Không có ai truy nã tôi cả. Khi đã bình tâm lại, tôi nói cho tài xế biết tên khách sạn và chỉ mười phút sau đã ở trong phòng mình. Đói quá, tôi vẫn chưa ăn tối mà. Nhưng vào tiệm ăn thì không muốn. Tôi ăn tạm một thỏi sô-cô-la nằm lăn lóc trong túi xách, uống một ít nước, sau đó đi tắm rồi lên giường. Vì quá mệt mỏi bởi những chuyện đã qua nên tôi thiếp đi ngay, sau khi quyết định sớm mai phải nhanh chóng quay về nhà.
Tôi tỉnh dậy muộn, vào lúc chín giờ sáng. Tôi gọi điện hỏi giờ tàu chạy rồi đi xuống tiệm cà phê ăn sáng. Tiệm rất vắng khách. Trong một góc, giấu mình sau tờ báo là một gã đàn ông to béo mặt lì lợm, đeo kính đen. Dưới gầm bàn bên cạnh, một con mèo mướp lông tơ đang yên giấc.
Tất cả chìm trong yên tĩnh. Tôi vừa ăn xong thì một bà cụ già đội chiếc mũ lạ lùng có đính hoa và lông chim ngó vào.
Cụ già ném vào tiệm một cái nhìn xét nét, dừng lại ở tôi trong khoảnh khắc, nhưng vẫn không bước tới.
Từ tiệm ra tôi lại trông thấy cụ già ở trong phòng đợi của khách sạn. Cụ ngồi trên chiếc ghế bành bọc da đặt cạnh cửa. Chiếc ghế kiên cố đồ sộ và cụ già nhỏ nhắn như đang chìm nghỉm trong đó, chỉ còn cái đầu nhô lên với chiếc mũ buồn cười. Cụ luôn luôn ngọ ngoạy, đầu nhìn về mọi phía giống như một con chim, tay ôm chặt cái túi xách sờn rách có vẻ như sợ người ta cướp mất. “Trông cụ già buồn cười quá!” - tôi nghĩ thầm. Ngay lúc ấy cụ bật dậy từ chiếc ghế bành và chạy lon ton đến gặp tôi.
– Cuối cùng thì già đã gặp được cô rồi, cô bé đáng yêu ạ! Già đợi cô đỏ cả mắt - cụ nói với tôi tựa như đã quen nhau hàng thế kỷ. - Già muốn cô cùng ăn sáng nên vội đi đến đây song cô vẫn ngủ chưa dậy. Dậy muộn là có hại đấy, cô bé thân mến ạ! Già đã chạy ra chợ, già luôn luôn muốn tự làm lấy thức ăn vì ở thế kỷ chúng ta không thể biết được họ đầu độc mình lúc nào. Khi trở lại đây thì cô đang ăn sáng. Không tốt đâu cô bé ạ, ai mà đoán được rằng người ta cho cô ăn gì ở cái xó này? Và nói chung một phụ nữ trẻ mà lại ngủ một mình ở những nơi như thế này được à?
Đến đây cụ già phải ngừng lại một tí để lấy hơi và tôi có dịp hỏi:
– Xin cụ cho biết, cụ là ai và cụ cần gì? Cụ nhầm cháu với ai rồi đấy.
– Không nhầm tí nào đâu, cô bé yêu quý của tôi ạ - cụ ngắt lời tôi. - Già chưa bao giờ nhầm lẫn, tuy rằng đã tám chục tuổi rồi đấy. Cô cần vâng lời già, già không dạy điều xấu đâu.
– Nhưng cụ là ai mới được chứ? Thú thật, cháu không biết cụ đâu.
– Bởi vì cô không phải người xứ này. Còn ở đây ai cũng biết mẹ Ma-ri, không tin cô hỏi bất kỳ một khách qua đường nào, nếu anh ta là dân địa phương này...
– Nhưng thưa mẹ Ma-ri, cụ là ai mới được cơ chứ?
– Cô nói sao? Ai à? - cụ già ngạc nhiên. - Già là quản gia của tiến sĩ Gia-cốp. Chúng ta đã nói chuyện với nhau qua điện thoại tối qua rồi còn gì.
Bây giờ tôi mới vỡ lẽ ra rằng tại sao cái giọng nói khẩn khoản ấy nghe có vẻ quen quen. Cách xưng hô ngộ nghĩnh “cô bé đáng yêu” đã lỗi thời ấy làm cho tôi liên tưởng lại thuở ấu thơ.
– Rất hân hạnh được làm quen với cụ, mẹ Ma-ri thân mến ạ - tôi đáp lời. - Nhưng cháu vẫn không hiểu rằng cụ tìm cháu để làm gì?
– Sao? Để làm gì à? Tiến sĩ đang chờ cô đấy.
– Tiến sĩ của hắc ma thuật, bạch ma thuật - tôi gật đầu giễu cợt. - Sao anh ta lại biết được tôi ở đây nhỉ? Tuy rằng với những khả năng của mình...
– Sao lại hắc ma thuật, bạch ma thuật? - rõ ràng là cụ già đã nổi cáu và tôi cảm thấy xấu hổ cho giọng nói châm biếm của mình. - Cậu ấy là tiến sĩ triết học đấy, cô bé đáng yêu ạ! Còn ảo thuật thì Gia-cốp đã say mê từ nhỏ. Già đã nuôi nấng cậu ấy, già biết chứ. Điều đó có gì là xấu nào? Nó không liên quan gì với ma thuật, ma thuật chỉ là sự mê tín ngớ ngẩn. Địa chỉ thì chính tài xế báo lại, ngày hôm qua chính cô đã bảo anh ta chở tới đây, đúng không?
– Cháu không đi đâu hết.
– Cháu không đi! Nên hiểu thế nào đây? Cậu ấy cố tình nán lại không đi nghỉ mát hôm nay là chỉ vì cô. Còn cô thì “cháu không đi đâu hết”!
Không tài nào tranh cãi với cụ già được. Thêm vào đó, bỗng nhiên tôi lại tò mò muốn nhìn thấy tiến sĩ Gia-cốp trong khung cảnh gia đình. Có thể ngay cả lúc ở nhà, anh ta cũng đóng khố và ngồi trên đinh nhọn, hoặc miên man trong thiền định cũng nên.
– Thôi được, cháu xin đầu hàng - tôi nói. - Bây giờ cháu sẽ gọi tắc-xi và chúng ta cùng đi.
– Gọi tắc-xi để làm gì? Chúng tôi có xe riêng mà!
Tôi nhún vai rồi đi theo mẹ Ma-ri hiếu động.
Ngay ở cổng khách sạn đã có một chiếc “Méc-xê-đéc” đậu sẵn. Không thấy tài xế đâu, có lẽ anh ta đã chạy đi kiếm ly cà phê trong khi tôi đang tranh cãi với cụ già lắm lời.
– Hãy ngồi vào đi, cô bé yêu quý! - mẹ Ma-ri mời tôi rồi thản nhiên chiếm chỗ sau vô-lăng và theo thói quen, kéo chiếc mũ thời cổ đại xuống sâu thêm.
Trong cơn bàng hoàng, tôi ngồi vào cạnh cụ. Máy rú lên và xe lao đi.
– Hay là cụ để cháu lái cho nhé? - tôi liếc nhìn mẹ Ma-ri rồi dè dặt nói. - Cháu cũng biết lái xe, tuy không thật thạo lắm...
Cụ già không thèm trả lời tôi, nhưng rõ ràng là cụ đã phật ý và nổi cáu. Cụ bắt đầu táo bạo vòng qua các góc phố rồi phanh gấp trước cột đèn hiệu làm tôi tối sầm mắt lại.
Trên một ngã tư, chúng tôi bị một trật tự viên oắt con chặn lại. Thật buồn cười khi thấy một cậu bé mặt bấm ra sữa, tóc bạch kim, tay đeo băng đỏ, đang đứng kiễng chân cho thêm phần đường bệ, và rất nghiêm túc nhưng lịch sự xạc cho mẹ Ma-ri một mẻ ra trò. Còn cụ già thì ngoan ngoãn cúi gằm mặt xuống lắng nghe và cựa quậy sốt ruột sau vô-lăng. Tôi phải cố kìm lắm mới khỏi cười toáng lên.
Sau lần đó, xe chúng tôi bò chậm chạp qua hai dãy phố tiếp theo và mẹ Ma-ri đã hoàn toàn kiệt sức. Nhưng rồi cụ chụp lại cái mũ và quả quyết dấn ga. Song ngay lúc đó cụ bỗng phanh xe đột ngột trước một ngôi nhà nằm ẩn mình trong khu vườn rậm rạp cạnh bờ sông thuộc vùng ngoại ô, rồi nhìn tôi đắc thắng. Tôi nở nụ cười nịnh bợ và bắt đầu giúp cụ kéo từ trong xe ra những cái bị đựng đầy thức ăn ngon.
Tiến sĩ đi rất nhanh ra đón chúng tôi theo một lối nhỏ rắc sỏi nằm giữa những hàng thông. Anh đang cười khoái chí - có lẽ anh đã ngó qua cửa sổ và thấy xe chúng tôi lăn bánh như thế nào.
– Xin chào chị! - anh nghiêng mình. - Buổi gặp gỡ của chúng ta hôm qua hơi lộn xộn nên ngay cả đến tên chị tôi vẫn chưa kịp hỏi.
– Clô-đi-na Đrê-gơ.
– Rất hân hạnh - anh lại nghiêng mình lịch thiệp. - Đưa cho tôi những cái bị kia và xin mời vào nhà.
Hôm nay trông anh hoàn toàn chững chạc, bây giờ thì mới thực sự có thể gọi là tiến sĩ được. Bộ com-lê may rất khéo, cái áo sơ-mi không thể chê vào đâu, cái cra-vát mốt mới thắt gọn gàng. Không hóa trang, anh trẻ hơn tối qua nhiều, luôn luôn mỉm cười, không ra vẻ trịnh trọng tí nào. Chúng tôi bước lên tiền sảnh, đi qua bậc thang vào một phòng khách xinh xắn ấm cúng.
– Mọi người cứ lên nhà đi, còn tôi phải vào bếp đây - mẹ Ma-ri nói như ra lệnh và giật lấy những cái bị trên tay tiến sĩ. - Cần phải chuẩn bị ăn sáng không thì khách của chúng ta chết đói mất.
– Nhưng cháu đã ăn sáng rồi cơ mà, chính cụ cũng trông thấy đấy - tôi hoảng hốt.
– Hừm, thế mà gọi là ăn sáng à? Hãy quên nó đi càng nhanh càng tốt, cô bé đáng yêu ạ! Cầu trời cho cô bình yên vô sự - những lời nói gở ấy vọng ra từ sau cánh cửa.
Tôi nhìn Gia-cốp cầu cứu nhưng anh chỉ biết khoát tay.
– Không thể nào cãi lại bà già ấy được đâu. Từ lâu rồi, từ thuở còn thơ, tôi đã từ bỏ ý định đó. Ở đây bà ấy là chủ nhà. Xin mời chị!
Thú thật là tôi đã bước qua ngưỡng cái cửa mà tiến sĩ vừa thận trọng mở ra với một chút e ngại. Ai mà biết rõ được những tay phù thủy hiện đại? Có thể họ nuôi rắn hổ mang hoặc chứa cả một bộ sưu tập toàn đầu lâu trong nhà cũng nên?
Nhưng căn phòng này hoàn toàn bình thường và hiện đại. Các bức tường đều bị lấp kín bằng những giá sách, gần cửa sổ là chiếc bàn làm việc đồ sộ, cạnh nó có một cái bàn con để máy chữ. Treo trên cao là những bằng cấp trang trọng lồng trong khung kính. Phía trên bàn, cũng lồng trong khung kính là một lời giáo huấn.
Còn lâu chúng ta mới hiểu hết được mọi lực lượng tự nhiên và những phương thức tác động của chúng. Do vậy, nhà triết học chân chính không nên phủ nhận các hiện tượng chỉ vì chúng chưa được làm sáng tỏ bằng trình độ kiến thức hiện nay. Chúng ta cần phải khảo sát các hiện tượng; hiện tượng càng khó tin là có thực lại càng phải khảo sát kỹ hơn.
La-pla-xơ
Trong góc nhà là hộp thư mục, một chiếc bàn để họa báo thấp lè tè với những chiếc ghế tựa thoải mái và một cây đèn chân hạc. Không có gì huyền bí và trang trọng kiểu phương Đông. Tôi hơi thất vọng.
Ngay dưới cửa sổ, những cây thông xanh biếc đang vươn lên, xa hơn nữa là phong cảnh tuyệt diệu trên hồ với một hòn đảo nhỏ và hai tán cây xanh giống như hai cánh buồm. Tôi có cảm giác như chúng sắp bơi đi, bị cuốn theo chiều gió.
Chúng tôi ngồi xuống ghế tựa, tiến sĩ kéo thuốc lá và cái gạt tàn lại gần hơn rồi nói:
– Càng suy nghĩ về chuyện của chị, tôi càng thấy nó đáng nghi vấn. Tôi đã sửa soạn vào núi nghỉ một tuần nhưng rồi quyết định hoãn lại để cố gặp được chị hôm nay.
– Xin cảm ơn lòng tốt của anh, nhưng chắc chắn đấy là một sự hy sinh vô ích.
– Tại sao vậy?
– Chẳng biết anh có giúp được gì cho bác tôi không, chính anh hôm qua đã nói như vậy. Anh có lý, trong trường hợp này cần phải tìm một bác sĩ tâm thần có kinh nghiệm.
– Hãy từ từ đã - tiến sĩ tỏ vẻ ưu tư rồi châm thuốc hút.
Tôi không rời mắt khỏi điếu thuốc. Nhận ra điều đó, Gia-cốp cười:
– Đừng lo, tôi không dọa chị nữa đâu. Hôm nay tôi không biểu diễn nên chả phải khởi động.
– Anh làm điều đó bằng cách nào?
– Đơn giản thôi. Xem này! - Và tiến sĩ long lanh mắt, vẻ giễu cợt, tay khéo léo luồn điếu thuốc nóng bỏng qua má.
Tôi dán mắt vào Gia-cốp. Rõ ràng là điếu thuốc đã xuyên qua má. Tôi dám thề độc đấy! Nhưng trên da anh không còn một dấu vết gì nữa!
– Ra thế đấy! Anh thực sự là tiến sĩ à? - tôi hỏi.
– Cho chị xem bằng tốt nghiệp Xoóc-bon nhé? Hay là bằng tốt nghiệp Trường tổng hợp Duy-rích? Tôi đã tốt nghiệp cả hai trường. Thực tế tôi là một chuyên gia tâm lý học, tôi đã có những công trình nghiên cứu đáng kể... anh huơ tay về phía những giá sách. - Cô An-ni biết rất rõ tôi, nếu không thì cô ấy chẳng dám gửi đến đây người bạn gái thân nhất đâu.
– Thế tại sao anh lại đi làm những trò ấy?
– Trò gì?
– À, các trò ảo thuật ấy mà... -tôi vô tình vung ngón tay lên trước mũi mình. - Luồn thuốc lá qua má, rồi những cái cùm, trò đi trên gươm, đi xuyên tường. Sao anh lại đi biểu diễn ở những rạp mạt hạng ấy?
– Vì tôi thích thế. Tôi say mê nghệ thuật của những ảo giác lạ kỳ và những biến hóa huyền diệu. Chị đánh giá chúng như vậy là quá oan uổng. Đấy là một nghệ thuật rất lâu đời. Ngay cả trong kinh thánh, nhà tiên tri Môi-xê cũng đã thi tài biến hóa với những tay ảo thuật chuyên nghiệp.
– Nhưng dù sao đi nữa, một tiến sĩ triết học mà buổi tối lại biến thành phù thủy đi lừa phỉnh những kẻ cả tin ở các rạp hát. Không ăn khớp tí nào hết.
– Đã lâu lắm rồi tôi không biểu diễn ở những rạp tương tự như “Lô-li-ta”. Đúng ra thì đôi khi tôi cũng có làm vài trò để minh họa cho những bài lên lớp của mình trước công chúng, vì vậy mà bè bạn thường gọi chúng là “những bài giảng kèm ảo thuật”. Còn hôm qua, phải biểu diễn ở cái rạp với một tên lóng thô tục kia là để cứu trợ ông giáo già Mi-sen Na-đi của chúng tôi. Đấy là một nhà ảo thuật thiên tài, trước chiến tranh tên ông đã vang bóng một thời. Bây giờ thầy già rồi, lại ốm nặng nên bọn tôi quyết định công diễn ở “Lô-li-ta” để quyên góp cho thầy ít tiền. Tôi chịu ơn thầy Mi-sen Na-đi rất nhiều. Nói chung, sự làm quen với các diễn viên ảo thuật xiếc và tài nghệ tuyệt tác của họ đã giúp tôi rất nhiều trong công tác nghiên cứu.
– Bằng cách nào?
– Chị biết không, - anh trầm ngâm nhìn theo vòng khói thuốc lá - tôi nghiên cứu những tiềm năng phong phú của cơ thể con người, trước hết là những khả năng tâm lý. “Hãy tự tìm hiểu chính bản thân mình”. Lời di huấn đó đã có trên ba ngàn năm nay rồi, mà chúng ta thì còn hiểu rất ít, ít tới mức buồn cười, về bản thân, về bộ não con người và những khả năng kỳ diệu của nó. Bởi vậy sự làm quen với những thí nghiệm và phát minh của những người bạn tài ba như các nhà ảo thuật xiếc, các phù thủy, những người theo phái Y-ô-ga hiện đại, đã mang lại cho tôi nhiều tư liệu lý thú, quý báu để phục vụ mục đích nghiên cứu lĩnh vực phức tạp này. Và tôi đã học được ở họ ít nhiều...
Anh kể rất say sưa, mà tôi cũng rất khoái nghe nên không muốn ngắt lời. Nếu như anh chàng tiến sĩ ngộ nghĩnh này không giúp gì được cho bác gái thì ít ra cũng để lộ cho tôi biết những bí mật của các nhà ảo thuật ranh ma.
– Làm thế nào mà anh lại nằm được trên những cái đinh khủng khiếp ấy? - tôi hỏi.
– Đơn giản thôi. Chỉ cần một ít kiến thức cơ bản về vật lý và số học. Cảm giác đau sẽ xuất hiện nếu trên một đầu đinh có một lực đè lên khoảng năm trăm đến sáu trăm gam. Diện tích bề mặt nằm của người tôi khoảng hai ngàn ba trăm cm2, và cứ một cm2 là một đầu đinh, mà tôi cân nặng 70 kg. Chị hãy cầm bút chì rồi làm một phép tính thô sơ và sẽ thấy rằng trên một đầu đinh chỉ có 30 gam trọng lượng thôi. Bởi vậy tôi nằm trên chúng cũng như nằm trên đi-văng vậy.
– Chỉ đơn giản thế thôi à? - tôi thất vọng. - Còn những thanh gươm? Rõ ràng là chúng rất sắc, có đúng không?
– Sắc đấy - tiến sĩ đồng ý. - Chỉ có điều chúng được mài và hướng một cách đặc biệt nên tôi giẫm lên mà không lo đứt chân. Tất nhiên là cũng phải tập luyện nhiều.
Tôi buồn rầu nói:
– Có nghĩa là chỉ rặt một trò bịp bợm thôi.
Hình như Gia-cốp bị phật lòng nên anh vội nói tiếp:
– Còn chuyện phá xích sắt à? Những nghệ nhân loại này, chúng tôi mệnh danh theo tiếng lóng nghề nghiệp là “những con mọt sắt”, họ không nhiều lắm trên thế gian này. Bí quyết ở đây là khi đóng gông phải biết căng cơ, làm cho chúng to phồng lên và sau đó thư giãn thật nhanh. Tôi thậm chí có thể chồng xương lên nhau trong ổ khớp hoặc nhịn thở trong hai phút. Để có được một sự điều khiển bản thân như vậy, tôi phải đánh đổi bằng nhiều năm tập luyện.
– Vâng, anh thực hiện trò ấy rất khéo - tôi đồng ý.- Nhưng dù sao đi nữa thì bằng cách nào mà anh lại thoát khỏi cái két sắt đã khóa kín một cách nhanh chóng như vậy? Hay là thực sự anh biết đi xuyên tường?
– Tôi biết đấy - anh mỉm cười.
– Làm thế nào? Anh dạy cho tôi với nhé!
– Ồ, trước hết là chuyện này không thể học được ngay. Phải bắt đầu từ lúc nhỏ. Còn sau đó là tôi không có quyền để lộ bí mật nhà nghề. Các nhà ảo thuật cũng có “luật trung thành” đấy.
Tiến sĩ đột ngột vung tay lên như thể bắt con ruồi đang quấy rầy, và trong tay anh lại xuất hiện một điếu thuốc mới. Anh bật lửa rồi đưa nó ra một khoảng cách nhất định. Trước mắt tôi, điếu thuốc bắt đầu dài ra, vươn đến ngọn lửa và biến thành điếu xì gà.
Tôi vỗ tay như một cô bé con rồi kêu lên:
– Nữa nào! Nữa nào!
Nhưng trong lúc ấy cánh cửa bật mở và trên ngưỡng cửa, mẹ Ma-ri xuất hiện trong chiếc tạp dề hồ trắng tinh, mặt ửng hồng vì hơi lửa và hỏi một cách dọa dẫm:
– Tôi còn phải chờ anh chị lâu nữa không đấy?
Tiến sĩ vội vàng nhét điếu xì gà ma quái ấy vào cái gạt tàn và làm ra vẻ nhăn nhó sợ hãi.
Chúng tôi cùng đi vào một buồng ăn xinh xắn, ngồi xuống quanh một chiếc bàn chất đầy các món ăn ngon đến mức tôi thấy tự xấu hổ vì bụng mình trở nên đói cồn cào. Để che giấu sự ngượng ngùng đó, tôi vội nói:
– Anh là một người rất tháo vát đấy, thưa tiến sĩ. Nhưng rất tiếc là anh không thể giúp gì cho bác tôi được.
– Vâng, chính vậy đấy, lại nói về bà bác của chúng ta - Gia-cốp cười nhạo. - Tôi cần phải xem xét bác ấy đã. Có thể đấy là một sự rối loạn tâm thần đơn thuần, rất bình thường cũng nên. Khi đó, nếu như chị không tin tôi, chúng ta sẽ tìm một chuyên gia có kinh nghiệm hơn.
– Nhưng đã từ lâu rồi bác tôi không hề đau ốm gì. Cả năm ngoái, nếu như tôi nhớ không nhầm, thì chỉ có hai lần phải đến gặp thầy thuốc và cả hai lần đều do những chuyện vặt vãnh. Một lần đến nha sĩ và một lần đến thầy thuốc nhãn khoa. Bác sĩ Re-na nói rằng, so với tuổi tác của mình thì bác tôi có một sức khỏe tuyệt diệu...
– Bác sĩ Re-na là ai thế?
– Là một thầy thuốc địa phương ở gần nhà chúng tôi. Ông ấy không phải là giáo sư nhưng được mọi người rất tin tưởng và kính nể vì ông rất giàu kinh nghiệm. Bác sĩ Re-na đã tận tình chăm sóc bác Phrăng, người chồng quá cố của bác gái tôi, cho đến lúc lâm chung. Hằng ngày ông đến ăn sáng, ăn trưa với gia đình tôi, và từ lâu chúng tôi đã coi ông như người trong nhà.
– Còn bác trai của chị đã bị đau gì?
– Người ta phát hiện ra ung thư dạ dày. Tất nhiên chúng tôi giấu không nói, nhưng bác ấy cũng tự đoán ra. Bác ấy đã thư từ với đủ loại thầy lang. Như anh biết đấy, bây giờ cái đó đang là mốt, nào xem vân tay, nào vô tuyến cảm giác...
– Tôi biết rồi - Gia-cốp gật đầu.
– Rồi bác ấy trở nên mê tín và đem nhiều tiền đi cúng cho những tổ chức khác nhau. Bác gái giận dữ, cố thuyết phục bác trai. Còn bây giờ lại đến lượt chính bác gái... Bác tôi cứ quả quyết rằng “tiếng trời” đã tuyên bố phạt bác ấy vì tội vô thần, tội chế giễu bác trai.
– Lại thế nữa cơ à? Có nghĩa là “tiếng trời” còn quen biết cả ông bác đã quá cố của chị nữa phải không? Đấy là một sự am hiểu đáng nghi về công việc gia đình chị.
Gia-cốp trầm ngâm, mắt anh nhìn chằm chằm vào đĩa thức ăn của mình. Sau đó tiến sĩ ngửng đầu lên nhìn tôi một cách lơ đãng rồi hỏi:
– Những cơn ảo giác của bác ấy được biểu hiện như thế nào? Chị hãy kể tỉ mỉ cho tôi nghe nhé!
– Sự thể bắt đầu từ khi bác tôi đêm đêm lại nghe một giọng nói nào đấy, như tôi đã kể cho anh.
– Đã lâu chưa?
– Ba tháng rồi, từ cuối mùa đông.
– Nó nói những gì với bà già?
– Nó bắt bác tôi phải ăn năn về những tội lỗi, suy nghĩ lại về cuộc đời và hiến dâng những năm tháng còn lại cho trời. Sau đó nó dùng mọi lời để tâng bốc giáo phái “Hỏa thiên huynh đệ” - giáo phái của những người làm theo tiếng nói của ngọn lửa không trung - và yêu cầu bác gái giúp đỡ. Đã hai lần bác tôi gửi đến Béc-nơ những món tiền kếch xù và lần nào cũng được giọng nói ấy khen ngợi.
– Từ đâu mà bác ấy biết địa chỉ để gửi tiền đi? Qua người chồng quá cố à? Bác Phrăng của chị thuở sinh thời có quan hệ gì với giáo phái đó không?
– Không, theo tôi thì không bao giờ.
– Thế làm sao mà bác gái của chị biết được địa chỉ của bọn chúng?
– Giọng nói ấy đọc cho. Sáng mai thức dậy, bác gái vẫn nhớ rất rõ, tuy rằng trí nhớ của bà già về con số và địa chỉ rất xoàng.
– Hay đấy! - Gia-cốp lẩm bẩm. - Rất hay. Còn chính bà già thì đã lần nào đến thăm trụ sở ấy chưa? Có gặp ai trong số họ không?
– Chưa một lần nào.
– Vì sao vậy?
Tôi nhún vai trả lời một cách không tin tưởng lắm:
– Đơn giản là bác tôi không hề có ý định ấy.
– Kỳ lạ thật! Thế bác ấy nghe được tiếng nói bằng cách nào, vang lên từ trong đầu hay nó vọng từ ngoài vào? Điều này rất quan trọng.
– Tôi không hỏi kỹ. Nhưng đơn giản là bác ấy nghe được những tiếng nói. Giống như tiếng nói bình thường của tôi vậy.
Tiến sĩ “hừm” một tiếng tỏ vẻ không hài lòng rồi hỏi:
– Bà già có kêu đau đầu không?
– Không.
– Có kêu mất ngủ không?
– Không, bác ấy ngủ say hơn cả tôi.
– Còn có những ảo giác nào ngoài “tiếng trời”?
– Anh biết không, thời gian gần đây hình như bác tôi có vẻ khang khác. Có lần bác ấy nhìn thấy một thằng di-gan dắt con gấu đứng trong vườn, mặc dầu chẳng có ai ở đó cả. Tôi cùng bác sĩ Re-na vội đưa bác ấy lên giường nằm và bà già nhanh chóng trấn tĩnh lại. Vừa mới tuần trước thôi, bác ấy trông thấy con chó sói trốn vào bụi cây trong vườn nên đã yêu cầu người làm vườn bắn chết nó. Nhưng chúng tôi đã lục lọi khắp tất cả các bụi cây mà chẳng thấy con chó sói nào cả. Mọi chuyện chỉ là điều mơ tưởng.
– Hay là mọi ảo giác kia cũng đều do giọng nói ấy ám thị?
– Tôi không biết, bác tôi không nói gì hết.
– Cũng có thể đấy là do bệnh tật - tiến sĩ lẩm bẩm trong giây phút trầm mặc, trán nhăn lại một cách ngộ nghĩnh. - Nhưng trong sự điên dại ấy có một hệ thống rõ ràng. Tôi rất nghi rằng bác gái yêu dấu của chị đã trở thành nạn nhân của một bọn bịp bợm tinh quái.
– Anh nói sao? - tôi sợ hãi hỏi.
– Đấy chính là điều mà chúng ta cần tìm hiểu. Rất khó tin khi “tiếng trời” lại có những mệnh lệnh hoàn toàn cụ thể, rất chi là trần gian. Bác gái chị có giàu không?
– Theo tôi thì cũng tương đối, tuy rằng chưa bao giờ tôi quan tâm đến chuyện đó. Bác trai đã để lại một gia tài lớn; khi còn chưa bị ốm, bác ấy đã gặp may trong việc đầu cơ chứng khoán.
– Thế chị là người nối nghiệp duy nhất của bà già à?
– Thôi đi anh! - tôi đỏ mặt.
– Xin chị đừng giận, tôi tuyệt nhiên không có ý định phát giác một âm mưu tư lợi nào đó của chị.
– Tiền tôi làm ra cũng khá và tôi hoàn toàn có thể đảm bảo cho bác gái yên hưởng tuổi già, nếu như bác ấy muốn cúng hết tài sản. Đưa anh xem sổ tiết kiệm nhé!
– Không cần. Tôi tuyệt đối tin rằng chị thực sự yêu quý bác gái mình và đang mong cho bà già khỏi bệnh. Thế chị làm nghề gì, nếu như không bí mật?
– Tôi là họa sĩ.
– Thế mà tôi không tài nào đoán ra được, tuy rằng ở đất nước Thụy sĩ của chúng ta việc lựa chọn ngành nghề của phụ nữ cũng không rộng rãi gì cho lắm. Như dân Anh thường nói: “Nếu như anh có quá nhiều năng khiếu thì đừng thất vọng: có thể trở thành họa sĩ tự do cũng nên”.
– Anh còn muốn biết thêm gì nữa? - tôi ngắt lời Gia-cốp.
– Tôi muốn biết rằng trên thế gian này còn có ai đó mà lại dửng dưng khi tiền của bác gái mình rơi vào tay một bọn lưu manh nào đấy.
– Tôi không biết và không muốn thảo luận về vấn đề đó - tôi nặng lời. - Một điều mà tôi có thể nói chính xác là bác tôi không hề biết, thậm chí chưa một lần nào tận mắt trông thấy người nào trong số thành viên của giáo phái ấy. Bởi vậy, chửi rủa những người không quen biết về những ý định xấu xa của họ là một việc làm rất bỉ ổi.
– Có điều rất lạ là bà già không hề muốn làm quen với những kẻ ấy - tiến sĩ lẩm bẩm, tai vẫn nghe tôi nói. - Hình như chúng đang bố trí một tình trạng ngoại án.
– Anh nói cứ như là đã phát giác được một chuyện gì đó của họ rồi.
– Thế chị có tin rằng bác gái của mình thực sự nghe được “tiếng trời” không? Tại sao “tiếng trời” lại khuyên bác ấy cúng tiền cho chính giáo phái ấy mà lại không phải một giáo phái nào khác? Tại sao thượng đế cao xa lại sủng ái giáo phái đó và muốn ban cho nó những món tiền của bà già? Chị hãy đồng ý với tôi rằng đã có không ít những vấn đề hấp dẫn được nảy sinh. Tôi là nhà duy vật, người thầy thuốc, nhà tâm lý học, tôi không tin vào “tiếng trời”, vào tâm sự của thượng đế. Bởi vậy việc đầu tiên là tôi nêu ra câu hỏi của các luật gia La Mã cổ đại là: “Cui prodest?” - “Có lợi cho ai?”. Cho chị à? Chắc chắn là không. Cho bác sĩ Re-na à? Chắc gì ông ta đã liên quan với giáo phái đó.
– Thôi đi anh! - tôi lại cáu kỉnh ngắt lời Gia-cốp.
– Tôi chỉ phân tích theo lô-gích thôi - tiến sĩ nhún vai và ân cần rót cà phê nóng mời tôi rồi nói thêm: - Còn về chuyện những trò láu cá của bọn bịp bợm thì xin chị hãy tin ở tôi, tôi đã gặp chúng nhiều hơn chị.
Gia-cốp nói điều đó với một giọng chua xót đến mức làm cho tôi lập tức nhận thấy rằng chính tiến sĩ cũng đã “bị” với chúng rồi. Song tôi không dám hỏi, còn anh thì vẫn tiếp tục với một vẻ tự hào tức cười:
– Hơn một trăm đứa đã bị tôi vạch mặt và đặt vào ghế bị cáo.
– Anh?
– Vâng. Thế ra cô An-ni chưa kể cho chị nghe à? Có lẽ vì thế mà An-ni khuyên chị đến gặp tôi. Đã từ lâu tôi làm công việc săn lùng những tên lừa đảo và bọn bịp bợm.
Tôi lắc đầu:
– Một tiến sĩ triết học, một phù thủy, một nhà ảo thuật khéo léo và lại là một người chiến đấu không khoan nhượng với bọn bịp bợm! Không thể tin được! Làm thế nào mà anh kịp làm hết mọi thứ? Ban ngày làm khoa học, tối đến đi giải trí cho những kẻ ngây ngô bằng các trò ảo thuật. Còn lúc nào mà anh bắt gọn bọn đại bịp? Và tại sao chính anh cũng là kẻ lừa bịp mà lại còn đi bắt chúng? Anh sợ bị cạnh tranh à? Nhưng việc đó, theo ý tôi thì không đẹp mắt tí nào. Vì sao tối qua anh lại quát mắng lão già bất hạnh kia? Trông lão ta có vẻ khốn khổ, ốm yếu như thế, hay đấy cũng là những kẻ đang cạnh tranh với anh?
– Tôi không phải là kẻ lừa bịp mà là nhà ảo thuật - Gia-cốp lên giọng kẻ cả. - Chúng tôi công diễn ở sân khấu hay trong rạp xiếc là để phục vụ những người muốn giải trí bằng các ảo thuật thú vị. Chính vì muốn bị đánh lừa nên họ đã đến xem. Còn bọn bịp bợm và lưu manh lại đánh lừa những kẻ ngây ngô bằng cách lợi dụng sự mê tín dị đoan của họ. Tôi đã tự đặt nhiệm vụ cho mình phải tẩy chay những tên lừa đảo đó. Đối với tôi, đấy là một hình thức tuyên truyền chủ nghĩa vô thần. Rất tiếc là về mặt này luật pháp chúng ta quá rộng rãi. Các loại nhà thờ, các hội chiêm tinh học. “Thuốc thánh”, “Nhà thờ khoa học” - biết bao nhiêu mà kể! Mặc dầu vậy, tôi vẫn tóm được chúng bằng cách vạch ra những ngón bịp, những mánh khóe tinh vi. Lão già tối qua là một nghệ sĩ tuyệt vời, một thiên tài thực sự về kỹ thuật ảo giác. Trước kia có thời chúng tôi đã cùng cộng tác với nhau và cùng nghĩ ra những trò rất diệu kỳ. Lão đã cùng tôi vạch mặt bọn bịp bợm. Nhưng rốt cuộc bọn đểu đã đầu độc, đã bẻ gãy chí khí của lão già. Lão đã đầu hàng, trở thành ma men và quay sang cộng tác với kẻ thù. Lão đi lại với bọn lưu manh và bây giờ đang giúp chúng mê hoặc những kẻ ngây ngô. Tôi không thể nào tha thứ cho lão được.
– Thôi được, thây kệ lão già, tuy rằng tôi cũng thấy thương hại lão. Nhưng anh thực sự nghĩ rằng hình như bác gái tôi đã trở thành nạn nhân của bọn đại bịp rồi à? Bằng cách nào?
– Để làm sáng tỏ điều đó, tôi đành phải đến nhà chị, chị có dám mời tôi không?
Trong khoảnh khắc nào đó, tôi hơi chần chừ câu trả lời. Gia-cốp đã nhận ra điều đó và hỏi:
– Tại sao vậy? Chính chị đã đến nhờ tôi giúp đỡ cơ mà? Hay là chị chưa tin tôi?
– Không, không phải thế đâu! - tôi vội trả lời - Đơn giản là tôi đang nghĩ rằng cần phải gọi điện báo trước cho bác gái biết, không nên bất ngờ lao ập về.
Gia-cốp nhún vai và giễu cợt hỏi:
– Bác gái chị nghiêm lắm à? Luôn luôn bắt buộc phải tuân theo nghi lễ à?
– Không, bác tôi rất hiền lành, mộc mạc và lúc nào cũng hiếu khách.
– Thế thì chúng ta đi thôi - tiến sĩ nói dứt khoát và vội đứng dậy.
– Nhưng anh đang định đi nghỉ mát cơ mà.
– Không hề gì, còn kịp chán - Gia-cốp khoát tay.