Trường mới. Cơn ác mộng mới. Ngày 8 tháng Tư. Từ hôm biết mình sẽ chuyển trường đến giờ, cứ nghĩ tới cái ngày này là tôi đã thấy sợ, dù một phần trong tôi đã cố xóa nó ra khỏi đầu vì biết rằng nó sẽ chẳng dễ dàng gì.
Tasmin và tôi thức dậy vào buổi sáng hôm sau, ăn sáng, rồi được chú Mike, người cũng đồng thời là giáo viên nhạc của trường Queensmead, đưa đến trường. Tasmin mặc bộ đồng phục trắng đen của trường với chiếc cạp váy được kéo lên cao như mọi khi. Tôi được phép mặc đồ bình thường cho tới khi có đồng phục nhưng tôi đã mặc quần đen áo trắng để không quá nổi bật và khiến cho ai cũng biết mình là ma mới ở trường.
Tôi cảm thấy quá đỗi xa lạ với những gì đang diễn ra như thể đây là câu chuyện của một người nào khác và bất cứ khi nào tôi rũ bỏ trạng thái tê liệt này và tỉnh dậy, mọi thứ sẽ lại về như cũ. Mấy tuần vừa rồi sẽ hiện nguyên hình là một cơn ác mộng. Khi ngồi trên băng ghế sau xe và đưa mắt nhìn qua cửa sổ dõi theo những chiếc ô tô và xe buýt đông kín học sinh cũng đang trên đường đến trường Queensmead, tôi cảm thấy ruột gan cồn cào vì lo lắng.
Ngay khi chúng tôi tới nơi và chú Mike thả hai đứa xuống trước cổng trường, bọn tôi thấy Clover đang đứng chờ chúng tôi ở cánh cửa kính lớn dẫn vào phòng lễ tân. Dù đang mặc đồng phục nhưng trông nó vẫn rất cá tính với mái tóc buộc cao rồi búi gọn trên đỉnh đầu giống phong cách hồi thập niên năm mươi. Kiểu đầu này rất hợp với nó, làm tôn lên khuôn mặt xinh đẹp hình trái tim của Clover. Nó khoác tay tôi hỏi, “Cậu ổn chứ?”
“Tớ không biết nữa,” tôi nói khi hai chúng tôi đi theo Tasmin vào trong. Vào ngày 31 tháng Mười hai vừa rồi, khi Allegra và tôi đang đặt ra mục tiêu cho năm mới và trò chuyện về những dự định của mình, chuyển trường là một việc không hề có trong kế hoạch của tôi, nhưng giờ chẳng thể nào quay lại nữa rồi. Tôi cảm giác như có một bàn tay nào đó đã giữ chặt hai bên mạn sườn của tôi và đang đẩy tôi bước vào một chặng đời hoàn toàn mới và xa lạ.
Tôi cũng cảm thấy mình không thể thực sự tâm sự với ai về chuyện này được, và việc đấy cũng thật khó khăn. Hiển nhiên tôi không thể nào mở lòng với bố mẹ được. Bố mẹ đều đang phải gồng mình để làm quen với cuộc sống mới và tôi không muốn tạo thêm gánh nặng cho họ nữa. Tasmin và Clover đều rất tốt và thông cảm cho tôi, cũng chính vì thế nên tôi cũng không cảm thấy mình có thể mở lòng với chúng. Chúng nó có thể sẽ nghĩ rằng tôi coi thường trường của chúng hay tôi là người luôn than vãn, và rồi chúng nó sẽ không muốn chơi với tôi nữa. Tôi không muốn phá hỏng tình bạn vừa mới chớm giữa chúng tôi. Người duy nhất mà tôi từng tâm sự là Allegra và nó đã gửi cho tôi ba nụ hôn trong tin nhắn sáng nay. Điều đó thật ngọt ngào nhưng nhận được tin từ nó chỉ nhắc tôi nhớ ra rằng nó đang trên đường tới trường, ngôi trường ở London mà tôi đã gắn bó và thông tỏ mọi đường ngang lối dọc.
“Sẽ ổn thôi chị,” Tasmin an ủi, như thể nó đoán được những ý nghĩ của tôi. “Hầu hết học sinh ở đây đều tốt cả. Nào, giờ thì bọn mình sẽ đảo quanh trường một vòng để chỉ cho chị thấy tất cả mọi thứ trước khi giờ học bắt đầu.”
Bọn tôi len lỏi qua những dãy hành lang đông nghẹt đám học sinh đang hối hả xô đẩy nhau, chào hỏi nhau, tìm lối lên hội trường hoặc vào lớp học. Tiếng ồn chói tai của một lũ học sinh đang vỡ tiếng khiến tôi phải căng tai ra để nghe Tasmin và Clover nói khi chúng nó giới thiệu cho tôi một số điểm mốc như thư viện, nhà vệ sinh, hội trường chính và căng tin. Tasmin đã nói trước với tôi rằng có một nghìn rưỡi học sinh ở trường này. Trong khi ở trường cũ của tôi chỉ có bốn trăm.
Cuối cùng bọn tôi cũng tới được phòng sinh hoạt tập thể của lớp 10 và lớp 11, một nơi không bị vây bủa bởi sự nhộn nhạo như những chỗ khác trong trường. Mọi thứ trở nên yên tĩnh hơn khi Clover đóng cửa lại. Ấn tượng đầu tiên của tôi về căn phòng này là nó ám mùi mì ăn liền Pot. Một số học sinh đã có mặt, một vài đứa đã kịp yên vị trên ghế ngồi. Một nhóm nữ sinh đang pha trà bằng chiếc ấm đun nước gần bồn rửa ở góc bên trái phòng, số còn lại thì hẳn là đang hóng hớt nghe chuyện kỳ nghỉ của đám bạn mình, cứ nghe những tràng cười ré lên của chúng thì biết. “Thế rồi anh ấy đã làm gì?” tôi nghe thấy một đứa hỏi. Một bạn trai tóc sẫm ngồi gần cửa sổ đang đắm chìm vào chiếc laptop, một cặp đôi khác thì đang thủ thỉ ở góc phòng. Tất cả mọi người đều ngước lên khi bọn tôi bước vào, ném cho tôi những ánh mắt tò mò. Tôi những muốn chui vào một góc để quan sát nhưng Tasmin đã chỉ vào tôi và la to, “Học sinh mới đến đây. Tên là Paige Lord. Chị họ mình đấy. Mọi người hãy đối xử tốt với chị ấy còn không thì sẽ biết tay.”
Đám học sinh nữ đang pha trà vẫy chào tôi một cách yếu ớt rồi lại quay lại với tách trà và câu chuyện của mình. Mấy đứa con trai cũng quay lại làm việc của họ. Rõ ràng là tôi chẳng đáng để họ chú tâm tới.
Chẳng mấy chốc, Tasmin và Clover đã tíu tít buôn chuyện với đám con gái chỗ ấm trà còn tôi thì kiếm một chỗ ngồi để quan sát môi trường mới. Những ô cửa sổ cao đã tỉ năm không quét bụi nằm bên tay trái của tôi, bảng thông báo gắn đủ loại áp phích nằm bên phải, tủ đựng đồ của mỗi học sinh ở tít đằng sau, và những chiếc ghế bọc vải nâu đã sờn được xếp sát vào nhau thành các hàng đặt ở giữa và ở cuối căn phòng. Trong tôi đang diễn ra một cuộc đấu tranh nội tâm.
Một phần trong tôi cảm thấy mình như đứa trẻ lên năm, choáng ngợp, bối rối và tức thở trước tất cả những thay đổi chóng vánh của cuộc đời. Nếu chìm đắm trong cảm giác này, có lẽ tôi sẽ gục xuống khóc mất. Nhưng một phần khác mạnh mẽ hơn nói với tôi rằng tôi phải dũng cảm, rồi nó nhắc tôi nhớ đến tất cả những điều tốt đẹp tôi đang có, những gì mà thầy hiệu trưởng Nash đã dạy bọn tôi trong những buổi nói chuyện ở trường cũ, những gì bọn tôi vẫn thường cười nhạo mỗi khi nhắc lại. Bây giờ tôi cần vận dụng tất cả những suy nghĩ lạc quan mà thầy đã truyền lại cho chúng tôi. Tôi liệt kê ra những điều mà tôi nên biết ơn, dựa theo danh sách mà thầy thường đọc. Tôi có sức khỏe, tôi có trí thông minh, tôi có những tình bạn mới chớm nở, tôi có một mái nhà, cho dù nó không phải là nhà tôi. Tôi có đồ để ăn và áo quần để mặc.
Nhưng cũng chẳng ăn thua. Phần thứ ba trong tôi muốn bảo thầy Nash nên đi mà đâm đầu vào cột điện bởi những gì xảy ra với gia đình tôi là cực kỳ cực kỳ không công bằng và tôi không hề muốn học ở ngôi trường lạ hoắc này với một nghìn rưỡi con người không quen biết.
“Chào Paige,” một giọng nói vang lên bên tôi. Tôi ngước lên thì thấy một học sinh nam tóc vàng đang đứng ngay trước mặt. Trông anh khá quen. Có vẻ như anh là một trong những nhạc công mà tôi đã thấy ở quán cà phê khi đi tìm mẹ thứ Bảy vừa rồi.
“À, vâng, chào anh, em là Paige. Làm sao mà anh biết tên em thế?” tôi hỏi.
Anh chỉ sang phía bên kia của phòng sinh hoạt chung, lúc này đã bắt đầu đông người hơn. “Tasmin đấy. Nó bảo mọi người đến để chào em.”
Tôi chớp chớp mắt ra chiều không thoải mái. “Thật là xấu hổ quá đi.”
Anh gật đầu. “Nó có ý tốt mà. Anh là Liam. Em vừa mới chuyển từ London đến phải không?”
“Còn việc gì mà nó chưa kể với anh không?” tôi hỏi.
Liam cười. “Nhiều chứ. Vậy hôm nay là ngày đầu tiên đấy. Em thấy sao?”
“Ổn. À không. Đó là nói dối đấy. Em cảm thấy hơi phát điên một chút, vì có rất nhiều giọng nói bên trong em đang tranh đấu với nhau. Giọng nào cũng đầy lý lẽ.” Thường thì tôi không hay buột miệng tâm sự với người lạ nhưng tôi quá căng thẳng và lạc lõng, và chẳng thể ngừng lại được. Tôi hy vọng Liam sẽ gật đầu và nói rằng anh cũng thi thoảng cảm thấy như vậy. Nhưng không. Trông anh có một chút lo âu và nhìn tôi như thể chẳng hiểu những gì tôi đang nói. “Em nghe thấy giọng nói?”
“Không! Không hẳn là giọng nói, thế thì điên quá, chỉ là em…” tôi đỏ mặt. “Chỉ là em cảm thấy... mà thôi, anh đừng để tâm.”
Liam nhìn vào đồng hồ rồi quàng ba lô lên vai. “OK. Anh phải đi rồi. Ờm. Chắc là chúng ta sẽ gặp lại nhau thôi, Paige. Chào mừng em tới Bath và ờm... chúc may mắn với những giọng nói đó nhé.”
Người đầu tiên mà đã như thế này , tôi nghĩ trong khi Tasmin vẫy tay ra hiệu cho tôi đứng dậy và đến chỗ nó. “Nhanh lên nào,” nó nói. “Đến giờ học rồi. Bọn em sẽ đưa chị vào lớp chị rồi mình gặp lại nhau ở đây vào lúc ăn trưa nhé?”
Tôi ôm nó một cái. “Chị rất biết ơn vì những gì em làm cho chị, Tasmin. Em thật rộng lượng đó, dẫu cho chị đã chiếm mất một nửa phòng em và làm phiền em đủ thứ.” Tôi thấy mình sắp khóc. Tasmin cũng thấy điều đó.
Nó ôm lại tôi. “Ê, đồ ngốc. Đừng có mà mùi mẫn kiểu vậy với em. Em không thích sướt mướt vậy đâu.”
Tôi cố kìm nước mắt. “Xin lỗi nhé, chị sẽ không làm vậy đâu.”
Tasmin nhìn tôi với vẻ mặt nghiêm túc. “Em không đùa đâu. Chị phải cứng rắn lên.”
Tôi gật đầu và Tasmin siết lấy cánh tay tôi. Nó có một trái tim nhân hậu, tôi thầm nhủ rồi lại chực khóc khi nghĩ đến chuyện mình đã phá rối cuộc sống của nó vậy mà giờ nó lại coi như chưa có chuyện gì xảy ra. Tôi không chắc là trong tình huống đó mình có thể rộng lượng như nó. Tôi hít lấy một hơi sâu. Từng ngày một, tôi tự nhủ. Hãy vượt qua từng ngày từng ngày một.
Tôi đã vượt qua được ngày hôm ấy. Rồi ngày tiếp theo. Tuần tiếp theo. Và cứ thế. Chú Mike chở gia đình tôi ra ngoài một vài lần sau giờ tan trường và vào cuối tuần. Chú lái xe qua thành phố, chỉ cho gia đình tôi những dãy nhà nổi tiếng hình vòng cung với các ngôi nhà năm tầng từ thời Hanover, vượt qua những ngọn đồi dốc để ra ngoại ô, rồi tới những ngôi làng và quán rượu đẹp như tranh vẽ chỉ cách thành phố mười phút lái xe. Chúng tôi bắt gặp một vài ngôi biệt thự cũ xinh đẹp ở rìa thành phố, ẩn mình dưới bóng cây trên những khoảng sân vườn rộng bát ngát. Tôi nghĩ hẳn rất khó khăn cho bố mẹ khi họ nhìn thấy những ngôi nhà này vì nó giống hệt ngôi nhà cũ của chúng tôi ở Richmond. Thời gian đầu, tôi không thể nhớ được chỗ nào với chỗ nào, nhưng dần dần, qua vài tuần, mọi thứ bắt đầu trở nên thân thuộc, đặc biệt là khu vực nơi chúng tôi sống và trung tâm thành phố.
Ở trường, Tasmin và Clover đã làm tất cả những gì có thể để giúp đỡ tôi, nhưng dù chúng nó đầy thiện ý, tôi vẫn là một học sinh mới và vẫn thường lủi thủi một mình. Chuyển trường sau năm lớp Bảy sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong các mối quan hệ vì tất cả mọi người đều đã tìm được hội được thuyền trong những học kỳ đầu mới từ tiểu học lên và rồi bọn chúng sẽ gắn bó với nhau trong suốt những năm sau đó. Đến lớp Mười thì mọi thứ đã đâu vào đấy, những người mới đến đều trở nên lạc lõng. Các bạn đều rất thân thiện với tôi nhưng chẳng ai lại muốn nhọc công làm quen với tôi, rủ tôi đi chơi cùng hay mời tôi gia nhập hội của họ. Họ chỉ hỏi một vài câu như kiểu tôi đến từ đâu, tại sao lại chuyển đến Bath, rồi mau chóng bỏ tôi lại một mình. Họ đã có bạn thân để trò chuyện.
Tôi đã thử tham gia câu lạc bộ kịch với hy vọng đó sẽ là một cách tốt để gặp gỡ bạn mới, nhưng dự án hiện tại của bọn họ đã đi được nửa đường nên tôi tuột mất cơ hội. Chỗ ẩn náu duy nhất của tôi là phòng học hội họa, nơi tôi luôn ghé qua mỗi khi có thời gian. Tôi lại bắt tay vào việc vẽ chân dung như ở trường cũ, chụp ảnh Tasmin và Clover để vẽ lại, nhưng đây cũng là một hoạt động đơn độc vì thầy dạy hội họa nhất quyết không cho nói chuyện khi làm việc, thậm chí cả khi đã hết giờ học.
Tôi khắc khoải nhớ những lúc cùng Allegra đi học về, vừa uống trà ăn bánh vừa buôn chuyện với nhau, ngày nào cũng như ngày nào. Trò chuyện với nó thật dễ dàng, từ chuyện vớ va vớ vẩn tới chuyện siêu hay ho, cái gì chúng tôi cũng có thể kể với nhau được. Giờ thì bọn tôi Skype với nhau hầu hết các tối và cố gắng duy trì sự thân thiết vốn có, nhưng mặc dù chuyện ở trường cũ vẫn luôn nằm trong mối quan tâm của tôi, chuyện ở trường mới của tôi lại không mấy hấp dẫn nó, ngoại trừ chuyện về những anh chàng điển trai. Không phải nó không hỏi về cuộc sống mới của tôi, nó có hỏi nhưng dĩ nhiên là không thể nào hào hứng giống như khi bọn tôi nói chuyện về những người quen chung của cả hai.
Tôi cảm thấy cuộc sống của mình thật tẻ nhạt. Buổi sáng, tôi đến trường, ẩn mình giữa đám đông rồi nhanh chóng bị cuốn vào guồng quay học hành. Tôi cảm thấy vui khi học hành chăm chỉ vì ít ra như thế tôi còn có thứ để làm. Tôi đặc biệt thích thầy dạy hội họa, vậy nên mọi thứ cũng không hoàn toàn vô vọng. Tôi làm bài tập về nhà, ăn trưa rồi đến thư viện hoặc phòng học hội họa. Tôi học tất cả những thứ cần phải học, rồi về nhà, thường là tự về một mình vì không thể bám theo Tasmin như một con cún, mặc dù nó luôn rủ tôi đi chơi cùng nó và Clover. Nó có cuộc sống riêng của nó, tôi không thể vừa chiếm phòng nó vừa kè kè bên nó suốt ngày. Tôi muốn nó có không gian riêng.
Tôi biết rằng mình đã không hoàn toàn thành thật với Allegra khi nó hỏi về tình hình của tôi, nhưng tôi sợ mình sẽ đánh mất nó nếu cứ ca cẩm rằng tôi buồn, tôi cô đơn, tôi tức giận và tôi thất vọng. Nó có thể làm gì để thay đổi chứ? Chẳng thể làm gì cả. Vậy nên tôi khoác lên bộ mặt Paige rạng rỡ và cố gắng nói những gì tốt đẹp nhất. Bath tuyệt vời. Trường cũng tốt. Tớ ổn. Tớ rất cứng rắn và là một chiến binh đấy. Nhưng tất cả chỉ là ngụy tạo. Trong thâm tâm, tôi luôn khao khát một ai đó có thể thấy con người thật của tôi bên trong lớp mặt nạ, một ai đó có thể hiểu tôi thật sự cảm thấy thế nào và bước đến giải thoát cho tôi.
Một buổi tối sau khi Skype với Allegra, tôi bật máy nghe nhạc lên và nghe Những khúc dành tặng Sarah. Tôi đứng và nhìn qua cửa sổ khi cả căn phòng bắt đầu chìm trong tiếng nhạc.
Lồng gương mặt tôi vào trong khung ảnh
Treo trong phòng tranh
Một vẻ đẹp hoàn hảo cân xứng
Hẳn là bạn chỉ ước mình trông giống như tôi?
Nhưng khi soi mình trong chiếc gương kia
Tôi nhìn thấy gì?
Một con người buồn bã và cô độc.
Đây lẽ nào lại chính là tôi ư?
Sợ thật. Đó cũng chính là tâm trạng của mình hôm nay , tôi nghĩ khi nghe thấy tiếng dì Karen gọi xuống ăn tối. Càng nghe chiếc CD này, tôi càng cảm thấy những bài hát trong đó thật đồng điệu với mình. Mỗi tối sau khi tan trường về, nếu không có Tasmin ở trong phòng, tôi luôn bật một bài trong đĩa lên nghe và điều đó dần trở thành thói quen của tôi. Tôi thậm chí còn chép các bài hát trong chiếc CD vào iPod của mình để tiện nghe ban ngày. Thật kỳ cục khi mỗi bài hát tôi bật lên đều như đang miêu tả cuộc sống của tôi. Có lẽ đây chính là những giai điệu sưởi ấm trái tim tan vỡ của tôi, vì chúng luôn làm tôi thấy vui hơn và bớt cô độc hơn. Không biết ai đã làm chiếc đĩa này và người đó đang ở đâu nhỉ? tôi tự hỏi khi tắt máy nghe nhạc, rồi xuống ăn tối với lũ em họ bát nháo dưới nhà. Một ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi. Hay là tôi đi tìm người đó?
“Bố đang ở đâu thế ạ?” tôi hỏi mẹ sau khi cả nhà đã ăn xong và chỉ còn hai mẹ con tôi xếp bát đĩa vào máy rửa chén. Bố thường vắng mặt trong hầu hết các bữa ăn và tôi bắt đầu cảm thấy nhớ bố.
“Bố ra ngoài để tìm cơ hội cho gia đình mình,” mẹ nói trong khi đổ chỗ thức ăn thừa vào thùng rác. Tôi đã gặng hỏi mẹ một vài lần rằng khi nào thì gia đình tôi có thể ra ở riêng nhưng mẹ luôn lập lờ nói rằng bố đang làm tất cả những gì có thể. Trông mẹ có chút ủ rũ mỗi khi chúng tôi nhắc tới chuyện tương lai vì bố đã đi phỏng vấn xin việc ở một vài nơi nhưng đều bị từ chối với lý do trình độ của bố vượt quá yêu cầu. Mẹ thì may mắn hơn khi có việc làm hành chính tại một ngôi trường ở bên kia khu trung tâm, nơi dì Karen dạy hội họa. Có một người đã xin nghỉ để nên mọi người ở trường rất chào đón mẹ, có vẻ mẹ cũng vui khi có việc để làm và nơi nào đó để đi mỗi sáng.
“Thế mẹ có thấy ổn khi làm việc ở trường không?” tôi hỏi.
“Trước mắt thì vẫn ổn,” mẹ nói. Mẹ luôn nói vậy. Trước mắt, nhưng là trong bao lâu chứ?
“Thế còn bằng cấp của mẹ thì sao?” tôi hỏi. “Mẹ không thể dùng nó để kiếm một công việc mẹ thực sự thích à?” Mẹ đã từng học tại trường Đại học Thời trang London sau khi tốt nghiệp phổ thông, chuyên ngành thiết kế phục trang cho sân khấu và điện ảnh. Mẹ muốn làm việc ở một nhà hát nhưng rồi mẹ gặp bố và cuộc sống của mẹ gói gọn trong việc chăm sóc bố, chăm sóc nhà cửa và rồi chăm sóc tôi.
“Có thể,” mẹ đáp. “Nhưng mẹ không có kinh nghiệm làm việc. Kinh nghiệm làm ‘Nội trợ’ sẽ chẳng giúp ích được gì.”
“Nhưng còn tất cả những sự kiện từ thiện mà mẹ từng làm thì sao? Mẹ có khả năng tổ chức tuyệt vời mà.”
Mẹ thở dài. “Có thể một ngày nào đó mẹ sẽ lại dùng những kỹ năng đó. Nhưng trong thời gian này, công việc hiện tại của mẹ là món quà trời ban rồi. Nó cho mẹ cơ hội để hồi tâm trong khi bố mẹ suy nghĩ lại kế hoạch của mình.”
Tôi ôm lấy mẹ. Mẹ khoác lên bộ mặt Bà Mẹ Rạng Rỡ ngay đúng lúc tôi cũng khoác lên bộ mặt Paige Rạng Rỡ. Đôi khi tôi tự hỏi liệu có phải cả thế giới này đang trốn sau những lớp mặt nạ hay không.
Khi mẹ con tôi cất bát đĩa đi, ngoài cửa sổ, tôi thấy có ai đó đang tiến vào khu vườn nhà bên cạnh. Đó là Niall. Khi nhìn thấy anh ta, tôi cảm thấy nhói lên một chút ân hận vì lần chạm trán tồi tệ hôm trước. Tôi thấy ghét khi mình có ác cảm với ai đó, kể cả anh ta là một gã lăng nhăng. Mặc dù đã từng thề sẽ tránh xa cái con người đó, tôi vẫn quyết định sẽ thử đi làm lành với anh ta, nên khi mẹ pha xong cốc cà phê và ra phòng khách, tôi hít một hơi sâu, mở cửa sau và bước ra ngoài.
Bên phải mảnh vườn là một hàng rào phía trên có gắn lưới mắt cáo nhưng tôi vẫn có thể nhìn thấy rõ anh ta. Tôi tiến tới và nói, “Chào.”
Anh ta giật nẩy mình làm tôi bật cười lớn.
“Xin lỗi nhé,” tôi tỏ ra lịch sự. “Em không định làm anh giật mình.”
“Em đang làm cái gì thế? Núp trong lùm cây sao?”
“Không. Không phải núp. Em... em thấy anh và muốn xin lỗi vì chuyện ngày hôm đó. Em đoán là khi ấy mình không được thân thiện lắm.”
Một nụ cười thoáng hiện trên gương mặt Niall. “Không. Anh đoán là vậy. Nhưng có thể tại anh như nước sốt Marmite. Người ta hoặc là rất thích hoặc là rất ghét anh.”
“Em thích Marmite,” tôi nói.
Niall cười tươi. “Anh cũng thế, vậy nên ít ra bọn mình cũng có một điểm chung.”
Tôi đỏ mặt và tự trách mình vì sợ anh ta đã trông thấy cử chỉ ấy. Tôi không muốn anh ta nghĩ điều này có nghĩa là tôi thích anh ta.
“Dù chỉ thỉnh thoảng em mới thích... em... à không, đối với Marmite thì chắc em ở vị trí trung lập, em không hẳn thích cũng không hẳn ghét. Em... chả quan tâm lắm.” Tôi nhận ra mình đang nói năng luyên thuyên. Ngậm mồm lại, tôi tự nói với bán thân khi trông thấy vẻ buồn cười trong mắt Niall. Anh ta sẽ nghĩ mình bị dở hơi mất.
“Vậy là em học ở trường Queensmead?” anh ta hỏi.
“Vâng. Sao anh biết?”
“Thấy em ra khỏi nhà cùng Tasmin mà.”
“Ồ, anh cũng theo dõi em qua cửa sổ đấy à?” tôi hỏi, nhại lại những gì anh ta hỏi lần trước khi chúng tôi gặp mặt ở khu trung tâm, nhưng rồi lại lo rằng giọng mình đã bắt đầu nhuốm màu thù địch.
“Không phải theo dõi, nhưng anh thấy em một vài lần. Em không thể tránh được việc nhận ra một ai đó trên đường, phải không?”
“Đúng thế,” tôi đáp và bản thân tôi cũng nhận ra giọng điệu của mình rõ gắt gỏng.
Điện thoại của Niall đổ chuông và anh ta rút nó ra khỏi túi. “Anh phải nghe điện thoại,” anh ta nói.
“Chắc là một trong những cô bạn gái của anh chứ gì,” tôi buột miệng trước khi kịp ngăn mình lại.
Niall lắc đầu như không thể tin nổi điều tôi vừa nói. Anh ta quay đi để nghe điện thoại còn tôi lao vào nhà.
Ngu ngốc, ngu ngốc , tôi tự nói với chính mình khi leo lên phòng. Tôi thật tệ trong khoản nói chuyện với bọn con trai. Sao tôi lại không thể cá tính như Clover hay tự tin như Tasmin chứ? Thay vào đó, tôi lại thể hiện mình như một người mắc chứng PMT [4] mãn tính. Cứ như thể một phần trong tôi đã bị đè nén và đang nỗ lực tìm cách bung ra, nhưng khi nó có cơ hội thể hiện thì những điều nó nói toàn sai, sai và sai.