Tôi có cảm giác như vừa thoát ra khỏi nhà thương điên, nơi mà tôi bị nhốt vào với trí tuệ bình thường. Cuộc sống bây giờ trôi đi thật bình thản và yên ả! Các buổi sáng tiến sĩ làm việc trong phòng thí nghiệm của mình ở tầng hai. Đôi khi tôi có vào đó nhưng không lâu vì sợ quấy rầy tiến sĩ.
Nơi đây bao trùm một không khí trang nghiêm. Dụng cụ đặt trong các tủ kính sáng loáng, chói ngời ánh thép. Mô-rít Gia-cốp và hai phụ tá rậm râu, mặc áo choàng trắng, lúi húi cạnh những khí cụ phức tạp. Đôi khi họ trao đổi vài câu, tôi nghe cứ như vịt nghe sấm.
Mô-rít cố ý cho tôi xem vài thí nghiệm về ám thị định giờ. Chúng đã gây nên những ấn tượng sâu sắc. Con người vừa mới rất bình thường, đang nói chuyện, vui đùa, bỗng làm những việc hết sức kỳ cục như đang nói lại hát ầm lên, đứng dậy nhảy múa, hoặc trịnh trọng cầm ghế đặt lên bàn. Anh ta không thể nào giải thích được rằng tại sao mình lại hành động như vậy. Sự ám thị bằng thôi miên bị lãng quên hoàn toàn.
Mô-rít kể rằng những thí nghiệm ám thị tương tự đã giúp các bác học biết được nhiều điều lý thú về hoạt động của tiềm thức con người. Chẳng hạn, đã phát hiện thấy rằng trong mỗi một chúng ta đều có một đồng hồ sinh học chạy rất chính xác. Một phụ nữ qua ám thị bằng thôi miên nhận được lệnh là phải vẽ một hình tháp vào phút thứ 4335 kể từ khi ngủ dậy. Khi tỉnh giấc, chị ta hoàn toàn không nhớ gì về chuyện bị ám thị, vẫn làm việc như thường lệ. Nhưng qua ba ngày sau bỗng nhiên chị cầm lấy bút và vẽ một hình tháp. Chị phụ nữ đã làm việc đó đúng thời gian quy định; đồng hồ sinh học của chị chạy đúng từng phút mà các nhà bác học theo dõi!
Ngoài ra tiến sĩ còn nói rằng nhiệm vụ ám thị có thể được thực hiện sau một thời gian khá dài. Có những trường hợp người bị ám thị đã thực hiện nhiệm vụ sau một năm kể từ khi thôi miên. Kỳ lạ thật!
Đôi khi Mô-rít và các phụ tá trung thành của mình đã thực hiện trên bản thân họ những thí nghiệm rất khắc nghiệt như dùng lực tự ám thị để thay đổi nhịp tim, sau vài giây tăng nhiệt độ cơ thể lên bốn, năm độ, bắt cơ thể tiết ra nhiều in-su-lin hơn. Tất cả các biến đổi đều được máy đo giám sát.
Thỉnh thoảng họ thôi miên nhau và đã làm nhiều chuyện kỳ lạ trong giấc ngủ thôi miên như nhớ lại những điều tưởng đã quên hẳn, gây chảy máu hoặc cầm máu lập tức (nhìn thấy bằng chính mắt mình những điều đó, tôi bắt đầu tin vào khả năng của một số người biết “gọi máu”), gây những vết bỏng thực sự bằng cách chỉ chạm một chiếc đũa kim loại hoàn toàn nguội vào da.
Được làm quen với những thí nghiệm này, tôi bắt đầu tin rằng Gia-cốp đang tiến hành một công tác nghiên cứu khoa học quan trọng.
Để cho tôi xem, một lần Mô-rít dùng tự ám thị để làm xuất hiện vết tích chảy máu trên tay mình, nhưng tôi đã khóc òa lên và anh phải nhanh chóng ám thị cho chúng biến đi.
Sau đó anh còn lặp lại “hiện tượng vết tích” tại một buổi lên lớp trong số “những bài giảng kèm ảo thuật” của mình. Sau khi dự một số bài giảng kỳ lạ đó, tôi mới hình dung hết được tầm quan trọng và cần thiết của những công việc mà tiến sĩ đang làm. Anh không chỉ bằng hình thức sinh động, phong cách hấp dẫn mở ra trước mắt thính giả những kiến thức khoa học mới nhất và xua tan mọi thứ mê tín dị đoan, mà còn tiến hành ngay tại đấy những thí nghiệm phức tạp nhất trên bộ não và cơ thể của mình, khảo sát các khả năng kỳ diệu đang ẩn náu bên trong.
Không thiếu trò gì mà tiến sĩ không làm. Trong vài phút, ngay trên bục giảng anh đã ươm được một cây cam với những trái ngon thực sự, chẳng khác gì các nhà Y-ô-ga. Anh rắc vào bình pha lê đựng đầy nước một loại cát nhiều màu và ngay lúc ấy, giống như một phù thủy anh bốc ở bình lên từng nắm cát khô, thậm chí còn bốc cát theo màu sắc...
Người ta bỏ anh vào một chiếc quan tài làm bằng lớp băng dày, đậy nó lại bằng cái nắp cũng làm bằng nước đá và lấy xích sắt quấn xung quanh. Sau đó chiếc quan tài ấy được đưa vào một xe ô tô làm lạnh (bài giảng được tiến hành ở công viên, ngay ngoài trời). Hàng trăm người dán mắt vào chiếc xe nhưng mười phút sau tiến sĩ đã tươi cười xuất hiện!
Mô-rít thực sự đã khâu cả găng tay vào tay mình, và không gian trá tí nào! Anh dùng kim đâm xuyên qua tay mà không cảm thấy đau. Trong một bài giảng, thậm chí anh còn lấy kiếm đâm xuyên qua cổ mình mà không làm tổn thương các mạch máu và dây thần kinh. Trò này được biểu diễn trước máy X quang đặt ngay tại đó và mọi khán giả có thể nhìn thấy thanh kiếm chạy sát cột sống, còn Mô-rít thì vẫn cười đùa!
Trong khi thực hiện những trò kỳ lạ ấy, tiến sĩ luôn luôn kiên nhẫn nhắc nhở và giải thích cho khán giả rằng để làm được vậy không cần phải có những khả năng “siêu tự nhiên”, không cần phải trở thành phù thủy. Không có gì là huyền bí và kỳ diệu cả; sự rèn luyện thể lực và ý chí đã biến cơ thể thành một dụng cụ dễ điều khiển.
Dẫu sao tôi vẫn bị kinh hoảng và sau các buổi lên lớp, trên đường trở về nhà, tôi bắt đầu rầy la tiến sĩ.
– Thực sự là tôi không thấy đau đớn gì hết - Mô-rít cười và an ủi tôi. - Thậm chí nó còn có lợi cho sức khỏe, giống như mọi loại thể thao khác.
Tôi không tin và một hôm, anh cho tôi xem bức ảnh chụp một chú bé gầy còm nhom, mặt mày xanh xao hốc hác.
– Ai đấy?
– Chính tôi đấy - Mô-rít trả lời.
Nhìn vào khuôn mặt tròn trĩnh còn đang nở ra vì nụ cười khoái chí, tôi khẳng định:
– Không thể được!
– Đúng, hồi mười ba tuổi, tôi là một thằng nhãi ốm yếu như thế đấy. Cần phải đưa cả tấm ảnh này vào phòng trưng bày “những bệnh được chữa khỏi một cách kỳ diệu” mới được.
Tôi được xem cái phòng trưng bày buồn cười đó. Ở đây còn giữ lại những chiếc nạng đã trở nên vô dụng đối với những người bị tàn phế mà tiến sĩ bằng ám thị đã chữa khỏi tê liệt thần kinh, những bức ảnh của nhiều người mù được sáng lại, nhiều người câm biết nói.
– Khó mà tin được rằng tôi đã có một thân hình tiều tụy từ thuở mới lọt lòng - tiến sĩ trầm tư nói tiếp, mắt vẫn không rời tấm ảnh cũ. - Tôi hay ốm đau, mẹ tôi đã mang tôi đi hết bệnh viện này đến bệnh viện khác. Chuyện này làm tôi phát chán, và dưới ảnh hưởng của đủ loại sách phiêu lưu, tôi quyết định chứng minh, trước hết là trên bản thân mình, rằng ý chí có thể tạo nên những điều kỳ diệu. Bây giờ tôi vẫn nhớ rõ rằng đêm đêm nằm trong bệnh viện, mọi người xung quanh đã ngủ say, còn tôi vẫn nghiến răng thầm nhắc: “Mày phải trở nên dũng mãnh, mày phải không hề cảm thấy đau đớn!”. Tôi nhắc đi nhắc lại lời nguyền ấy cho đến khi nó đi vào tận cốt tủy mình và thực tế tôi hết cảm giác đau. Các thầy thuốc chỉ còn biết lắc đầu.
– Giống chỉ dẫn của bác sĩ Re-na quá - tôi hoài nghi. - Còn đối với tôi thì nó không giúp ích gì cả.
– Ôi, thứ nhất là ông già đã cho chị một chỉ dẫn hết sức sơ đẳng. Thứ hai là chị đã tự ám thị được nhiều chưa? “Cần phải tự tập luyện”, Sê-khốp thích nói thế và suốt đời đã làm như thế. Khi ra viện, hàng ngày tôi nghiêm túc tập luyện thể lực và ý chí.
– Tập luyện ảo thuật chứ gì? - tôi hỏi giễu cợt.
– Và khá thành công - anh trả lời, tay chỉ lên tường, nơi treo đầy những bằng cấp kỳ lạ nhất mà tôi thấy trong đời.
“Vô địch ảo thuật năm 1965”, “Lừng danh thế giới...”, “Thành viên danh dự của hiệp hội “Ma thuật”. “Giải thưởng liên hoan ảo thuật quốc tế” - tiến sĩ là một nhân vật có tiếng tăm!
Tôi không kìm mình được nữa và trêu chọc Gia-cốp:
– Tôi hình dung buổi họp công đoàn của các nhà ảo thuật chắc phải lý thú lắm! Họ biểu quyết bằng cách giơ những chiếc đầu bị chém cụt lên chăng? Còn đối với các báo cáo viên nói dai thì có lẽ họ phản đối bằng cách biến thành vô hình hoặc tượng đá, phải không?
– Chị thì lúc nào cũng cười được, còn hồi tôi bị đình chỉ giảng dạy ở trường tổng hợp là một thời kỳ vất vả, và chính những buổi công diễn ảo thuật đã giúp tôi đứng vững trước thử thách. Nếu không có nó thì tôi đã bị quỵ gối rồi, và chắc đã rơi vào con đường phản bội như lão già An-ri.
Tiến sĩ im lặng, vẻ mặt anh trở nên rầu rĩ vì những hồi tưởng nặng nề. Sau đó anh nói thêm:
– Xin chị hãy nhớ cho một điều nữa; toàn bộ số tiền mà tôi đã thu được nhờ các trò ảo thuật, bằng mồ hôi của mình, tôi đều dành cho khoa học. Không có chúng thì tôi không thể có một phòng thí nghiệm như hiện nay. Ở nước ta ngân sách được chi cho việc nghiên cứu về hoạt động tâm lý cao cấp của con người chỉ đáng giá bằng một nửa chiếc xe tăng.
– Thật thế sao?
– Những số liệu chính thức đấy. Chị thì lúc nào cũng cho ảo thuật là... Nhưng cái chính là tôi đã tự học được cách điều khiển thân thể và ý chí của mình. Bây giờ, bằng tập trung ý chí, tôi có thể cho tim ngừng đập trong vài phút, hoặc chịu đựng được một khối lượng nửa tấn đặt trên ngực. Thậm chí người ta đã mở ruột thừa cho tôi mà không cần gây tê, đơn giản là tôi đã “tắt” cảm giác đau.
– Ước gì tôi cũng học được thế nhỉ! Tôi vẫn hét toáng lên khi bị kim đâm vào tay.
– Tôi tin rằng tất cả mọi người đều có thể học được cách điều khiển bản thân và tâm lý mình. Chúng tôi phấn đấu vì mục đích đó. Và thật là lý thú!
Khuôn mặt tròn trĩnh của anh lại đỏ ửng lên, hai mắt long lanh. Do quá say mê nên tiến sĩ lại bắt đầu luồn điếu thuốc lá đang cháy xuyên qua má. Song tôi đã quen với chuyện đó rồi nên không sợ nữa.
– Những chân trời kỳ diệu đang rộng mở! Chẳng hạn như cảm giác đau. Nó rất cần thiết như một tín hiệu về sự rối loạn hoạt động trong cơ thể. Song vai trò của nó không nên cường điệu hóa. Xin chị chú ý: khi chị vô tình giẫm chân phải đầu đinh hoặc viên đá nhọn thì đầu tiên là chị co chân lại một cách máy móc, còn sau đó chị mới cảm thấy đau. Thông tin về sự nguy hiểm được truyền về não nhanh hơn cảm giác đau. Do đó nhiều khi sự đau đớn trở nên vô ích cho cơ thể, thậm chí còn có hại, làm suy yếu cơ thể. Trao cho mọi người khả năng điều khiển cảm giác đau, “tắt” nó theo ý muốn - phải chăng là một việc làm mờ ám.
Trong các buổi nói chuyện như vậy ở phòng thí nghiệm, lúc uống cà phê buổi sáng, hoặc trong xe hơi trên đường về nhà sau khi lên lớp, Mô-rít thường chia sẻ với tôi những suy nghĩ và ước mơ của mình. Chúng tôi đã chơi trong núi, cách xa những người khách du lịch ồn ào. Nhiều hôm chúng tôi bơi thuyền ra xa bờ buông chèo ngắm trời mây. Tôi lấy tay nghịch nước, còn Mô-rít thì mơ ước nắm được bí mật của trí nhớ để điều khiển nó làm sao trong một thời gian ngắn có thể nhớ được tất cả những kiến thức, kỹ năng mà hiện nay chúng ta phải bỏ ra hàng năm trời mới có được.
– Các thí nghiệm cho thấy rằng thực tế chúng ta nhớ hết mọi thứ - anh nói. - Chỉ có điều đáng tiếc là còn lâu con người mới hồi tưởng được chúng theo ý muốn. Những ấn tượng trước kia còn ẩn nấp ở đâu đó trong bề sâu của tiềm thức, nhưng bằng cách nào để tiếp cận chúng thì chúng ta chưa biết.
Anh say mê hy vọng viển vông về những khả năng kỳ diệu sẽ mở ra trước mắt loài người khi đã hiểu được tỉ mỉ các quá trình biến hóa cảm giác trong não.
– Chị thử hình dung xem, nếu chúng ta phát hiện ra mật mã hóa điện mà nhờ nó hình tượng ở một nơi nào đó của não được chuyển thành hình ảnh sinh động, thì chúng ta có thể mang lại thị giác cho tất cả những người mù! Hoặc chúng ta sẽ nối vào não mình các cơ quan cảm giác của bất kỳ một loại sinh vật nào đó và nhìn vào thế giới bằng con mắt của chúng. Phải chăng nhìn được như con đại bàng bay liệng trên không hay như con cá mập dưới biển sâu là điều viển vông? Cái đó hoàn toàn có thể xảy ra nếu chúng ta học được cách truyền vào não người những xung điện tương ứng từ các cơ quan cảm giác của cá hoặc chim.
– Ôi dào, đấy là chuyện viễn tưởng rồi phải không?
– Hoàn toàn không. Khi chị chạm vào một vật nào đó thì chính chị cũng không để ý rằng não mình không phải nằm ở đầu ngón tay mà ở cách đó ít nhất là một mét. Nếu ta tăng khoảng cách đó lên tới ngàn cây số thì chị vẫn không nhận thấy được vì sóng vô tuyến vượt qua khoảng cách kia nhanh hơn các xung động thần kinh chạy theo cánh tay. Do đó, ở lại trên trái đất, trong buồng mình, chị vẫn có thể thả những cơ quan cảm giác của mình đến các hành tinh khác để nhìn, nghe, sờ, ngửi, nếm tận nơi!
– Anh mơ ước cải tạo con người, làm cho con người mạnh hơn - tôi lắc đầu. - Còn những kẻ khác đang hy vọng bằng những phát minh của anh sẽ biến loài người thành những tên nô lệ ngoan ngoãn, những người máy sống.
– Vâng, chị nói đúng đấy - Gia-cốp lập tức sa sầm nét mặt. - Những kẻ như vậy rất tiếc là không ít. Như một nhà hiền triết đã nhận xét một cách đáng buồn là: “Khi trên vũ đài khoa học xuất hiện một phát minh thì quỷ dữ lập tức tóm lấy nó, trong khi các thiên thần còn đang thảo luận cách ứng dụng”. Ngọn lửa sẽ trở nên nguy hiểm và tai hại, nếu nó không cháy trong bếp mà lại leo lên mái nhà. Cần phải đấu tranh để những phát minh của chúng ta không rơi vào tay bọn lừa đảo. Chính tôi đang chiến đấu với chúng, nhưng không dễ dàng lắm. Bởi vì vạch mặt một tên lưu manh mới thì lại phải sử dụng một chiến thuật mới.
Mô-rít kể cho tôi nghe trường hợp Pao-lô Đi-ben. Anh là một công nhân bình thường, sống ở một làng gần Ba-va-ri, nơi mà các nhà thần học đã dựng nên một “chuyện lạ”: một nữ nông dân tên là Nê-ma cứ đúng vào thứ sáu hàng tuần lại thấy xuất hiện trên mình vết tích chảy máu giống như chúa Giê-su bị hành hình trên cây thánh giá. Những kẻ mê tín bắt đầu thực hiện cuộc hành hương để mong nhận được ân huệ của “thánh” mới.
Đi-ben say mê ảo thuật từ thuở nhỏ và biết các bí quyết của nó. Với bí danh Din-Đôn, anh bắt đầu trình diễn tại rạp xiếc ở địa phương tất cả những “chuyện lạ” của Nê-man và giải thích cho khán giả biết bản chất trần gian của chúng.
– Ba mươi năm trời qua rồi, - Gia-cốp nói - Đi ben đã chết, Nê-man đã trở thành một bà già. Song hàng ngàn giáo dân vẫn tấp nập đến với mụ như trước kia.
– Vâng, nạn mê tín dị đoan sống dai lắm, tôi cũng đã suy nghĩ về điều này - tôi thông cảm gật đầu và kể cho tiến sĩ nghe những dằn vặt của mình trong thời gian sống cô độc với người bác gái lúc thì bị biến thành trẻ con, lúc thì không nhận ra ai cả.
– Những thiên kiến mê tín của dân cư tại các thung lũng quanh chân núi “Trò quỷ” còn có thể hiểu được phần nào - tiến sĩ tiếp lời. - Song cả những “trí thức có văn hóa” vẫn không chịu thua kém họ. Trong một cuộc triển lãm quốc tế ở Niu-Yoóc, các nhà tâm lý học Mỹ đã thử tính phần trăm số người mê tín trong toàn bộ khách đến thăm. Họ quyết định chỉ kiểm tra một trong những điều kiêng kỵ phổ biến tại Hoa Kỳ là: ai chui dưới thang xếp thì sẽ bị xúi quẩy.
– Có cả những điềm gở như thế à? - tôi ngạc nhiên hỏi.
– Ôi, không thiếu loại gì! Tại một phòng triển lãm, trên lối đi, người ta làm như tình cờ đặt một cái thang xếp. Thang rất cao, đi dưới đó hoàn toàn thoải mái, nếu không thì phải đi đường vòng. Máy quang học đã kín đáo đếm những người đã vòng qua thang. Chị thử đoán họ có bao nhiêu?
– Tôi không biết. Có nhiều không?
– Bảy mươi phần trăm trong số vài triệu người đến thăm! Và cũng chẳng nên ngạc nhiên làm gì: sự mê tín có lợi cho ai đó và người ta cố tình duy trì, tô vẽ nó thêm. Hiện nay ở Mỹ có trên ngàn tờ báo hằng ngày đăng dự đoán của các nhà chiêm tinh. Ở đó, có gần ba mươi ngàn nhà chiêm tinh hoạt động công khai, có đăng ký. Hằng năm họ vắt từ túi những kẻ ngốc nghếch một món tiền khoảng hai trăm triệu đô la! Ước gì số tiền đó được dành cho các nghiên cứu khoa học nhỉ! Cùng lắm thì dành cho nhu cầu giáo dục, vì với số tiền đó có thể cho toàn bộ học sinh phổ thông nước Mỹ ăn sáng không mất tiền trong hai năm. Nhưng để mở mắt cho mọi người thì cần phải tố giác, vạch mặt từng tên trong số ba mươi tay đại bịp ấy.
Do mải mê với những câu chuyện, những cuộc dạo chơi mà tôi không kịp nhận thấy là đã mười ngày trôi qua kể từ khi tôi đến đây. Sống trong thế giới của tiến sĩ Mô-rít Gia-cốp thật là thú vị. Tôi đã hiểu thêm Mô-rít, chúng tôi đã thân nhau. Thậm chí tôi còn bắt đầu vẽ chân dung tiến sĩ cùng một lúc ở hai tư thế: làm việc trong phòng thí nghiệm và đóng khố chít khăn. Kết quả cũng khả quan, tôi đã lao vào công việc, tôi trở lại bình thường.
Tôi cố gắng xua đuổi những ý nghĩ u ám và lo âu, song không dễ gì. Đặc biệt tôi hay băn khoăn: giọng nói thứ hai - của bác trai - là từ đâu ra?
Mô-rít cũng phân vân:
– Hay có thể bác ấy chỉ cảm thấy như là nghe được nó chăng? Gô-ran đã ám thị bà già ảo giác đó.
– Nếu như thực sự bác tôi nghe được tiếng nói của chồng mình thì sao - tôi gạn hỏi. - Có nghĩa là bác ấy ốm à? Bác ấy bị điên à?
Mô-rít cố trấn an tôi, những nỗi lo sợ vẫn không hết.
Cứ cách vài ba ngày tôi lại gọi điện cho bác sĩ Re-na. Ở nhà bác gái, mọi chuyện đều ổn, có thể tin chắc rằng bà già đã khỏe mạnh hoàn toàn.
Bác sĩ cố gắng làm vui lòng tôi. Song tôi không thể gạt bỏ được ý nghĩ rằng đây là sự yên lặng trước bão tố.
Và bão tố đã ập tới.
Buổi tối khi tôi đang vui vẻ tán gẫu với Mô-rít và mẹ Ma-ri thì bỗng chuông điện thoại vang lên réo rắt và khẩn thiết.
– Có lẽ là Vi-li - tiến sĩ vui sướng cầm ống nghe lên. - Hình như điện thoại liên thành phố.
Nhưng không phải là Vi-li.
Tiến sĩ lập tức trao ống nghe cho tôi và tôi kịp nhận ra giọng nói hốt hoảng của bác sĩ Re-na:
– A-lô, có phải cô Clô-đi-na đấy không? A-lô!
– Vâng, cháu đây, cháu đang nghe đây.
– Cô phải về nhà ngay: bác gái muốn gặp cô đấy.
– Có chuyện gì thế, thưa bác sĩ?
– Bà ấy sắp mời chưởng khế đến để làm giấy tờ gì đó. Bà ấy muốn cô có mặt ở nhà. Cô có nghe không?
– Vâng, cháu đang nghe đây. Xin bác sĩ chờ cho một phút. - Tôi lấy tay che ống nghe và quay lại phía Gia-cốp: - Bác tôi cho mời chưởng khế đến. Phải làm gì bây giờ?
– Ồ, đợt tấn công quyết liệt đã bắt đầu - Mô-rít thốt lên. - Chúng đang vượt trước bọn mình. Chị phải đi ngay thôi.
Tôi gật đầu và nói vào ống điện thoại:
– Thưa bác sĩ kính mến, cháu về ngay đây! Trên chuyến tàu đầu tiên.
Đặt ống nghe xuống, tôi nhìn tiến sĩ.
– Chị cứ về đi và cố gắng thuyết phục bác gái - anh nói - Chỉ cần Vi-li xuất hiện là chúng tôi sẽ đến giúp chị ngay. Trong thời gian đó chị cố gắng chuyển bác gái sang một buồng khác, dù chỉ một đêm thôi.
– Anh có vẻ cũng không tin tưởng vào thắng lợi thì phải...
– Vâng, chắc gì chị đã can ngăn được bà già - Mô-rít thành thật thú nhận. - Nhưng ít nhất cũng phải kéo dài thời gian ra. Hãy cố gắng thuyết phục bác gái một cách bình tĩnh, lô-gích, không nổi nóng và luôn phải nhấn mạnh rằng chị coi bác ấy là người khỏe mạnh, tỉnh táo. Nhất thiết tối nào cũng gọi điện cho tôi trong khoảng sáu giờ đến bảy giờ. Tôi sẽ trực ở bên máy.