại chiếc bánh mình đã vứt đi mà chưa kịp ăn một miếng.

Ông đã quay lại, liếc nhìn đồng hồ đeo tay.

“Đợi Hiroshi quay lại thì tôi cũng về.”

Ông xúc động nhìn bức tường sau lưng Mio:

“Đáng yêu thật đấy.”

Mio nhìn theo ông, phát hiện ra một khung tranh treo cạnh điện thoại.

Trong khung là một tấm vải lót bình hoa màu hồng và một lá cỏ bốn lá trang trí trên nền giấy xanh nhạt. Bốn góc xung quanh đính tua rua làm từ những sợi len lần đầu tiên trong đời tự tay cô xe được.

“Trời đất, gì thế này. Xấu hổ quá…”

“Ông gửi cho mẹ đấy.”

Mio đã tặng mấy tấm lót bình hoa – tác phẩm đầu tay của mình cho ông. Lúc đó, ông đã xin thêm vài sợi len nữa nên cô cũng đưa luôn. Không ngờ lại bắt gặp chúng ở đây.

“Ông ơi. Mấy món xấu xí này ông đừng đem cho lung tung chứ. Cả mẹ nữa, đừng trang trí lên như thế. Xấu hổ chết đi được.”

“Làm gì đến nỗi. Ông thấy đẹp là đằng khác.”

Ông nghiêm mặt. Dường như sực nhớ ra điều gì, mẹ chạy vào phòng, mang ra hai khung ảnh.

“Nếu được thì bố giữ một cái làm kỉ niệm. Cả Mio nữa. Con tặng một cái cho mẹ con rồi.”

Khung tranh trên tay mẹ ngoài miếng lót bình hoa và một lá cỏ bốn lá còn được trang trí thêm bằng một bức ảnh chụp chú cừu Mei số 6.

“Mẹ đừng phân phát lung tung đấy.”

Không ngờ mẹ lại làm ra mấy khung hình dễ thương như vậy. Hơn nữa, hóa ra mẹ cũng thường xuyên xem facebook của xưởng Yamazaki.

Thấy Mio vuốt lá cỏ qua lớp kính, ông bật cười. Có tiếng mở cửa trước, rồi bố bước vào.

“Ơ, bố chuẩn bị về luôn à?”

“Xin lỗi, nhờ anh đưa tôi về được không? Tôi thấy buồn ngủ rồi.”

Ông cẩn thận gói khung ảnh vào tấm khăn furoshiki rồi cất vào cặp.

“Còn Mio? Có đi cùng ông không?”

Mio nhìn chiếc khung ảnh cạnh điện thoại. Mỗi chiếc đều có một nhành cỏ bốn lá.

Mẹ đã phải bỏ bao nhiêu công sức để tìm được chừng ấy nhánh cỏ về trang trí những khung ảnh này?

“Cháu… hôm nay… cháu sẽ ở nhà.”

Ông đội chiếc mũ kẹp ở nách lên đầu.

“Vậy thì hẹn cháu 8 giờ sáng mai ở cửa soát vé ga Ueno. Cửa ra công viên nhé. Nếu không đến kịp thì gọi báo trước cho ông.”

“Nhất định cháu sẽ đến.”

“Được rồi, ông chờ đấy.”

Nói rồi ông cùng bố bước ra cửa. Mẹ con Mio định tiễn hai người xuống bãi đỗ xe thì ông ngăn lại:

“Cũng muộn rồi. Hai mẹ con ở nhà đi. Mai gặp cháu nhé, Mio.”

Bố đưa ông đi một chút rồi về, bố nói rồi cùng ông bước ra ngoài. Đóng cửa xong, mẹ trở vào phòng.

“Dọn dẹp nào. Con giúp mẹ rửa bát nhé?”

“Vâng,” Mio vừa đáp vừa nhìn khung ảnh đặt cạnh điện thoại.

Càng nhìn càng thấy sợi chỉ xù xì, đầu to đầu nhỏ. Vậy mà ông vẫn giữ gìn nó cẩn thận, dùng nó để kết nối cô với bà và mẹ.

“Mẹ ơi… con xin lỗi.”

Mio xỏ giày, lao ra khỏi nhà. Ông và bố vừa vào thang máy đi xuống dưới. Cô vội vàng theo thang bộ, chạy xuống tầng một. Cánh cửa bãi đỗ xe vừa mở ra, Mio đã nghe thấy tiếng nổ máy. Ông đang chuẩn bị ngồi lên ghế phụ.

“Ông ơi!”

Cô hét lớn, nghe tiếng mình vọng lại.

“Ông ơi, chờ cháu với!”

Ông quay lại. Mio đã chạy tới bên cạnh. Ngừng chân, cô thở dốc, chống tay vào đầu gối.

“Ông ơi… Cháu xin lỗi. Cháu xin lỗi… vì ông đã đặt cả phòng cho cháu…”

Mio nghe giọng ông nhẹ nhàng vọng xuống:

“Cháu vừa chạy đấy à?”

“Tại vì… tại vì…”

Ông đặt tay lên đầu cô. Bàn tay to lớn và ấm áp. Vậy mà chẳng hiểu sao cô lại muốn khóc.

“Không sao hết, Mio. Chào cháu.”

Mio ngước mặt lên. Ông đang cười.

“Vậy cũng tốt mà.”

Lúc bố leo lên xe sau khi nói chuyện xong với Mio thì Maki cũng xuống tới nhà xe.

Nhìn gương chiếu hậu, Hiroshi thấy hai mẹ con đứng song song. Không hiểu sao chỉ có vậy mà anh lại thấy nhẹ nhõm vô cùng.

Xe vừa ra phố, bố liền châm thuốc.

“Bố ngả ghế ra ngồi cho thoải mái. Chắc bố cũng mệt rồi.”

“Không đến mức ấy đâu. Lần này ông cháu tôi vung tay đi hẳn ghế hạng sang. Mio thích lắm.”

“Cũng phải. Tuyến Yamabiko mà.”

“Lâu lâu mới có dịp nên cũng mong giá được ngồi thêm một chút…”

Cùng là shinkansen nhưng nếu đi bằng chuyến Hayabusa từ Morioka tới Tokyo sẽ mất hai tiếng rưỡi. Đằng này, ông cụ lại chọn tuyến Yamabiko nên mất hơn ba tiếng. Với một người làm gì cũng tất tả như ông quả là chuyện hiếm.

“Chưa gì đã nhớ nhà rồi,” ông lẩm bẩm.

“Ngày xưa Yamabiko cũng là tên chuyến tàu tốc hành Morioka – Ueno đấy. Đây có lẽ là lần cuối cùng tôi lên Tokyo. Vì vậy, tôi chọn đi bằng Yamabiko.”

Bố đừng nói chuyện buồn thế chứ. Toan nói vậy nhưng kết cục, Hiroshi lại im lặng.

Lúc gặp ở ga Tokyo, nhìn ông đã gầy yếu, chậm chạp hơn hồi mùa hè khá rõ.

“Bố thấy trong người thế nào?”

“Tôi đã chuẩn bị sẵn tinh thần rồi. Có điều, dù thế nào cũng phải giữ cho cái đầu này thật tỉnh táo tới khi Mio quyết định được tương lai của nó.”

Ông thở dài, phả một hơi thuốc.

“Bà thông gia vẫn khỏe mạnh nhỉ.”

“Con xin lỗi. Mẹ Maki không phải người xấu, chỉ hay áp đặt thôi.”

“Tôi thấy bà ấy cũng biết ý đấy chứ. Dù chắc còn nhiều điều muốn nói nhưng hiểu ý tôi nên đã im lặng. Thật ra, chắc còn muốn tranh luận cả chuyện khác nữa.”

“Thế hệ bố mẹ thích tranh luận nhỉ.”

Bố khẽ cười, dụi điếu thuốc trên tay.

Khi hai người đến gần cầu Inagi, đường càng lúc càng nhiều ô tô. Trên cầu thì sáng nhưng dưới lòng sông đâu đâu cũng tối đen.

Vừa đóng cửa xe, ông cụ vừa hỏi:

“Chuyện ly hôn sao rồi?”

“Không có tiến triển gì cả. Vẫn như bữa nọ con nói, đợi Mio quyết định tương lai xong đã.”

“Bà thông gia có biết không?”

“Con cũng không rõ.”

“Không biết chuyện này có ích gì cho anh không…” Bố hơi ngả ghế xe.

“Nếu phụ nữ thực sự muốn chia tay, họ thường âm thầm chuẩn bị sẵn sàng rồi đưa ra tối hậu thư khi thấy đã đến thời điểm thích hợp. Còn khi họ nói chia tay mà không chìa đơn ly hôn ra trước mặt anh tức là họ vẫn còn tình cảm. Vẫn còn cứu vãn được.”

Nhưng “tối hậu thư” lại do Hiroshi đưa ra trước.

Từ hôm đó, hầu như vợ chồng anh không nói chuyện với nhau, dù chỉ là mấy chuyện tầm phào. Maki thậm chí còn không mở cửa mời anh vào phòng.

Hiroshi đã thử tìm trên mạng. Hoa hồng đỏ nghĩa là “Anh yêu em”. Tặng duy nhất một bông hồng đỏ nghĩa là “Anh chỉ có mình em.”

Nói cách khác, tặng một bông hồng đỏ là cách tốt nhất để làm lành. Vậy mà anh lại tặng nó cho Maki cùng một tờ đơn ly hôn.

“Bố này…”

“Sao?”

“Con…”

Những lời anh muốn nói… là lời của một thằng bạc nhược.

“… chỉ là thằng bỏ đi.”

Im lặng một hồi, ông chắc nịch:

“Không đâu.”

“Vậy sao.”

“Lên Tokyo một mình, mua nhà, có một cô con gái… Anh làm tốt lắm.”

Sống mũi cay cay, Hiroshi khụt khịt.

“Nhưng mà… Sống nửa đời người, thi thoảng con vẫn nghệt ra tự hỏi. Đời mình chẳng làm được gì ngoài trả nợ tiền vay mua nhà và nuôi dạy một đứa con thôi sao? Có thế thôi cũng không xong… Cố gắng đến thế rồi mà kết cục, cả công việc lẫn gia đình đều chẳng đâu vào đâu.”

“Kể cả như vậy thì anh vẫn là một người thành đạt. Làm gì có chuyện bỏ đi.”

Cửa xe hé mở, bên trong sáng lóe lên trong tích tắc. Trong bóng tối, bố đang hút thuốc. Hình như đây là lần đầu tiên anh được bố khen. Hiroshi thấy khóe mắt ầng ậng nước.

Cố lấy giọng vui vẻ xua đi những chán nản lẫn cảm thương.

“Mio… Giọng Mio giống mẹ đến thế cơ ạ?”

“Giống,” ông trầm ngâm hít một hơi thuốc rồi đáp.

“Lần đầu tiên con bé tìm đến, tôi đã kinh ngạc vô cùng. Nếu chỉ nghe giọng thì giống hệt Kayo. Cách nói cũng hao hao bà ấy hồi trẻ. Nhưng giống hơn cả là sự khéo léo của Mio.”

“Con bé có hợp với nghề không?”

“Hợp hơn anh là cái chắc.”

Hồi nhỏ, Hiroshi thường phụ việc trong xưởng, nhưng cố mãi vẫn chẳng khá lên được. Vì vậy nói là anh không có khả năng tiếp quản công việc thì đúng hơn.

“Lúc con bé chán nản vì kéo sợi không đẹp, tôi còn định đưa cho nó cuộn sợi anh kéo đấy.”

“Bố còn giữ cơ á?”

“Còn chứ,” ông khúc khích cười.

“Không bố mẹ nào có thể vứt bỏ những gì con cái họ làm ra.”

“Nhưng bố cũng đừng cho ai thấy. Xấu hổ chết đi được.”

Ông lại cười, dụi tắt điếu thuốc lá.

Sau khi qua trạm thu phí Eifuku, xe tiến vào trung tâm thành phố. Bố chăm chú nhìn những tòa nhà nằm dọc theo đường trên cao.

“Bố, kế hoạch ngày mai của bố là gì?”

Ông cho anh xem tên một người thợ may đã giữ mối quan hệ bấy lâu. Ngày mai ông sẽ giao hàng cho ông ta.

“Vải thôi mà sao nặng thế?”

“Cả đá nữa. Tôi tính nhượng cho ông ta bộ sưu tập khoáng vật xuất hiện trong tác phẩm của Miyazawa Kenji.”

“Trước giờ con vẫn tự hỏi, bố thích Kenji nên sưu tập đá? Hay vì thích đá nên đọc Kenji?”

“Đương nhiên là cả hai rồi.”

Iwate là nơi chứa nhiều mỏ đá quý như hổ phách và thạch anh. Không chỉ nhìn ngắm, bố còn thích đi tìm chúng. Từ hồi bé tí, Hiroshi đã thường xuyên được bố dẫn đi khắp nơi.

“Chúng ta cần chúng,” ông nói với vẻ ngượng ngùng.

“Lông cừu và vải luôn mềm mại. Nếu ngày nào cũng phải chạm vào chúng, tay anh sẽ muốn chạm vào những thứ đối nghịch, những thứ lạnh và cứng – đó chính là đá. Lúc tôi nhắc tới chuyện dùng đá để luyện cảm giác cho các đầu ngón tay, ông bạn kia tỏ ra rất hào hứng…”

“Bố chỉ giỏi bao biện. Hồi xưa có lần bố mua một viên hồng ngọc thô đắt đến mức bị mẹ cằn nhằn mãi còn gì. Mẹ bảo, thà ông mua nhẫn còn hơn, đằng này lại là đá thô.”

“Vớ vẩn. Mua nhẫn đắt hơn mua đá là cái chắc.”

“Thôi đành vậy,” ông cười.

“Tôi sẽ tặng anh một viên quý nhất tôi cất giữ lâu nay. Tôi được một người cực kỳ đặc biệt tặng cho. Riêng cái này anh đừng bỏ qua. Tôi cất nó trong tủ đồ ở Natayacho.”

“Không, con không thích đá thô. Nếu để luyện cảm giác cho đầu ngón tay thì bố đưa cho Mio ấy.”

“Mỗi người mỗi khác. Với tôi là đá, Yuko là thủy tinh, còn mẹ anh là những quả cầu temari bằng dạ. Mio là gì nhỉ? Có vẻ con bé thích đồ sơn mài.”

Trong màn đêm đen thẫm, tôi nhìn thấy mấy tòa nhà chọc trời với ánh sáng chói lọi không khác nào ánh sơn mài. Ánh sáng đó lan tỏa khắp Tokyo, khiến các vì sao trở nên mờ ảo.

“Đẹp thật,” ông lẩm bẩm.

“Một dòng sông lấp lánh ánh đá hoàng ngọc, hồng ngọc và hai bên bờ trải đầy thạch anh.”

“Chuyến tàu đêm trên dải ngân hà”.

Hồi bé, đêm nào mẹ cũng đọc cho anh một đoạn trước khi đi ngủ. Không biết có phải vì xuất thân ở Hanamaki hay không mà hầu hết sách mẹ chọn đều là của Miyazawa Kenji. Trong đó, hai cuốn Hiroshi thích nhất là “Chuyến tàu đêm trên dải ngân hà” và “Ngày mồng 4 tháng hoa thủy tiên”.

“Hạnh phúc đích thực rốt cuộc là gì?”

Bố lẩm bẩm một câu trong “Chuyến tàu đêm trên dải ngân hà”, đẩy ghế ngả sâu thêm một chút.

“Con còn nhớ câu đó. Câu sau là ‘Hãy cùng nhau đi tới bất cứ đâu’.”

“Vẫn chưa thuộc bài nhé.”

Ông cười thích thú.

“Là ‘Hãy cùng nhau đi tới bất cứ đâu. Bất cứ đâu!’ Câu đó xuất hiện lúc nhân vật chính thể hiện quyết tâm của mình, nên phải nhấn mạnh hai lần cho sâu sắc.”

“Con không nhớ mấy chi tiết đó.”

Rời khỏi đường cao tốc, Hiroshi chạy thêm một lúc. Ga Ueno đã rất gần.

Bố chỉ con đường trước nhà ga.

“Hiroshi, dừng ở kia đi.”

“Để con đưa bố về tận khách sạn.”

“Tôi muốn đi dạo một chút. Anh mang hành lý về khách sạn trước đi, gửi ở quầy lễ tân ấy.”

Ông tháo dây an toàn, với lấy chiếc túi dưới chân.

“Nếu anh không đi xe thì tôi chỉ cho một quán hay lắm, ở dưới gầm cầu.”

“Chắc bố sẽ ở đây mấy hôm. Trước khi về nhất định phải đi uống một chầu.”

“Được. Vậy để tôi kiểm tra trước xem chỗ đó còn mở cửa không.”

Ông cười hết cỡ, bước ra khỏi xe.

“Hiroshi, anh về đi. Giữ sức khỏe nhé.”

“Vâng, hẹn gặp bố sau.”

“Ừ,” ông cười, tay vẫy vẫy rồi hòa vào đám đông.

Hiroshi cũng khẽ vẫy tay đáp lại rồi nổ máy đi. Nơi ông vừa ngồi còn phảng phất mùi đinh hương.

Sáng hôm sau, Mio rời khỏi nhà lúc 7 giờ kém, lên tàu đến Ueno. Hai tiếng sau, Mio gọi cho anh. Để thông báo rằng mình đang ngồi trong xe cấp cứu.

« Lùi
Tiến »