Nhà giáo, theo cách hiểu thông thường, là người làm nghề dạy học. Và "dạy" ở đây có nghĩa là giúp cho người ta học. Nhưng trên thực tế, tùy theo "sự dạy" của mỗi người thầy mà xã hội sẽ có những cách nhìn nhận khác nhau về chân dung của họ. Ta có thể tạm khái quát và chia thành năm nhóm sau đây:
Nhóm thứ nhất là " thầy bình thường ", tức là những người thầy dạy theo cách nếu họ biết được những gì trong lĩnh vực của mình thì sẽ chia sẻ cái biết đó cho học trò của mình. Cách dạy này không có gì đáng để chê trách, vì nó giúp học sinh biết thêm những thông tin, kiến thức mới. Chỉ có điều, khi thầy "cạn vốn" để chia sẻ thì học sinh rất dễ rơi vào tình trạng bị động, lúng túng vì không biết phải tìm kiếm tri thức ở đâu, bằng cách nào; và khi kiến thức của họ bị lỗi thời thì học sinh cũng không biết làm sao để cập nhật nó.
Nhóm thứ hai là " thầy giỏi ". Khác với "thầy bình thường", cái mà "thầy giỏi" truyền dạy cho học trò không chỉ là kiến thức mà còn là phương pháp học, nói nôm na là "cho cần câu, chứ không chỉ cho con cá". Một khi học sinh đã nắm được phương pháp học (học được cách học) thì ngay cả khi những điều mà các em được dạy không còn phù hợp nữa trong tương lai, các em vẫn dễ dàng tìm được cách để giáo dục tự thân, tự học thêm, tự cập nhật để mình không chỉ luôn mới, mà còn luôn là người tiên phong.
Để dễ hình dung, hãy tưởng tượng bạn là nhân vật chính trong một... bộ truyện kiếm hiệp chẳng hạn. Một ngày nọ bạn gặp nạn và bị đẩy xuống vực sâu hay rơi vào một chốn thâm sơn cùng cốc nào đó. Nhưng trong cái rủi có cái may, tại đó bạn tình cờ gặp được một mối duyên kỳ ngộ, một cơ hội lớn để thay đổi bản thân mình. (Những ai thường đọc thể loại kiếm hiệp hẳn không xa lạ một kịch bản quen thuộc này!). Đó có thể là một cuốn sách ghi lại những bí kíp võ học độc đáo của một cao nhân nào đó để lại. Đó cũng có thể là một cao thủ võ lâm bậc nhất đã quy ẩn lâu nay nhưng quyết định nhận bạn làm đệ tử và truyền lại cho bạn toàn bộ tinh hoa võ học và võ đạo, cũng như các phương pháp luyện công, luyện chưởng mà ông đã tu luyện và đúc kết trong cả đời mình.
Hẳn đến đây bạn đã phần nào hình dung được, một cuốn sách dạy võ bình thường cũng giống như là "thầy bình thường". Bạn có thể học được từ đó 100 chiêu thức để đối phó với 100 tình huống khác nhau, nhưng khi tình huống thứ 101 xuất hiện, bạn sẽ chẳng biết phải làm sao vì... trong sách không có chỉ. Trái lại, vị chân nhân kia có thể chẳng chỉ cho bạn một "chiêu" nào cả, nhưng với những triết lý về võ học, võ đạo mà vị ấy truyền dạy, bạn sẽ tự mình biết cách nên làm gì trong tình huống thứ 101 này. Đó chính là điều "thầy bình thường" không biết hay không làm, nhưng "thầy giỏi" có thể làm được!
Nhóm thứ ba là " thầy lớn ". Điều lớn nhất mà những người thầy này mang lại cho học trò của mình không chỉ là kiến thức hay phương pháp học, mà còn là động cơ học và lòng hiếu tri (niềm khát khao tri thức và sự hiểu biết; "hiếu tri", chứ không "hiếu điểm" hay "hiếu bằng"). Nói cách khác, họ không chỉ cho học trò của mình con cá hay cần câu, mà quan trọng hơn là cho động cơ đi câu. Bởi nếu một người không hứng thú với việc đi câu thì dù có ấn vào tay anh ta chiếc cần câu xịn nhất thì người đó cũng chỉ ngồi ỳ một chỗ. Ngược lại, một khi đã thích đi câu thì cho dù không được ai cho cái cần câu nào, anh ta cũng sẽ tự mình đi nhặt từng cái que, từng cọng dây để chế ra nó và đi câu.
Cách tốt nhất để giúp người học có động học một điều gì đó, đó là giúp họ hiểu rõ (1) " Tại sao phải học cái đó ?" và (2) " Học cái đó để làm gì ?". Và để trả lời được câu hỏi (1) này thì cách tốt nhất là giúp người học nhận chân ra con người của mình, nhận chân ra mức độ hiểu biết, sự dốt nát hay sự ngộ nhận của mình về cái đó; để trả lời được câu hỏi (2) thì cách tốt nhất là giúp người học hiểu được ích lợi của việc học cái đó, cũng như sự tai hại, thiệt thòi nếu như không học cái đó. Sau khi giúp người học trả lời thỏa đáng hai câu hỏi này thì phần còn lại chỉ là nội dung học và phương pháp học.
Có một đứa cháu họ của tôi bình thường rất ghét học các môn xã hội, nhất là môn sử. Theo cách nói của cháu thì đó là môn học "chẳng được tích sự gì" và quá ngán ngẩm khi phải học nó để trả bài và thi hết môn. Nhưng một ngày nọ, bỗng dưng tôi thấy cháu cầm một cuốn sách tóm tắt về lịch sử Việt Nam mà tác giả là một nhà sử học đang sống ở nước ngoài. Tò mò, tôi mới hỏi chuyện thì cháu nói rằng một hôm nọ, cháu tình cờ đọc được một bài viết của tác giả này trên mạng và nhanh chóng bị cuốn hút. Đó là một bài viết về các đời vua của Việt Nam, nhưng nó rất giản dị, truyền cảm hứng, hoàn toàn khác với những bài học lịch sử khô cứng mà cháu vẫn thường hay học trên lớp. Đọc xong bài viết đó, cháu bỗng nhận ra đây mới đúng là sử và thấy thôi thúc phải đọc, phải hiểu nhiều hơn về quá khứ của dân tộc mình. Nghe đến đó, tôi trộm nghĩ rằng tác giả đó quả thật là một người thầy lớn, ít nhất là ở khía cạnh mà ông muốn chia sẻ trong môn lịch sử. Bởi, ở một mức độ nào đó, ông đã truyền được cho đứa cháu của tôi niềm say mê học lịch sử, cho dù ông chưa hề đứng lớp dạy cháu một ngày nào. Động cơ học quả thật là thứ quan trọng nhất, bởi nếu không có nó thì cho dù được truyền lại phương pháp học từ một vị thầy giỏi, ta cũng sẽ chẳng học được gì mấy!
Nhóm thứ tư là " thầy khai minh "/ "thầy khai phong". Thầy khai minh" cũng giống với "thầy lớn” ở khả năng có thể thắp lên và truyền đi niềm khát khao tri thức cho người học. Tuy nhiên, nếu như "thầy lớn" làm điều đó trong phạm vi một lớp học thì "thầy khai minh" có thể làm điều đó trong phạm vi toàn xã hội, khiến cả xã hội thức tỉnh và say mê tìm kiếm tri thức để khai sáng cho bản thân mình, giải phóng con người mình ra khỏi sự vô minh, giáo điều, ấu trĩ.
Từng có một người thầy như thế xuất hiện trong lịch sử nước Nhật, vào thế kỷ 19. Ông là Fukuzawa Yukichi - người được xem là "Voltaire của nước Nhật", là một người thầy vĩ đại của nước Nhật hiện đại. Ông cũng là tác giả cuốn sách Khuyến học với tuyên ngôn nổi tiếng: " Trời không sinh ra người đứng trên người, trời cũng không sinh ra người đứng dưới người. Tất cả đều do sự học mà ra ". Ông đã phê phán mạnh mẽ lối giáo dục cổ hủ, làm cho người dân Nhật Bản thời kỳ ấy nhận ra sự u mê, tăm tối của mình và không ngừng "thực học" để khai phóng bản thân, đồng thời góp phần đưa đất nước bắt kịp và đua tranh với các quốc gia hùng mạnh và văn minh nhất.
Đôi khi, những người "thầy lớn" hay "thầy khai minh" mang đến cho chúng ta một cảm giác... khó chịu, thậm chí cảm thấy "đau". Khó chịu, bởi chúng ta cứ tưởng rằng mình đã biết rất nhiều, tưởng là không cần học nữa nhưng người thầy ấy lại khiến chúng ta nhận ra sự tăm tối của mình, vỡ òa và nhận chân ra con người thật của mình. Cảm giác ấy không dễ chịu chút nào, nhiều khi nó còn làm ta tổn thương, nhưng đó chính là bản chất của giáo dục khai phóng.
Như nhà văn, nhà văn hóa Nguyên Ngọc từng nói: "Giáo dục làm cho con người bị tổn thương. Vì sao? Vì việc đem lại tri thức làm cho con người thấy hoá ra còn bao nhiêu cái mình chưa biết, càng học càng thấy cái mình biết, cái mới vừa được biết thêm càng vô cùng nhỏ bé trước cái chưa biết, không biết còn lại mênh mông, vô tận. Cảm giác tổn thương đó là một cảm giác lành mạnh. Nó khiến con người thiết tha đi tới trên đường tự khai phóng".
Và nhóm cuối cùng, là những người tuy mang danh "thầy" nhưng thực chất chỉ là "thợ dạy". Họ là những người dạy như một cái máy, chỉ biết tự động lặp đi lặp lại một bài giảng được lập trình sẵn mà không cần biết nó có mang lợi ích gì cho học trò hay không, cũng như không cần để tâm xem học trò có hiểu, có tiếp thu được hay không. Có đôi khi, chính họ cũng chẳng hiểu lắm về điều mình đang dạy nhưng vẫn cứ thế sao chép, lặp lại và truyền đi. Nói dí dỏm là họ dạy học... bằng lưỡi, chứ không phải bằng cái đầu hay trái tim.
Bên cạnh đó, tôi cũng thường nói vui rằng có thể phân chia những người được gọi là "nhà giáo" thành hai "môn phái" là: "chính giáo" và "tà giáo". Những người thầy theo "chính giáo" là những người hiểu được sứ mệnh của mình là truyền bá "lương giáo" (lương tri và đạo lý) và "khoa giáo" (khoa học và nghệ thuật). Họ hiểu và tôn trọng quyền được làm ra chính mình của học trò, giúp học trò trở thành con người tự do, chứ không cố ý nhào nặn học trò, biến họ thành công cụ hay nô lệ cho một mục đích nào đó khác như "tà giáo".
Tôi tin là nhà giáo nào cũng muốn mình đi theo con đường "chính giáo". Nhưng đôi khi, chúng ta từ từ rời xa con đường đó và vô tình lạc vào một con đường khác mà không hề hay biết.
Về điều này, tôi muốn chia sẻ một trích đoạn trong cuốn tiểu thuyết có nhan đề Lần đầu thấy trăng của tác giả Võ Diệu Thanh - một cô giáo đang dạy học ở An Giang. Đó là một cuốn truyện viết về một ngôi trường nhỏ, ở một vùng quê nhỏ. Đó cũng chỉ là một lát cắt rất rất nhỏ, có thể là chưa đủ để phản ánh chính xác thực trạng diễn ra quanh chúng ta, nhưng tôi tin rằng không ít người làm nghề dạy học khi đọc trích đoạn này sẽ thấy phảng phất những mô thức quen thuộc:
"Hậu nói nó muốn được đi học để làm một cô giáo có lương tâm. Muốn được như vậy nó phải hoàn toàn tự do như thầy Độ. Nó thấy thầy cô mình đã bị tước mất tất cả tự do. Từ khi nào? Hình như từ rất sớm. Năm này qua tháng nọ, phải cúi đầu mà làm việc. Thấy sai cũng làm. Riết rồi không biết cái gì là đúng là sai nữa. Một ngày kia chợt nhận ra mình nhút nhát biết bao, hèn mọn biết bao. Nhưng mình đã cảm thấy an toàn trong cái vòng kim cô. Đến độ khi có thể gỡ nó xuống mình tự hỏi liệu có sống nổi không với cảm giác trống trải, mất phương hướng của tự do.
... Dạy trong lớp chỉ ào ào theo những gì quy định, xong tiết bước ra... Họ đuổi theo những kiến thức cao siêu đâu đó. Họ nghiên cứu tâm lý học trò trên sách vở, trên giáo trình một cách nhuần nhuyễn. Khi cần thuyết trình họ nói thao thao bất tuyệt. Khi đứng giảng bài đọc vanh vách những khái niệm đã ăn sâu vào đầu óc họ từ năm này qua tháng kia. Giống như một tín đồ ngoan đạo thuộc làu làu kinh kệ- Những chữ vô tri chẳng đọng lại chút gì trong lòng. Con mắt phải đọc cái câu sống chan hòa với nhân loại cỏ cây. Con mắt trái đã liếc xéo những người tu bằng đường đạo khác mình. Dạy học trò chữ tôn sư trọng đạo nhưng người thầy đứng dạy như một cái xác không hồn, với mớ chữ nghĩa ngổn ngang chằng chịt. Nếu học trò là Bồ Tát mới đủ độ lượng phụng thờ một cái xác chưa kịp chôn vùi".
Thật đau xót khi đọc những lời có tính tự sự ấy. Đúng như tác giả đã viết, để có thể đi theo "chính giáo" và truyền bá "lương giáo" và "khoa giáo", các nhà giáo trước hết phải là những con người tự do. Muốn thế, họ phải biết giành lấy những quyền thuộc về mình mà lâu nay họ chưa hề biết đến hoặc bị tước mất (mà có khi chẳng phải là ai đó tước mất của họ, mà là do họ tự khước từ các quyền vốn có của mình), bắt đầu từ việc đặt ra câu hỏi: "Ngày 20/11 để làm gì?"
Từ bao lâu nay, ngày 20/11 đã trở thành một ngày rất đỗi quen thuộc trong tâm trí của người Việt Nam, thậm chí nhiều người còn xem đó như một ngày tết đặc biệt: "Tết thầy cô giáo". Vì thế, câu hỏi "Ngày 20/11 để làm gì?" thoạt nghe qua có vẻ dư thừa, có khi hơi ngớ ngẩn. Nhưng với các nhà giáo, việc suy nghĩ về chính cái ngày dành cho mình có thể mang nhiều ý nghĩa hơn là một câu hỏi vô thưởng vô phạt.
Trước hết, hãy quay lại tìm hiểu lịch sử hình thành của ngày này:
"Tháng 7 năm 1946, một tổ chức quốc tế các nhà giáo tiến bộ được thành lập ở Paris đã lấy tên là Liên hiệp quốc tế các công đoàn giáo dục. Năm 1949, tại một hội nghị ở Warszawa (thủ đô của Ba Lan), Liên hiệp quốc tế các công đoàn giáo dục đã ra bản "Hiến chương các nhà giáo" gồm 15 chương với nội dung chủ yếu là đấu tranh chống nền giáo dục tư sản, phong kiến, xây dựng nền giáo dục trong đó bảo vệ những quyền lợi của nghề dạy học và nhà giáo, đề cao trách nhiệm và vị trí của nghề dạy học và nhà giáo.
Công đoàn giáo dục Việt Nam, là thành viên của FISE từ năm 1953 (hội nghị có 57 nước tham dự), đã quyết định trong cuộc họp của FISE từ 26 đến 30 tháng 8 năm 1957 tại Warszawa, lấy ngày 20 tháng 11 năm 1958 là ngày "Quốc tế hiến chương các nhà giáo". Ngày này lần đầu tiên được tổ chức trên toàn miền Bắc Việt Nam. Khi Việt Nam thống nhất, ngày này đã trở thành ngày truyền thống của ngành giáo dục Việt Nam" (Wikipedia).
Lâu nay, chúng ta vẫn mặc nhiên xem rằng ngày 20/11 là ngày để tôn vinh các thầy cô giáo, và các thầy cô giáo cũng hoan hỉ đón nhận sự tôn vinh đó mà quên mất rằng ngày này vốn dĩ được đặt ra không phải là để tôn vinh hay không chỉ là để tôn vinh. Đó là ngày để nhắc nhở nhà giáo về sứ mệnh thiêng liêng của mình. Đó còn là ngày để nhắc nhở giáo giới về hành trình đấu tranh mà họ đã, đang và còn sẽ tiếp tục trải qua, để giành lấy quyền dạy học, quyền tự do thực hiện sứ mệnh thiêng liêng của mình (chứ không chỉ là đấu tranh đòi hỏi và bảo vệ phúc lợi của mình).
Vì thế, sự tôn vinh đầy trân trọng đó của xã hội trong ngày 20/11 một mặt có thể là niềm vui lớn với những người làm nghề dạy học; nhưng ở một mặt khác, nó lại khiến cho những nhà giáo có lương tri cảm thấy đầy áp lực và trách nhiệm. Bởi họ hiểu rằng sự tôn vinh đó cũng đồng thời đi kèm với những đòi hỏi khắt khe hơn, nhất là khi gần đây nghề giáo đang bị một bộ phận xã hội nhìn nhận thiếu tôn trọng vì hàng loạt trường hợp "con sâu làm rầu nồi canh" xảy ra liên tiếp. Với họ, nếu như không làm được gi cho xã hội mà lại nghiễm nhiên đón nhận sự tôn vinh đó từ xã hội thì quả là đáng xấu hổ.
Trong thời đại ngày nay, ý nghĩa của ngày 20/11 sẽ không chỉ dừng lại ở chuyện xác lập và tôn vinh nghề giáo nữa, bởi tầm quan trọng , vị trí, vai trò của nghề này đã mặc nhiên được công nhận mà không cần phải bàn luận thêm. Ngày 20/11 sẽ mang một ý nghĩa lớn hơn, nếu như đó là một ngày để những người làm nghề dạy học tư duy lại và nhận thức lại công việc và nghề nghiệp của mình, cũng như định nghĩa lại vai trò và sứ mệnh của giới mình đối với người học và xã hội. Cho dù xã hội và nhà nước còn nhiều thiếu sót đối với nhà giáo, thì việc những người làm nghề có trách nhiệm ngồi lại cùng nhau để trả lời lại những câu hỏi tưởng chừng như đơn giản nhưng lại liên quan hệ trọng đến công việc, sự nghiệp của mình và có thể giúp mang lại những thay đổi sâu sắc cho bức tranh nghề giáo nói riêng và cả nền giáo dục nói chung. Những câu hỏi đó có thể là: Ai là thầy? Ai là "thợ dạy"? Thế nào là "con người"? Thế nào là khai minh? Thế nào là vô minh? Thế nào là trí thức?..., và hàng loạt những câu hỏi khác có thể nhìn thấy từ đầy rẫy những bức xúc của xã hội.
Những nhà giáo có trách nhiệm hẳn đã không ngừng trăn trở về những câu hỏi sống còn này, vào mỗi ngày đứng bục giảng, chứ không riêng gì ngày 20/11. Nhưng để những suy nghĩ riêng lẻ đó cộng hưởng thành một luồng suy nghĩ mạnh mẽ của cả giáo giới cũng như cả xã hội, bên cạnh việc dành ngày 20/11 như một ngày để suy nghĩ cho nghề, cần có thêm sự hiện diện của một tổ chức chính thức dành cho những người làm nghề. Tổ chức đó có thể là một Hiệp hội nhà giáo Việt Nam, hay một ủy ban quốc tế về chuẩn mực nghề giáo. Sứ mệnh của những tổ chức xã hội nghề nghiệp này sẽ không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ lợi ích của những thành viên là nhà giáo của minh, mà còn là bảo vệ cả những chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực chuyên môn của giới mình và không ngừng nâng cao những chuẩn mực đó nhằm đáp ứng kịp thời những đòi hỏi mới của thời đại.
Nhìn ra thế giới, chẳng hạn như những người làm giáo dục Mỹ đã chuyên nghiệp hóa hoạt động của người thầy bằng cách xây dựng "Bộ quy chuẩn giảng dạy chuyên nghiệp" do một ủy ban quốc gia và hiệp hội nhà giáo ban hành. Nghề giáo là nghề đầy sáng tạo. Bộ quy chuẩn này được xem là một sự sáng tạo chung của nền giáo dục Mỹ, và dựa trên sự sáng tạo chung này, mỗi nhà giáo sẽ có thêm những sáng tạo riêng trong quá trình hành nghề của mình.
Nhìn sang các nghề khác, những người làm kiểm toán đã theo đuổi mục tiêu đạt “chứng chỉ hành nghề” của quốc gia và quốc tế, những người làm nghề y, nghề luật … cũng bắt đầu kết nối mình với những hội nghề nghiệp có uy tín quốc tế lớn … Họ đang chuyên nghiệp hóa và quốc tế hóa trình độ của mình để có thể thực hiện tốt hơn thiên chức nghề nghiệp mà họ đã tự nhận lãnh. Và rất nhiều người làm giáo dục giật mình khi đối diện câu hỏi từ một phụ huynh nước ngoài muốn cho con học tại Việt Nam: "Ở trường bạn, có bao nhiêu giáo viên có chứng chỉ hành nghề và đạt chuẩn chuyên nghiệp?". Giật mình và nhiều người lúng túng nhìn nhau: liệu đã đến lúc chúng ta cần một "cái chuẩn" chung, một "cái chuẩn" mới đầy trí tuệ để chuyên nghiệp hóa hoạt động của người thầy? Cái chuẩn ấy sẽ giúp ta hiểu rõ hơn về đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn của nhà giáo. Chuẩn đạo đức chính là những kim chỉ nam mà bất cứ một nhà giáo nào cũng phải tâm niệm để xác lập phẩm chất của người thầy. Chuẩn chuyên môn chính là yêu cầu về khả năng sư phạm và trình độ chuyên môn mà người thầy cần phải có đối với từng buổi học, môn học, lớp học...
Đặt ra chuẩn mực chính là cách để bảo vệ uy tín, hình ảnh của những người làm nghề giáo trong xã hội và khiến cho tiếng nói của giới (mà tổ chức này làm đại diện) đối với chính quyền, với cộng đồng sẽ trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ. Đó cũng là cách để chúng ta có những người thầy có khả năng đua tranh mạnh mẽ cùng đồng nghiệp của mình trên khắp thế giới, có khả năng tạo ra những người trò tự do và có khả năng sống một cách đàng hoàng và làm việc thành công ở bất kỳ xứ sở nào trên thế giới. Đó còn là cách nhằm đề cao và tôn vinh những người thầy đúng nghĩa, loại khỏi giới nhà giáo những nhân tố có thể làm hoen ố hình ảnh của nghề cao quý này.
Nhưng những thay đổi đầu tiên trong diện mạo của nghề giáo có thể được tạo ra từ chính các nhà giáo, bắt đầu từ những suy tư về chính cái nghề của mình trong thời đại mới, về chính cái ngày dành cho mình... một cách hết sức giản đơn như thế, mà cũng đầy sâu sắc mạnh mẽ như thế. Giản đơn, nhưng cũng đủ mạnh mẽ để thắp lên một đốm lửa nhỏ để từ đó, niềm tin vào giáo dục lại được thắp lên!