Hacker Lược Sử

Lượt đọc: 439 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần II
Hacker phần cứng
bắc california: Thập niên 1970
Chương 8
cuộc nổi dậy năm 2100

Thiết bị đầu cuối công khai đầu tiên của dự án Community Memory (CM) là một cỗ máy xấu xí được đặt tại tiền sảnh lộn xộn nằm trên tầng hai của một tòa nhà xập xệ tại thị trấn cởi mở nhất nước Mỹ – Berkeley, California. Việc máy tính sẽ đến với “người dân” Berkeley là điều không thể tránh khỏi. Và nếu, vào tháng 8 năm 1973, máy tính nhìn chung bị coi là thứ vô nhân đạo, khó khuất phục, hiếu chiến và phi tự nhiên, thì việc áp đặt một thiết bị đầu cuối kết nối tới một trong những con quái vật đó trong một khu vực thường mang tính tích cực như khu tiền sảnh bên ngoài cửa hàng Leopold’s Records trên đại lộ Durant chưa hẳn đã là mối đe dọa tới tình trạng của bất kỳ ai. Đó lại là một loại dòng chảy khác để nương theo.

Việc này có phần hơi thái quá. Giống như một chiếc dương cầm thương hiệu Fender Rhodes bị ép lại, với chiều cao giữ nguyên, nhưng bàn phím nhạc bị thay bằng bàn phím đánh chữ. Các phím đàn được đặt trong một chiếc hộp bìa cứng có nắp kính ở trên. Để chạm vào các phím, bạn phải xỏ ngón tay qua các lỗ nhỏ, như thể đang tự chịu phạt tù trong một trại giam điện tử. Nhưng những người quây quanh thiết bị đầu cuối là kiểu người Berkeley quen thuộc với mái tóc xơ dài, quần jeans áo phông giản dị và mắt long lên đảo điên mà nếu không biết rõ về họ, bạn có thể hiểu nhầm đó là biểu hiện của người dùng chất kích thích. Ngược lại, những ai biết rõ họ đều nhận ra đây là một nhóm người giỏi công nghệ. Họ vui mừng như chưa bao giờ được thế, đắm chìm trong giấc mơ hacker như thể đó là loại cần sa mạnh mẽ nhất Vùng Vịnh.

Nhóm người này tự lấy tên là Community Memory, và theo như một tờ rơi mà họ phát, đây là “hệ thống liên lạc cho phép mọi người kết nối với nhau dựa trên nền tảng những mối quan tâm chung mà không cần để bên thứ ba đánh giá”. Ý tưởng ở đây là tăng tốc độ dòng chảy thông tin trong một hệ thống phi tập trung và phi quan liêu. Ý tưởng này bắt nguồn từ máy tính, và nó chỉ có thể được thực hiện bằng máy tính, trong trường hợp này là một cỗ máy XDS-940 lớn có tính năng chia sẻ thời gian, được đặt trong tầng hầm của một nhà kho tại San Francisco. Bằng việc mở ra một cơ sở máy tính thực hành cho phép mọi người tiếp cận nhau, một ẩn dụ sống đã được tạo ra, một minh chứng cho cách mà những người muốn chống lại chế độ quan liêu có thể sử dụng công nghệ điện toán để tiến hành chiến tranh du kích.

Trớ trêu thay, khu vực dùng chung trên tầng hai bên ngoài Leopold’s Record, cửa hàng đĩa tân thời nhất ở khu vực Vịnh Đông, cũng là nơi đặt bảng tin của các nhạc sĩ, một bức tường phủ đầy thông báo của các ca sĩ ăn chay tìm hợp đồng biểu diễn, những ban nhạc tìm người chơi đàn Dobro, những nghệ sĩ thổi sáo kết hợp thành Jethro Tull 42 tìm người viết nhạc với phong cách tương tự. Đây là một dạng ghép đôi cổ lỗ. Community Memory khuyến khích cái mới. Bạn có thể đặt thông báo của mình vào máy tính và chờ người cần nó nhất truy cập một cách chính xác và tức thời. Và người Berkeley đã không phải đợi lâu để tìm ra các công dụng khác cho cỗ máy:

42 Tên một ban nhạc rock người Anh, thành lập ở Luton, Bedfordshire vào tháng 12 năm 1967. (BTV)

BẠN NÓI HÃY TÌM 1984

HE, HE, HE... CỨ GẮN BÓ VỚI NHAU THÊM 10 NĂM NỮA ĐI

HÃY NGHE ALVIN LEE

RẼ NGÔI TÓC KIỂU KHÁC ĐI

HÃY NHỎ ASPIRIN

THỰC HIỆN MỘT NỖ LỰC CHUNG

RỜI ĐI THÔI

HÃY GIỮ MŨI CHO SẠCH

NHÀ {TRONG PHẠM VI)}

ĐỪNG LÀM ĐAU NHỮNG TRÁI TIM THUỞ XƯA

HÃY NHÌN TÔI, CẢM NHẬN TÔI

WASHINGTON TÁCH KHỎI NƯỚC MỸ

MỞ ĐƯỜNG CHO GIẢI ĐUA XE INDIANAPOLIS 500

THỨC DẬY VÀ RỜI ĐI

NGÃ BÊN VỆ ĐƯỜNG

TỨC GIẬN

HÃY XỐC LẠI TINH THẦN

HÃY ĐỂ NỤ CƯỜI CHỞ CHE CHO BẠN

… VÀ…

TRƯỚC KHI BẠN BIẾT ĐIỀU ĐÓ {}{}{}{}{}{}{}{}{}{}

1984

SẼ

TÌM THẤY

BẠN!

VÀ RỒI MỌI THỨ SẼ ĐÂU VÀO ĐÓ…

TỪ KHÓA: LIÊN KHU 1984 BENWAY TLALCLATLAN

2-20-74

Đó là một sự bùng nổ, một cuộc cách mạng, một cú trời giáng chống lại tổ chức, đi đầu là một Người dùng mất trí – đó là chủ nghĩa người dùng với mục tiêu đến được với mọi người – người đã tự gọi mình là Tiến sĩ Benway, phỏng theo một nhân vật đồi bại và gian ác trong tiểu thuyết Naked Lunch (tạm dịch: Bữa trưa trần trụi) của Burroughs. Nhà tài phiệt Benway này đã đẩy mọi việc đi xa hơn cả những gì mà những người cấp tiến về điện toán tại Community Memory cảm thấy họ có thể đạt tới, và những người cấp tiến điện toán ấy đã rất vui mừng.

Không ai vui hơn Lee Felsenstein. Anh là một trong những người sáng lập Community Memory và dù chưa chắc đã là thành viên có tầm ảnh hưởng nhất, anh vẫn là biểu tượng cho phong trào phổ biến Đạo đức Hacker. Trong thập kỷ tiếp theo, Lee Felsenstein đã đẩy mạnh một phiên bản của giấc mơ hacker mà, như họ thấy, đã làm thất kinh Greenblatt và những người nghiên cứu AI tại Quảng trường Công nghệ bằng sự ngây thơ về công nghệ, nền tảng chính trị và sự sẵn sàng truyền bá nguyên tắc điện toán thông qua thị trường, trong số vô vàn lựa chọn của nó. Nhưng Lee Felsenstein cảm thấy anh chẳng nợ thế hệ hacker đầu tiên này bất kỳ điều gì. Anh là một kiểu hacker mới, một hacker phần cứng dân túy và rời rạc. Mục tiêu của anh là mang máy tính ra khỏi những tòa tháp AI được bảo vệ, khỏi những ngục sâu của các phòng kế toán doanh nghiệp, và cho phép mọi người tự mình khám phá bằng Nhu cầu được Thực hành. Sẽ có những người khác tham gia vào cuộc đấu tranh này cùng anh, những người chỉ đơn thuần hack phần cứng, không vì bất kỳ mục đích chính trị nào khác mà chỉ vì đam mê đơn thuần; những người này sẽ phát triển các cỗ máy và phụ kiện để hoạt động thực hành điện toán trở nên phổ biến tới mức khái niệm cơ bản nhất về nó sẽ thay đổi hoàn toàn – giúp mọi người cùng cảm nhận sự kỳ diệu của điện toán một cách dễ dàng hơn. Lee Felsenstein sẽ gần giống như một vị tướng chỉ huy đối với những đội quân vô chính phủ hung dữ này; nhưng lúc này, với tư cách là thành viên của Community Memory, anh là một phần của nỗ lực tập thể thực hiện những bước đi đầu tiên trong một cuộc chiến quan trọng mà các hacker MIT không bao giờ coi là đáng tham gia: Đó là truyền bá Đạo đức Hacker bằng cách mang máy tính đến với mọi người.

Đây cũng chính là tầm nhìn của Lee Felsenstein về giấc mơ hacker và anh cảm thấy mình đã phải trải qua nhiều khó khăn để giành được nó.

☆ ☆ ☆

Thời niên thiếu của Lee Felsenstein hẳn đã có thể đảm bảo cho anh một vị trí trong giới tinh hoa hacker trên tầng 9 của Quảng trường Công nghệ. Đó chính là sự mê muội đối với điện tử, thứ đam mê ăn sâu bén rễ vô cùng kỳ lạ tới mức bất tuân cả những lý lẽ thông thường. Dù vậy, sau này, Lee Felsenstein cũng cố đưa ra lời giải thích đầy lý trí cho tình yêu của mình đối với điện tử. Khi kể lại những năm tháng đầu tiên, anh đã quy niềm say mê công nghệ của mình về một hỗn hợp phức tạp gồm những thôi thúc tâm lý, cảm xúc và sự sống còn – cũng như Nhu cầu được Thực hành. Và hoàn cảnh đặc biệt của anh đảm bảo rằng anh sẽ trở thành một kiểu hacker khác so với Kotok, Silver, Gosper hay Greenblatt.

Sinh năm 1945, Lee lớn lên ở khu vực Strawberry Mansion thuộc Philadelphia, với các dãy nhà ống là nơi sinh sống của những người nhập cư Do Thái thế hệ thứ nhất và thứ hai. Mẹ anh là con gái của một kỹ sư, người đã phát minh ra bộ phun nhiên liệu diesel quan trọng, và cha anh, một họa sĩ vẽ tranh thương mại, làm việc trong một xí nghiệp sản xuất đầu máy. Sau này, trong một phác thảo tự truyện chưa được công bố, Lee tả người cha Jake của mình “là một người theo chủ nghĩa tân thời coi ‘sự hòa hợp hoàn hảo’ giữa con người và máy móc là hình mẫu cho xã hội loài người. Khi chơi đùa với các con, ông thường giả giọng đầu máy xe lửa như những người cha khác giả giọng động vật.”

Cuộc sống gia đình của Lee không mấy hạnh phúc. Gia đình luôn ở trong trạng thái căng thẳng; các anh chị em cãi vã (giữa Lee, người anh trai Joe lớn hơn anh 3 tuổi và một người em bằng tuổi anh được gia đình nhận nuôi làm em út trong nhà). Những cuộc phiêu lưu chính trị của cha anh với tư cách là đảng viên Đảng Cộng sản đã kết thúc hồi giữa những năm 1950, khi những đấu đá nội bộ khiến Jake mất đi vị trí quận trưởng, nhưng chính trị vẫn là tâm điểm trong cuộc sống gia đình họ. Lee đã tham gia các cuộc diễu hành ở Washington, D.C. năm 12, 13 tuổi và từng đứng gác Woolworth trong một cuộc biểu tình dân quyền thời kỳ đầu. Nhưng khi mọi việc ở nhà trở nên quá căng thẳng, anh đã rút lui tới một phân xưởng dưới tầng hầm chứa đầy linh kiện điện tử được lấy ra từ những chiếc tivi và đài hỏng. Sau này, anh gọi phân xưởng đó là tu viện của mình, một nơi trú ẩn để anh thực hiện lời thề đối với công nghệ.

Đó là nơi mà sự vượt trội về mặt thể chất và học vấn của người anh trai không thể ảnh hưởng được tới Lee Felsenstein. Anh có kỹ năng trong ngành điện tử, thứ giúp anh lần đầu tiên thắng được anh trai mình. Đó là sức mạnh mà anh gần như không dám mở rộng – anh chế tạo ra mọi thứ nhưng không bao giờ dám bật lên, sợ rằng dù chỉ một sai sót nhỏ thôi cũng đủ minh chứng cho lập luận của người anh trai rằng “những thứ đó sẽ chẳng bao giờ hoạt động đâu”. Vì vậy, anh sẽ chế tạo ra một thứ gì đó khác.

Anh thích các ý tưởng về điện tử. Anh vẽ sơ đồ điện kín đặc bìa cuốn vở lớp 6 của mình. Anh đến chi nhánh Thư viện Công Philadelphia gần nhà và xem cuốn Radio Amateur’s Handbook (tạm dịch: Sổ tay vô tuyến điện nghiệp dư). Anh ấn tượng nhất với hướng dẫn của Heath Company về cách chế tạo một bộ thu sóng ngắn. Heath Company chuyên về các dự án điện tử tự làm (“do it yourself” hay DIY), và cuốn cẩm nang hướng dẫn đặc biệt này lại cung cấp các sơ đồ dây và kết nối rất chi tiết. So sánh các linh kiện thực tế cho dự án 5-ống đó với sơ đồ hoàn chỉnh, các bát giác của nó được liên kết với các bát giác khác, Lee đã nhìn thấy kết nối… đường này của giản đồ tượng trưng cho chốt đótrên ổ cắm ống. Anh vui sướng tột độ khi kết nối được thế giới điện tử tưởng tượng mà anh có với thực tại. Anh mang cuốn sách hướng dẫn đi khắp nơi; như một người hành hương mang theo sách kinh vậy. Chẳng bao lâu sau, anh đã hoàn thành các dự án và được minh oan khi giành được giải thưởng cho mô hình vệ tinh không gian của mình ở tuổi 13 – vệ tinh của anh được đặt một cái tên hướng về nước Nga – quê hương của nó, vệ tinh Felsnik.

Tuy nhiên, dù nhìn nhận bản thân theo cách chưa từng có trước đây, mỗi sản phẩm mới của Lee là một cuộc thám hiểm hoang đường khi anh sợ rằng mình không thể có được các linh kiện khiến nó hoạt động. “Tôi luôn thấy các bài viết [trên tờ Popular Mechanics] này viết: ‘Được rồi, nếu có đèn bán dẫn này, bạn có thể chế tạo được một chiếc đài thông thường mà bạn luôn muốn, và hãy nói chuyện với bạn của bạn để kết thêm bạn’... nhưng tôi không bao giờ có thể lấy được linh kiện đó và thực sự không biết làm thế nào để có được chúng, hoặc tôi không thể kiếm đủ tiền để mua nó.” Anh đã tưởng tượng ra giọng điệu chế nhạo của ông anh trai khi gắn cho anh cái mác của một kẻ thất bại.

Khi học năm nhất tại Central High, một trường trung học đặc biệt ở Philadelphia dành cho nam sinh, anh trai Joe, lúc đó đang là học sinh lớp trên, đã bắt anh làm kỹ sư trưởng cho Câu lạc bộ Máy tính mới mở của trường và đưa cho Lee một sơ đồ với vài mạch lật lỗi thời, thách thức cậu em trai chế tạo chúng. Lee không dám từ chối và đã nỗ lực hoàn thành dự án nhưng không thành công. Việc đó khiến anh sợ hãi máy tính trong cả thập kỷ sau đó.

Nhưng trường trung học đã mở mang đầu óc cho Lee – anh tham gia các nhóm chính trị, tiến hành một số nghiên cứu về máy gia tốc của trường, và đọc một số tác phẩm quan trọng – đặc biệt là một số tiểu thuyết của Robert Heinlein.

Cậu thanh niên Do Thái mảnh khảnh, đeo kính, vì lý do nào đó đã đồng cảm với những người người tán thành thuyết vị lai, đặc biệt là người lính trẻ ngây thơ trong tác phẩm Revolt in 2100 (tạm dịch: Cuộc nổi dậy năm 2100). Cuốn tiểu thuyết lấy bối cảnh chế độ độc tài thế kỷ XXI 43 , nơi một tổ chức duy tâm bí mật và tận tụy đang âm mưu chiến đấu chống lại lực lượng của Giáo đồ, một kẻ sát nhân kiểu Orwellian 44 với quyền lực vô hạn, đang được đám đông thiếu suy nghĩ ủng hộ và tôn sùng. Nhân vật chính tình cờ phát hiện ra bằng chứng về thái độ đạo đức giả của Giáo đồ và bị ép phải lựa chọn giữa tà và đạo, anh đã thực hiện một bước đi mạnh mẽ là gia nhập Đảng cách mạng, nơi đem đến cho anh lời chỉ dạy kích thích trí tưởng tượng của mình.

43 Trong bản gốc, tác giả sử dụng nguyên tác “the twenty-first century” ý chỉ thế kỷ XXI. Tuy nhiên, đúng ra, năm 2100 thuộc thế kỷ XXII. Vì vậy, ở đây có thể do nhầm lẫn của tác giả và chúng tôi xin phép được chuyển nghĩa thuần từ bản gốc, nhằm tôn trọng tác giả. (BTV)

44 “Orwellian” là một từ dùng để mô tả một tình huống, ý tưởng hay điều kiện xã hội mà nhà văn George Orwell xác định là phá hủy sự thịnh vượng của một xã hội mở và tự do. (ND)

Lần đầu tiên trong đời, tôi đọc những thứ không được Giáo đồ phê chuẩn và kiểm duyệt, và chúng đã ảnh hưởng sâu sắc đến tâm trí tôi. Đôi khi, tôi liếc ra sau để xem có ai đang theo dõi mình không, và sợ khiếp vía. Tôi bắt đầu cảm nhận một cách yếu ớt rằng việc giữ bí mật là yếu tố then chốt trong tất cả chính thể chuyên chế.

(Trích Revolt in 2100)

Sau khi đọc xong cuốn tiểu thuyết đó, Lee Felsenstein đọc tiếp đến Stranger in a Strange Land (tạm dịch: Người lạ trên vùng đất lạ), trong đó nhân vật chính ngoài Trái đất của Heinlein đã trở thành nhà lãnh đạo của một nhóm tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội, anh bắt đầu coi cuộc sống của mình là một thứ gì đó giống như tiểu thuyết khoa học viễn tưởng. Sau này anh kể lại, các cuốn sách đã mang đến cho anh động lực mơ ước những điều lớn lao, thử nghiệm những dự án đầy rủi ro và trưởng thành vượt ra khỏi những mâu thuẫn tình cảm của cá nhân. Nhìn chung, cuộc chiến vĩ đại ấy không liên quan nhiều đến yếu tố nội tại mà là lựa chọn bề ngoài, giữa thiện và ác. Giữ nguyên ý niệm lãng mạn ấy trong tim, Lee tự coi mình là một người bình thường có tiềm năng, bị hoàn cảnh ép buộc phải chọn con đường khó khăn song hành cùng cái thiện, bước vào một cuộc phiêu lưu dài để lật đổ cái ác.

Không lâu trước đó, Lee đã có thể áp dụng ẩn dụ này vào thực tế. Sau khi tốt nghiệp, anh đăng ký học chuyên ngành Kỹ thuật Điện tại Đại học California ở Berkeley. Anh đã không thể đạt được học bổng. Năm nhất của anh không giống với một hacker MIT thông thường: Anh khá tuân thủ các quy tắc, và xém chút nữa thì đạt được học bổng. Nhưng anh đã đạt được một thứ tuyệt vời không kém – một công việc vừa học vừa làm ở Trung tâm Nghiên cứu Đường bay của NASA thuộc Căn cứ Không quân Edwards nằm ở ven sa mạc Mohave. Đối với Lee thì đây là tấm vé bước vào Thiên đường – thứ ngôn ngữ mà mọi người sử dụng ở đó là điện tử, điện tử tên lửa, và các giản đồ mà anh đã nghiên cứu giờ đây sẽ được biến hóa thành vật liệu của khoa học viễn tưởng trong hiện thực. Anh say sưa trong tình anh em giữa các kỹ sư, thích thắt cà vạt, tản bộ bên ngoài văn phòng, ngắm nhìn những dãy văn phòng và máy làm mát bằng nước. Heinlein đã bị lãng quên – còn Lee thì thuận theo và trở thành một kỹ sư trong vô vàn kỹ sư ở đây. Anh vô cùng hạnh phúc khi phục vụ Giáo đồ. Sau hai tháng trên “thiên đường thứ bảy” ấy, như cách anh gọi nơi đây, anh bị triệu tập đến gặp một nhân viên an ninh.

Nhân viên này có vẻ không thoải mái. Anh ta đi cùng một nhân chứng lo ghi biên bản cuộc gặp. Nhân viên an ninh ghi chú và yêu cầu Lee ký tên vào các trang mỗi khi anh ta viết xong. Anh ta cũng cầm theo biểu mẫu mà Lee từng điền khi nhập học ở trường Edwards, Biểu mẫu An ninh 398. Nhân viên này liên tục hỏi Lee có quen thành viên Đảng Cộng sản nào không. Và Lee luôn trả lời là không. Cuối cùng, anh ta hỏi bằng một chất giọng nhẹ nhàng: “Cậu không biết rằng cha mẹ mình là Cộng sản sao?”

Lee chưa từng được nghe về điều đó. Anh coi “Cộng sản” chỉ là một thuật ngữ – truy nã những người cộng sản – mà người ta gán cho những nhà hoạt động xã hội theo chủ nghĩa tự do như cha mẹ anh. Anh trai anh biết – anh ấy được đặt tên theo Stalin! – nhưng Lee thì không biết gì. Anh đã hoàn toàn trung thực khi điền vào Biểu mẫu 398 với câu trả lời “Không” rõ ràng tại dòng hỏi xem anh có biết bất kỳ người cộng sản nào không.

“Và thế là tôi bị đuổi khỏi Thiên đường,” Lee kể lại, “và giám đốc an ninh đã nói: ‘Cứ giữ lý lịch trong sạch của cậu thêm vài năm nữa rồi quay lại, chẳng có vấn đề gì cả đâu.’ Giờ đây, tôi luôn sẵn sàng với tâm thế bị đuổi. Tôi đã bị thế. Bị ném ra nơi hoang dã theo đúng nghĩa đen. Chúa ơi, sa mạc Mohave ở ngay ngoài đó!”

Vào đêm ngày 14 tháng 10 năm 1964, Lee Felsenstein, một kỹ sư thất bại, đã bắt tàu quay trở lại Berkeley. Qua đài phát thanh, Lee biết tin về các cuộc biểu tình của sinh viên ở đó bắt đầu từ hai tuần trước; anh từng gạt bỏ ý nghĩ coi họ như một phiên bản hiện đại của các cuộc tấn công huyền thoại đã xảy ra vào năm 1952. Nhưng khi quay lại, anh thấy toàn bộ cộng đồng đã sống sót cùng với Phong trào Tự do Ngôn luận. “Bí mật là yếu tố then chốt của mọi chính thể chuyên chế,” nhân vật chính trong Revolt in 2100 của Heinlein từng nói, và câu nói ấy không chỉ đúng với lời kêu gọi của cuộc cách mạng Berkeley mà với cả Đạo đức Hacker. Lee Felsenstein đã thực hiện một sự thay đổi lớn – anh gia nhập cách mạng. Nhưng anh sẽ kết hợp sự hăng hái với tài năng đặc biệt của riêng mình. Anh sẽ dùng công nghệ để ủng hộ cho cuộc nổi dậy này.

Nhờ sở hữu một máy ghi âm, anh đã tới Press Central, trung tâm báo chí của phong trào và đóng góp tài năng của mình với tư cách là kỹ thuật viên âm thanh. Anh cũng đóng góp chút công sức: sao chép bằng máy in rô-nê-ô 45 và làm việc vặt. Anh đã được cấu trúc phi tập trung hóa của Phong trào Tự do Ngôn luận truyền cảm hứng. Ngày 2 tháng 12, khi hơn 800 sinh viên chiếm lấy Sproul Hall, Lee đã ở đó với chiếc máy ghi âm của mình. Cuối cùng, cuộc chiến đã thắng lợi. Nhưng chiến tranh thì mới chỉ bắt đầu.

45 Một loại máy in quay tay có chi phí thấp. Nó hoạt động bằng cách quay một cái trục lăn trên có gắn giấy sáp đã đánh máy hoặc viết, vẽ. (BTV)

Trong vài năm tiếp theo, Lee đã cân bằng hai vai trò có vẻ không tương thích của mình, một nhà hoạt động chính trị và một kỹ sư ẩn dật trốn tránh xã hội. Phong trào không có nhiều khuynh hướng mang tính kỹ thuật, công nghệ, và đặc biệt, máy tính bị cho là thế lực ma quỷ. Lee đã tìm đủ mọi cách để tổ chức mọi người trong ký túc xá của mình, Oxford Hall – khu vực mang tính chính trị nhất trong trường. Anh cũng là người biên tập tờ báo của ký túc xá. Nhưng anh cũng tìm hiểu thêm về điện tử, chơi điện tử, đắm mình vào môi trường logic của mạch điện và đi-ốt. Anh cố gắng kết hợp hai hành động này càng nhiều càng tốt – chẳng hạn, anh đã thiết kế một công cụ, kết hợp chiếc loa pin và dùi cui để tấn công cảnh sát. Nhưng không như nhiều người trong phong trào chìm đắm trong các hoạt động xã hội bừa bãi của Berkeley, Lee né tránh tiếp xúc gần gũi với mọi người, đặc biệt là với phụ nữ. Mang bộ dạng nhếch nhác tới nơi làm việc, Lee tự gán cho mình cái mác kỹ sư mọt sách. Anh không tắm thường xuyên, và chỉ chịu gội mái tóc bú rù của mình mỗi tháng một lần. Anh không dùng chất kích thích. Anh cũng chẳng biết ân ái là gì chứ đừng nói đến tự do tình dục đi kèm với tự do ngôn luận. “Tôi sợ phụ nữ và không biết phải ứng xử ra sao với họ,” anh giải thích. “Tôi có một vài điều cấm kỵ trong việc chống lại những thú vui. Tôi không cho phép mình vui vẻ. Sự vui thú nằm trong công việc của tôi… Như thể việc xác nhận năng lực của tôi nằm ở khả năng chế tạo ra những thứ hoạt động được còn những người khác thì thích nó.”

Lee rời Berkeley năm 1967, anh vừa làm các công việc điện tử vừa hoạt động trong phong trào. Năm 1968, anh gia nhập tờ báo ngầm Berkeley Barb với tư cách là “biên tập viên quân sự”. Tham gia công ty của những tác giả khác như Sergeant Pepper và Jefferson Fuck Poland, Lee đã viết loạt bài đánh giá các cuộc biểu tình – không phải về bản chất vấn đề mà là về tổ chức, cấu trúc, và sự thích ứng với một hệ thống tao nhã. Trong bài viết đầu tiên của mình, vào tháng 3 năm 1968, Lee đã nói về cuộc biểu tình Stop-the-Draft Week 46 sắp tới, ghi nhận kết quả chắc chắn của việc thiếu kế hoạch và tranh cãi vụn vặt giữa những người tổ chức: “Hoạt động chưa chín muồi, còn hỗn loạn và chẳng khác gì các cuộc biểu tình khác. Các chính trị gia phong trào dường như không nhận ra rằng trong thế giới thực, hành động không được triển khai dựa trên sự tỉ mỉ ý thức hệ mà dựa trên thời gian và các nguồn lực vật chất… Nhiệm vụ của tôi với tư cách của một nhà chuyên môn, không chỉ là phản biện mà còn là đưa ra các gợi ý nữa…”

46 Cuộc biểu tình phản đối chế độ quân dịch tham gia chiến tranh Việt Nam có quy mô lớn nhất tính đến đầu thập niên 1970. (BTV)

Và đúng là anh đã đưa ra các gợi ý của mình. Anh khăng khăng rằng các cuộc biểu tình nên được triển khai rõ ràng như các mạch logic được định rõ bằng các giản đồ chính xác mà anh vẫn tôn sùng. Anh tán dương những người biểu tình khi họ đập vỡ “đúng cửa sổ” (ngân hàng chứ không phải các doanh nghiệp). Anh ủng hộ các cuộc tấn công nhằm khiến quân địch rút lui. Anh gọi việc dội bom một hội đồng tuyển chọn nhân sự phục vụ quân đội không tự nguyện là việc làm “tươi mới”. Chuyên mục “Military Editor’s Household Hints” (tạm dịch: Gợi ý cho các hộ gia đình từ biên tập viên quân sự) đưa ra lời khuyên: “Nhớ lật thuốc nổ dynamit trữ trong kho hai tuần một lần trong điều kiện thời tiết oi bức. Việc đó sẽ giúp nitro glycerin không bị dính.”

Nhân vật chính của Heinlein trong Revolt in 2100 từng nói: “Cách mạng không song hành với nhóm những kẻ âm mưu tụ tập thì thầm quanh ánh nến lập lòe trong đống đổ nát bỏ hoang. Nó đòi hỏi vô vàn các đồ tiếp tế, máy móc hiện đại, vũ khí tối tân… và không thể thiếu lòng trung thành… cùng đội ngũ cán bộ xuất sắc.” Năm 1968, Lee Felsenstein viết: “Cách mạng không phải là một cuộc cãi lộn ngẫu nhiên trên đường phố. Nó đòi hỏi khả năng tổ chức, tiền bạc, sự bền bỉ cương quyết và sẵn sàng chấp nhận cũng như kiến tạo dựa trên những thảm họa của quá khứ.”

Felsenstein có vai trò riêng. Trong phiên tòa của Oakland Seven, luật sư biện hộ Malcolm Burnstein nói: “Chúng ta không cần những bị đơn này ở đây… đáng lẽ người đó phải là Lee Felsenstein.”

☆ ☆ ☆

Vào mùa hè năm 1968, Lee Felsenstein đã đăng một quảng cáo trên tờ Barb. Quảng cáo đó không rõ ràng lắm: Một người đa tài, kỹ sư và là nhà cách mạng, tìm người nói chuyện. Không lâu sau, một người phụ nữ có tên Jude Milhon đã thấy quảng cáo đó. So với những lời mời gọi nhớp nhúa khác ở các trang sau của tờ Barb (“CHỈ PHỤ NỮ THÔI! Ta thèm khát đôi chân em”) thì có vẻ như quảng cáo này là của một người đàn ông tao nhã. Đó là thứ mà Jude cần trong những năm tháng dữ dội đó – là một nhân vật kỳ cựu của phong trào dân quyền kiêm nhà hoạt động phong trào lâu năm, nhưng cô vẫn kinh ngạc trước các sự kiện chính trị và xã hội của năm 1968. Dường như thế giới sắp sửa chia tách.

Jude không chỉ là một nhà hoạt động xã hội mà còn là một lập trình viên máy tính. Cô từng quen một người đàn ông tên là Efrem Lipkin cũng tham gia phong trào, anh ta là một phù thủy máy tính. Lipkin đã gửi cho cô các câu đố để giải trí – khi ấy cô sẽ không ngủ chừng nào còn chưa giải được chúng. Cô đã học lập trình và thấy nó khá thú vị, dù không bao giờ hiểu được tại sao các hacker lại ám ảnh với nó đến thế. Efrem sẽ từ Bờ Đông đến thăm cô ở Bờ Tây trong vài tháng, nhưng trong lúc chờ đợi, cô vẫn thấy cô đơn đến nỗi cần bắt chuyện với người đàn ông đăng quảng cáo trên tờ Barb.

Jude là một phụ nữ tóc vàng có dáng người mảnh khảnh với đôi mắt xanh kiên định, đã ngay lập tức hớp hồn Lee – một gã “mọt công nghệ điển hình” – theo cách của riêng anh. Nhờ sự chủ động bầu bạn, và đặc biệt là sự thẳng thắn kiên định được mài giũa qua vô số các buổi tự đánh giá tại các tập thể khác nhau, Jude đã bắt đầu quá trình miệt mài khám phá các tính cách của Lee Felsenstein. Mối quan hệ của họ không chỉ đơn thuần là hẹn hò, cả hai vẫn duy trì mối quan hệ tốt đẹp sau khi bạn trai của cô từ Bờ Đông tới. Lee đã kết bạn với Efrem – anh không chỉ là một nhà hoạt động xã hội mà còn là một hacker máy tính. Không giống như Lee, Efrem không cho rằng công nghệ có thể giúp đỡ thế giới; nhưng dù sao đi nữa, sự thận trọng kéo dài hàng thập kỷ của Lee với máy tính cũng sắp sửa kết thúc, bởi vào năm 1971, Lee đã có một người bạn cùng phòng mới – đó là chiếc máy tính XDS-940.

Chiếc máy thuộc về nhóm Nguồn lực Số Một, một bộ phận trong Dự án Số Một của các nhóm thuộc Vùng Vịnh với sứ mệnh thúc đẩy các chương trình nhân văn và tuyên truyền cộng đồng. “Số Một” đã được khởi xướng bởi một kỹ sư-kiến trúc sư, người muốn đem lại cho các chuyên gia thất nghiệp một thứ gì đó hữu ích để tận dụng các kỹ năng của họ, giúp đỡ cộng đồng và bắt đầu xua tan “không khí kiểu tinh hoa, và thậm chí là thần bí đang tràn ngập khắp thế giới công nghệ”. Nhóm Nguồn lực Số Một là một trong số các dự án tại nhà kho 5 tầng màu vàng nhạt tại một khu công nghiệp của San Francisco. Nhóm gồm những người “tin rằng các công cụ công nghệ có thể thay đổi xã hội khi được điều khiển bởi con người”. Các thành viên của Nguồn lực Số Một đã thuyết phục được Tập đoàn Transamerica cho họ mượn một chiếc máy tính chia sẻ thời gian XDS-940 chưa được sử dụng, vì thế Số Một có thể bắt đầu luân phiên thu thập các danh sách thư, thiết lập các chương trình đào tạo máy tính, các dự án nghiên cứu kinh tế và “mở mang đầu óc cho công chúng nói chung”.

Cỗ máy ấy chính là gã Khổng lồ Xanh trị giá 800.000 đô-la vốn đã lỗi thời. Nó choán hết cả một căn phòng, và cần có hệ thống điều hòa không khí nặng 23 tấn. Ngoài ra, nó còn cần một quản trị viên hệ thống toàn thời gian đảm trách nhiệm vụ vận hành. Nguồn lực Số Một cần một hacker và Lee Felsenstein có vẻ là một lựa chọn hợp lý.

Phần mềm hệ thống được một hacker Xerox thuộc Trung tâm Nghiên cứu Palo Alto (Palo Alto Research Center – PARC) thiết lập, người đã viết hệ thống chia sẻ thời gian ban đầu cho 940 tại Berkeley. Anh ta là một phiên bản râu ria với mái tóc dài của Peter Deutsch – cậu bé 12 tuổi đã săm soi bàn điều khiển của TX-0 từ 12 năm về trước. Là một học viên cao học Berkeley, anh ta đã xoay xở để pha trộn phong cách sống cởi mở đậm chất California với phong cách hack dữ dội ở PARC.

Nhưng chính Lee mới là người trông coi cỗ máy. Tiếp tục quá trình thần thoại hóa cuộc sống của mình như một tiểu thuyết khoa học viễn tưởng, anh xem thời kỳ này là cơ hội để một lần nữa chìm đắm vào vai trò phi xã hội của một người có bạn thân nhất là một cỗ máy, một nhà duy mỹ công nghệ hy sinh bản thân để phục vụ Cách mạng. Tu viện lần này nằm ở tầng hầm trong nhà kho của Nguồn lực Số Một; anh đã thuê một phòng ở đây với mức giá 30 đô-la. Căn phòng quá xập xệ, không có nước máy, ẩm thấp và bẩn thỉu.

Nhưng với Lee, nó rất hoàn hảo – “tôi đã trở thành một kẻ đầy tớ vô hình, một phần của cỗ máy này”.

Nhưng Nguồn lực Số Một đã khiến Lee thất vọng, anh đã vượt xa nhóm này trong việc nhận ra rằng ứng dụng xã hội của công nghệ sẽ phụ thuộc vào việc thực hành những thứ giống như Đạo đức Hacker. Những người khác trong nhóm đã không trưởng thành cùng với khao khát dành cho công nghệ thực hành… họ không kết nối với nó theo bản năng mà dựa trên trí tuệ. Vì thế, họ sẽ tranh luận về việc máy tính nên được sử dụng như thế nào thay vì bỏ qua lý thuyết và thực sự bắt đầu sử dụng nó. Việc này khiến Lee phát điên.

Sau này, Lee giải thích: “Chúng tôi là những kẻ hợm hĩnh, những nhà duy mỹ quá quắt. Bất kỳ ai muốn dùng cỗ máy cần phải đến và phản biện về trường hợp của họ trước cuộc họp của chúng tôi. Họ phải đưa ra lý lẽ đủ hợp lý để có thể sử dụng nó.” Lee muốn thay đổi quan điểm của nhóm theo hướng giống hacker hơn, cởi mở với thực hành hơn nhưng không có đủ can đảm để thực hiện nỗ lực xã hội này – anh quá tự ti. Anh thậm chí hiếm khi đủ can đảm để bước ra khỏi tòa nhà và đối mặt với thế giới – và nếu có làm vậy đi nữa, anh lại quá rầu rĩ khi nhận thấy rằng những kẻ ăn mày trong khu phố trông còn sạch sẽ và tươm tất hơn mình. Những người khác trong nhóm đã cố gắng giúp anh cởi mở hơn; có lần trong một cuộc họp, họ đã mượn một chiếc máy quay truyền hình từ một nhóm video ở tầng trên, và mỗi khi nhóm pha trò, họ lại phóng to mặt Lee, nhưng mặt anh lúc nào cũng lạnh như tiền. Xem lại đoạn băng sau đó, anh có thể thấy mình trông ra sao – một kẻ vô cảm. “Tôi cảm thấy mình đúng là một kẻ máu lạnh,” anh nói. “Tôi có thể thấy điều đó nhưng không thể làm gì được.”

Sau trải nghiệm đó, anh đã chủ động hơn trong việc gây ảnh hưởng tới nhóm. Anh đã đối đầu với một kẻ lười biếng chỉ lề mề nhấm nháp cà phê suốt ngày. “Cậu đang làm gì thế?” Lee hỏi. Anh chàng đó bắt đầu thao thao bất tuyệt nói về các ý tưởng mơ hồ, và Lee nói: “Tôi không hỏi cậu muốn làm gì, tôi đang hỏi cậu đã làm được gì rồi?” Nhưng anh nhanh chóng nhận ra việc trách cứ một người vì những chuyện vặt vãnh thật không đáng: Giống như một cỗ máy thiếu hiệu quả, bản thân cấu trúc của nhóm thực sự có vấn đề. Đó là một tập thể quan liêu. Và phần hacker trong con người Lee không thể chịu đựng được điều đó. May mắn thay, vào mùa xuân năm 1973, Efrem Lipkin đã đến với Nguồn lực Số Một, giúp giải cứu Lee Felsenstein và dự án Community Memory cất cánh.

Efrem Lipkin là anh chàng sở hữu đôi mắt sâu, khuôn mặt dài kiểu tộc người Semit, và chẳng cần nói nửa lời, anh cũng có thể cho bạn biết thật đáng buồn là thế giới không hoàn hảo và bạn cũng thế. Đó là khí chất của một người theo chủ nghĩa thuần túy nhưng không thể đạt được các tiêu chuẩn chính xác của mình. Efrem vừa trở lại từ Boston, nơi anh đang làm việc cho một công ty tư vấn điện toán. Công ty này chuyên triển khai các hợp đồng liên quan đến quân đội và Efrem quyết định nghỉ việc. Lập trình viên duy tâm này đã không thông báo cho cấp trên của mình – anh cứ thế thôi việc, hy vọng rằng dự án sẽ bị hoãn lại vì sự vắng mặt của mình. Sau 9 tháng, thời gian mà công ty cho rằng anh đã hack ở một nơi khác, dù rõ ràng là không có chương trình nào như vậy, vị chủ tịch công ty đã đến phòng trọ ổ chuột ở Cambridge của anh và hỏi: “Tại sao cậu lại làm thế?” Ông nói với Efrem rằng ông đã thành lập công ty sau khi Martin Luther King qua đời – để làm những việc tốt. Ông khăng khăng rằng các dự án mình đang thực hiện sẽ giúp đất nước chống lại mạnh mẽ các hiểm họa công nghệ đến từ Nhật Bản. Efrem chỉ thấy rằng công ty mà họ đang hợp tác có dính líu đến vũ khí có tính sát thương trong chiến tranh. Làm sao anh có thể làm việc cho một công ty như vậy? Làm sao anh có thể thực hiện bất kỳ công việc điện toán nào khi thấy các ứng dụng có hại quá thường xuyên?

Câu hỏi đó đã đeo đẳng Efrem Lipkin trong suốt nhiều năm.

Efrem Lipkin đã là hacker từ thời phổ thông. Anh đam mê máy tính ngay khi thấy nó và nhận ra rằng lập trình là “hoạt động vô cùng kỳ quái – tôi đã quên mất cách nói tiếng Anh. Trí óc tôi làm việc dưới các dạng thức điện toán.” Nhưng không giống như một vài cộng sự trong một chương trình đặc biệt có quy mô toàn thành phố dành cho những người sử dụng máy tính tại trường phổ thông ở New York, Efrem cũng coi tài năng phi thường của mình trong lĩnh vực điện toán là một lời nguyền. Giống như Lee, anh đến từ một gia đình chính trị cánh tả, và bên cạnh việc khiến các giáo viên dạy toán phải sững sờ, anh còn bị ném ra khỏi lớp vì không chịu chào cờ, và bị đuổi khỏi giờ lịch sử vì gọi giáo viên là kẻ dối trá. Không giống như Lee, một người tìm cách kết hợp công nghệ và chính trị, Efrem quan sát chúng ở hai thế đối lập – một thái độ khiến anh luôn rơi vào tình trạng hỗn loạn.

“Tôi thích máy tính nhưng ghét những gì chúng có thể thực hiện,” anh cho biết. Thời trung học, anh đã thấy các ứng dụng thương mại của những chiếc máy tính lớn – chẳng hạn như gửi hóa đơn – không hề thú vị chút nào. Nhưng khi Chiến tranh Việt Nam nổ ra, anh bắt đầucoi những thứ đồ chơi ưa thích của mình là công cụ hủy diệt. Anh đã sống ở Cambridge một thời gian, và một hôm, anh mạo hiểm đi lên tầng 9 của Quảng trường Công nghệ. Anh thấy chiếc PDP-6, thấy vị thế dẫn đầu nhỏ bé nhưng hoàn hảo của Đạo đức Hacker đang được thiết lập ở đó, thấy sự điêu luyện và đam mê tập trung – nhưng đầu óc chỉ nghĩ đến nguồn gốc của khoản tiền tài trợ và những ứng dụng sau cùng của thứ ma thuật chưa được kiềm chế này. “Tôi quá buồn tới mức bật khóc,” anh kể lại. “Bởi những người này đã cướp đi nghề nghiệp của tôi. Họ đã khiến việc trở thành một con người điện toán là không thể. Họ đã bán hết các ứng dụng công nghệ xấu xa cho quân đội. Họ là một công ty con thuộc sở hữu của Bộ Quốc phòng.”

Vì thế, Efrem đã dạt tới California, sau đó quay lại Bờ Đông, rồi lại trở về California. Phải mất một thời gian anh mới thấy máy tính có thể được dùng để phục vụ xã hội như thế nào. Một dự án thú vị mà anh tham gia là trò chơiWorld (Thế giới). Một nhóm lập trình viên, triết gia và kỹ sư California đã xây dựng một giả lập về thế giới. Trò chơi dựa trên một ý tưởng của Buckminster Fuller, mà ở đó bạn có thể thử nghiệm đủ loại thay đổi rồi xem tác động của chúng lên thế giới. Trong nhiều ngày, mọi người cùng nhau đưa ra các gợi ý và chạy trò chơi trên máy tính. Không có nhiều gợi ý về cách vận hành thế giới nhưng nhiều người đã gặp được những người có quan điểm tương tự như họ.

Không lâu sau, Efrem tình cờ biết đến Nguồn lực Số Một, biết Lee đang phải ngụp lặn trong đống lầy lội đó. Anh cho rằng nhóm này chỉ là những kẻ bất lực. Vì dù sở hữu những thiết lập tuyệt vời dành cho một chiếc máy tính hay một phần mềm nào đó cho các cơ sở dữ liệu cộng đồng và tổng đài nhưng nhóm lại không tận dụng được hết khả năng. Tại sao không đưa thiết lập tuyệt vời đó đến với công chúng? Efrem bắt đầu cảm thấy hứng thú với ý tưởng đó và có lẽ đó là lần đầu tiên trong đời anh thấy máy tính có thể thực sự được sử dụng để phục vụ xã hội như thế nào. Anh đã khiến Lee nghĩ về điều đó, và đưa về một số người khác mà anh gặp ở trò World.

Ý tưởng ở đây là thiết lập một đơn vị cho Nguồn lực Số Một gọi là Community Memory. Đưa máy tính đến với công chúng, để mọi người tự do tạo ra các kết nối của riêng họ. Felsenstein đã vận động các thành viên của Nguồn lực Số Một đầu tư một văn phòng ở Berkeley, đồng thời dùng nó làm căn hộ cho mình. Vì thế nhóm Community Memory đã chuyển tới Berkeley để vận hành hệ thống. Lee cũng cảm thấy được giải phóng khỏi sự thể chế hóa mà anh tự áp đặt cho mình. Anh là một phần của một nhóm thấm đẫm tinh thần hacker, sẵn sàng thực hiện điều gì đó với máy tính, và tất cả đều gắn bó với ý tưởng rằng việc truy cập các thiết bị đầu cuối sẽ giúp liên kết mọi người lại với nhau một cách hiệu quả chưa từng thấy và sau cùng sẽ làm thay đổi thế giới.

☆ ☆ ☆

Community Memory không phải là nỗ lực duy nhất đang diễn ra nhằm đem máy tính tới cộng đồng. Khắp Vùng Vịnh, các kỹ sư và lập trình viên, những người yêu thích máy tính và mang hơi hướng chính trị trong suốt phong trào phản chiến, đã nghĩ về việc kết hợp hai hoạt động đó với nhau. Có một nơi đặc biệt có vẻ đã kết hợp sự bất kính phản văn hóa, dễ dãi với động cơ truyền bá để mọi người, đặc biệt là trẻ em, có thể tiếp xúc với máy tính. Đó là People’s Computer Company (PCC). Đúng như phong cách kỳ quái của các nhà sáng lập, PCC không phải là một công ty thực thụ. Tổ chức này định kỳ xuất bản một tạp chí dưới tên của nó, nhưng thứ duy nhất thực sự được tạo ra là một cảm giác mãnh liệt dành cho mục tiêu điện toán. Lee Felsenstein thường tham gia các bữa tối dưới dạng góp gạo thổi cơm chung 47 vào thứ Tư của PCC, nơi mang tới không gian hội họp chung cho các thành viên phản văn hóa điện toán ở Vùng Vịnh, đồng thời cũng là cơ hội để Bob Albrecht cố gắng dạy mọi người điệu nhảy dân gian Hy Lạp không biết bao nhiêu lần.

47 Nguyên tác là “potluck”: Dạng bữa tối mà ở đó những người tham gia mang tới một món ăn (thường là tự làm) và chia sẻ đồ ăn do những người khác mang tới. (ND)

Bob Albrecht là một người có tầm nhìn xa trông rộng đứng sau PCC mà như Lee Felsenstein kể lại, anh coi việc “để trẻ tiếp xúc với máy tính chẳng khác nào việc quấy rối trẻ em” một gã pê-đê đầy ám ảnh.

Mùa xuân năm 1962, Bob Albrecht đã bước vào một lớp học và có một trải nghiệm làm thay đổi cuộc đời anh. Albrecht, người sau này làm chuyên viên phân tích ứng dụng cao cấp cho Control Data Company, đã được đề nghị nói chuyện với Câu lạc bộ toán học phổ thông tại trường phổ thông George Washington của Denver. Albrecht là một người đàn ông to lớn, đeo cà vạt kẹp, có mũi to, đôi mắt màu xanh nước biển sáng bừng lên khi có ý tưởng nào đó hoặc sa sầm xuống đằng sau cặp kính vành vuông. Anh mang tới những buổi nói chuyện nhỏ về máy tính và thường hỏi xem liệu ai trong số 32 học sinh của mình muốn học lập trình máy tính. Khi đó, cả 32 cánh tay đều giơ lên.

Albrecht chưa từng thấy bất kỳ phản ứng nào như thế khi dạy FORTRAN cho các học sinh yếu kém, mà sau này anh gọi là “khóa học một ngày dành cho những người tới trường học của IBM nhưng chẳng học được gì”. Albrecht không thể hiểu nổi tại sao IBM có thể cung cấp các lớp học cho những người đó mà không để họ làm bất kỳ điều gì. Thậm chí, sau này anh biết rằng tên của trò chơi đó là Thực hành, cái tên vốn có từ lúc anh bắt đầu làm việc với máy tính từ năm 1955 tại đơn vị hàng không Honeywell. Dù đó là một công việc thành công nhưng anh luôn chán nản với cơ chế quan liêu của nó. Bob Albrecht thích một môi trường linh hoạt hơn; anh là một sinh viên có khả năng phát hiện ra những bất ngờ và may mắn trong phong cách sống và quan điểm. Anh có mái tóc ngắn, áo sơ mi cài khuy và đã lập gia đình – một vợ, ba con, một chú chó – không có gì đặc biệt. Dù vậy, bên cạnh những điều đó, Bob Albrecht còn là một vũ công Hy Lạp, háo hức muốn bùng nổ với ouzo và bouzouki 48 . Nhảy Hy Lạp, rượu và máy tính là ngọn nguồn sức mạnh của Bob Albrecht. Anh đã giật mình khi thấy các học sinh trung học háo hức như thế nào khi thỏa mãn thú vui máy tính, thứ quyến rũ nhất trong cả ba.

48 Tên của một loại rượu và một loại nhạc cụ truyền thống của Hy Lạp. (BTV)

Anh bắt đầu dạy các lớp buổi tối cho học sinh ở văn phòng của Control Data. Albrecht phát hiện ra rằng những người trẻ vô cùng hào hứng với việc học cách kiểm soát chiếc máy tính 160A của công ty. Anh đang chỉ cho những đứa trẻ ấy một cách sống mới. Và anh cũng là người ban cho chúng sức mạnh.

Khi đó, dù không nhận ra nhưng Albrecht đã truyền bá những nguyên tắc của Đạo đức Hacker khi các học sinh trao đổi chương trình và chia sẻ các kỹ thuật với nhau. Anh bắt đầu mường tượng ra một thế giới mà ở đó máy tính sẽ dẫn tới một phong cách sống mới đầy tự do. Nhưng chỉ khi nào chúng có sẵn... Dần dần, anh bắt đầu nhìn ra sứ mệnh của đời mình – truyền bá phép màu ấy ra khắp nơi.

Albrecht đã thuê bốn học sinh giỏi nhất của mình làm công việc lập trình với giá khoảng 1 đô-la/giờ. Họ đã ngồi vào bàn, háo hức nhập các chương trình để giải hàm bậc hai. Cỗ máy sẽ chấp nhận các thẻ của họ và lọc cọc chạy trong khi họ quan sát một cách vui sướng. Sau đó, Albrecht đề nghị các học sinh xuất sắc này dạy lại cho các bạn của chúng. “Ý tưởng của thầy là hãy nhân bản chúng em nhanh nhất có thể,” Bob Kahn, một cậu học trò tóc đỏ trong nhóm kể lại.

Albrecht đã coi bốn học sinh đó như những “người rao hàng” cho một “buổi trình diễn mãi nghệ” ở trường của họ. Các học sinh này phụ trách công việc đó đầy tâm huyết. 20 lớp toán đã tham gia chương trình này, và Albrecht thuyết phục các sếp của mình gắn một chiếc Flexowriter cho máy 160A trong một tuần. Sau khi trình diễn một số mẹo toán học trong các lớp học của mình, Kahn đã được hỏi liệu máy tính có thể làm bài tập về nhà ở phần sau của sách toán không – và cậu đã tiến hành làm bài tập về nhà của hôm đó, dùng Flexowriter để cắt một mẫu in re-nê-ô sao cho mỗi học sinh đều có một bản sao. 60 học sinh được buổi trình diễn này khích lệ đã đăng ký các lớp học máy tính; và khi Albrecht mang buổi trình diễn tới các trường phổ thông khác thì phản ứng cũng sôi sục như thế. Albrecht nhanh chóng giới thiệu buổi trình diễn tới Hội nghị Điện toán Quốc gia, nơi các học sinh của anh đã làm kinh ngạc những tu sĩ cấp cao của ngành công nghiệp. Chúng tôi không làm điều đó, họ nói như vậy với Albrecht. Anh sung sướng tột độ. Và anh sẽ làm điều đó.

Anh đã thuyết phục để Control Data cho phép mang buổi trình diễn đi khắp cả nước và dời căn cứ của mình tới trụ sở Minnesota của Control Data. Chính ở đó, có một người đã chỉ dạy cho anh về BASIC, ngôn ngữ lập trình máy tính được John Kemeny ở Dartmouth phát triển để tận hưởng thứ mà như Kemeny coi là “khả năng hàng triệu người có thể viết các chương trình của riêng họ… Dựa trên nhiều năm kinh nghiệm với FORTRAN, chúng tôi đã thiết kế một ngôn ngữ mới đặc biệt dễ dàng để người bình thường có thể học [và] khiến hoạt động giao tiếp giữa con người và máy móc trở nên dễ dàng hơn.” Albrecht ngay lập tức cho rằng chính BASIC là thứ anh cần còn FORTRAN thì đã chết. BASIC có tính tương tác, sao cho những người khao khát sử dụng máy tính có thể nhận được phản hồi ngay lập tức từ nó (FORTRAN được chế tạo để dùng cho xử lý theo lô). Nó sử dụng các từ giống với tiếng Anh như INPUT (nhập), THEN (sau đó) và GOTO (đi tới), vì thế việc học hỏi trở nên dễ dàng hơn. Và nó có bộ sinh số ngẫu nhiên dựng sẵn sao cho những đứa trẻ cũng có thể dùng nó để viết các trò chơi một cách nhanh chóng. Albrecht khi đó thậm chí còn biết rằng trò chơi điện tử sẽ mang tới hương vị quyến rũ để dỗ dành những đứa trẻ đến với lập trình – rồi sau đó sẽ là chủ nghĩa hacker. Anh đã trở thành người khởi xướng cho BASIC và cuối cùng là nhà đồng sáng lập nhóm Cộng đồng Hỗ trợ việc bãi bỏ dạy FORTRAN (Society to Help Abolish FORTRAN Teaching – SHAFT).

Khi dồn hết tâm trí vào các khía cạnh truyền giáo trong công việc của mình, Bob Albrecht bề ngoài thì điềm tĩnh nhưng trong lòng vô cùng sục sôi. Đến cuối thập niên 1960, anh bay tới California – khi ấy, anh đã ly hôn, để tóc dài với đôi mắt tinh anh và đầy ắp những ý tưởng về việc giúp trẻ em tiếp cận với máy tính. Anh sống ở đầu phố Lombard (ngọn đồi cao và quanh co nhất của San Francisco), thường năn nỉ hoặc mượn máy tính nhằm phục vụ công tác truyền bá của mình. Vào các đêm thứ Ba hằng tuần, anh sẽ mở rộng cửa nhà tổ chức các buổi tụ tập kết hợp với các hoạt động thử rượu, nhảy Hy Lạp và lập trình máy tính. Anh đã làm việc với Đại học Midpeninsula Free, hiện thân của thái độ tự-lo-việc-của-mình trong khu vực, nơi thu hút những người như Baba Ram Dass, Timothy Leary và nhà hiền triết AI trước kia của MIT, Bác John McCarthy. Albrecht cũng tham gia khởi xướng “phòng giáo dục máy tính”, nơi vốn được điều hành lỏng lẻo bởi tổ chức phi lợi nhuận Portola Institute. Đó chính là nơi cho ra đời tạp chí Whole Earth Catalog. Anh đã gặp một giáo viên của trường phổ thông Woodside trên bán đảo LeRoy Finkel, người cũng có cùng sự hăng hái trong việc dạy máy tính cho trẻ em như anh; cùng với Finkel, anh đã bắt đầu gây dựng một công ty xuất bản sách về máy tính đặt tên là Dymax, nhằm vinh danh thuật ngữ đã được đăng ký thương mại “dymaxion” (tối đa hóa sự linh động) của Buckminster Fulle, từ kết hợp giữa dynamism (linh động) và maximum (tối đa). Công ty vì lợi nhuận này được tài trợ bởi số cổ phần đáng kể của Albrecht (anh đã may mắn được tham gia lần phát hành cổ phiếu đầu tiên của DEC), và chẳng bao lâu, nó có được hợp đồng đầu tiên viết về loạt sách hướng dẫn lập trình BASIC.

Albrecht và nhóm Dymax sở hữu một chiếc máy tính cá nhân PDP-8 của DEC. Để có chỗ cho cỗ máy tuyệt diệu này, họ phải dời công ty tới trụ sở mới ở Menlo Park. Theo thỏa thuận với DEC, Bob sẽ nhận được một chiếc máy tính và một số thiết bị đầu cuối để đổi lấy việc viết một cuốn sách cho DEC có tên My Computer Likes Me (tạm dịch: Máy tính thích tôi), và anh đã khôn ngoan giữ bản quyền của nó (cuốn sách bán được khoảng 250.000 bản). Thiết bị được đưa lên một chiếc xe buýt VW và Bob đã làm sống lại những buổi mãi nghệ trước kia, mang chiếc PDP-8 theo anh trên những chuyến đi tới các trường học. Ngày càng có nhiều thiết bị được đưa tới, và vào năm 1971, Dymax trở thành nơi gặp gỡ phổ biến cho những người sử dụng máy tính trẻ tuổi, nơi làm quen của các hacker, trở thành bậc thầy trong giáo dục máy tính và là những kẻ bất mãn với công nghệ-xã hội. Trong khi đó, Albrecht chuyển tới một chiếc thuyền buồm nhỏ dài khoảng 13m đậu tại cảng Beach, cách thành phố khoảng 50km về phía nam. “Tôi chưa bao giờ lái thuyền buồm trong đời. Tôi chỉ quyết định đã đến lúc sống trên một chiếc thuyền,” anh giải thích.

Albrecht thường bị chỉ trích bởi đám đông tân thời, những người coi công-nghệ-là-quỷ-dữ ở Palo Alto vì đã thúc đẩy sự phổ biến của máy tính. Vì thế, phương pháp truyền bá để thu hút mọi người đến với máy tính của anh tinh tế hơn, một cách tiếp cận ranh mãnh của những kẻ buôn bán chất kích thích: “Cứ thử trò chơi này xem… thấy phê không?... Cậu có thể lập trình thứ này, cậu biết đấy…” Anh giải thích: “Chúng tôi đã cố giấu giếm. Chúng tôi chọn tầm nhìn dài hạn, khuyến khích bất kỳ ai muốn sử dụng máy tính, viết các cuốn sách để mọi người có thể học lập trình và thiết lập các địa điểm để họ có thể chơi đùa vui vẻ với máy tính.”

Nhưng cũng có nhiều yếu tố phản văn hóa ở Dymax. Nơi đây đầy rẫy những con nghiện máy tính theo chủ nghĩa dân túy với mớ tóc dài, và nhiều người trong số họ mới chỉ ở độ tuổi học sinh phổ thông. Bob Albrecht đóng vai quân sư râu rậm, đưa ra các ý tưởng và khái niệm nhanh hơn bất kỳ ai. Một số ý tưởng của anh rất nổi bật, số khác như đồ bỏ đi, nhưng tất cả đều thấm đẫm sức hút từ tính cách của anh, thường thì chúng rất hấp dẫn nhưng cũng có thể trở nên rất độc đoán. Albrecht sẽ đưa nhóm tới các quán bar piano địa phương, nơi anh sẽ cầm chặt chiếc micro trong tay và dẫn dắt cả nhóm vào một cuộc thi hát. Anh dựng một góc phòng của Dymax giống như một quán ăn Hy Lạp, với các bóng đèn Giáng sinh nhấp nháy, dành cho các lớp học nhảy vào tối thứ Sáu. Dù vậy, các ý tưởng xuất quỷ nhập thần nhất của anh đều liên quan tới việc phổ biến máy tính.

Albrecht cho rằng cần phải ghi chép lại phong trào này, để biến nó trở thành nơi thu hút những phát kiến mới mẻ. Vì thế, nhóm bắt đầu cho ra mắt một ấn phẩm khổ nhỏ có tên People’s Computer Company để vinh danh nhóm nhạc rock Big Brother và Holding Company. Trên trang bìa của ấn bản đầu tiên xuất hiện vào tháng 10 năm 1972, có một bức vẽ lượn sóng của một con thuyền với buồm chính thẳng góc đang hướng về phía mặt trời lặn – ít nhiều tượng trưng cho thời đại hoàng kim mà mọi người đang tiến tới – và theo sau là phần chú thích viết tay:

HẦU HẾT MÁY TÍNH

ĐỀU ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐỂ CHỐNG LẠI MỌI NGƯỜI THAY VÌ GIÚP ĐỠ HỌ

CHÚNG ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐỂ KIỂM SOÁT MỌI NGƯỜI THAY VÌ GIẢI PHÓNG HỌ

ĐÃ ĐẾN LÚC THAY ĐỔI ĐIỀU ĐÓ –

CHÚNG TA CẦN MỘT…

CÔNG TY MÁY TÍNH ĐẠI CHÚNG

Ấn phẩm được dàn trang theo phong cách tương tự như Whole Earth Catalog, nhưng có phần ứng khẩu và cẩu thả hơn. Có thể có 4-5 font chữ khác nhau trên một trang, và thường thì các thông điệp được nguệch ngoạc trực tiếp một cách gấp gáp trên bảng tới mức như thể họ không thể chờ được người sắp chữ. Đó là biểu hiện hoàn hảo của phong cách gấp gáp, hàm chứa mọi thứ của Albrecht. Độc giả có ấn tượng rằng anh gần như không phí phạm chút thời gian nào trong sứ mệnh truyền bá máy tính tới mọi người – và càng không mất thì giờ cho những tác vụ ngẫu nhiên như canh thẳng lề hay xếp gọn các câu chuyện hoặc lập kế hoạch trước quá lâu. Mỗi ấn bản đầy ắp các tin tức về những người đắm mình trong tín ngưỡng điện toán, một số trong đó đã bắt đầu các hoạt động tương tự ở những nơi khác nhau trên toàn nước Mỹ. Thông tin này sẽ được đưa ra trong các văn bản kỳ quặc, những thông điệp cuồng điện toán từ tuyến đầu của cuộc cách mạng máy tính đại chúng. Có rất ít phản hồi từ những tòa tháp ngà 49 của giới học viện hay những viện nghiên cứu “trên mây”. Các hacker như những người ở MIT thậm chí còn không thèm liếc mắt tới PCC, nơi sau này đã in ra các chương trình bằng ngôn ngữ BASIC chứ không phải bằng ngôn ngữ hợp ngữ yêu dấu của họ. Nhưng những hacker phần cứng kiểu mới này, những người như Lee Felsenstein, đang cố gắng tìm cách để bản thân và cả những người khác được tiếp cận máy tính nhiều hơn, đã biết đến tờ báo và sẽ viết bài cho nó, đưa ra các mã chương trình, gợi ý mua linh kiện máy tính hoặc những khuyến khích đơn thuần. Trên thực tế, Felsenstein phụ trách một chuyên mục phần cứng cho PCC.

49 Thuật ngữ được sử dụng để chỉ một môi trường theo đuổi trí tuệ bị tách biệt khỏi những mối quan tâm thực tế của cuộc sống hằng ngày. (ND)

Thành công của tờ báo đã khiến Dymax sáp nhập hoạt động vào thành một công ty phi lợi nhuận gọi là PCC, nơi không chỉ thực hiện công tác xuất bản mà còn cả hoạt động của bản thân trung tâm máy tính mới được ươm mầm, nơi tổ chức các lớp học và cho thuê sử dụng máy tính đại chúng với mức giá 50 xu một giờ cho những ai muốn dùng.

PCC và Dymax tọa lạc tại một trung tâm thương mại nhỏ ở đại lộ Menalto, nơi trước kia có một tiệm thuốc ở một góc. Không gian được bài trí với các buồng theo phong cách quán ăn tối. “Mỗi khi ai đó muốn nói chuyện với chúng tôi, chúng tôi sẽ ra ngoài và lấy một lốc sáu chai rồi nói chuyện trong buồng,” Albrecht nhớ lại. Ở khu vực máy tính phòng bên là chiếc PDP-8, trông như một bộ thu âm thanh nổi khổng lồ với đèn nháy thay vì núm điều chỉnh FM và hàng công tắc ở phía trước. Hầu hết đồ đạc, ngoại trừ một vài chiếc ghế ở phía trước các thiết bị đầu cuối kiểu máy chữ màu xám, đều có những chiếc gối lớn mà mọi người có thể dùng làm đệm ngồi, giường hoặc vũ khí đùa nghịch. Một tấm thảm màu xanh lá cây đã phai màu được trải ở khu vực này, và áp vào tường là chiếc giá sách méo mó đựng một trong những bộ sưu tập sách khoa học viễn tưởng hay nhất và tích cực nhất trong khu vực.

Không khí đặc quánh những tiếng lách cách của các thiết bị đầu cuối, một chiếc được nối với PDP-8, một chiếc khác được nối tới đường dây điện thoại và qua đó có thể truy cập tới một chiếc máy tính ở Hewlett-Packard, nơi PCC được truy cập miễn phí. Thường thì sẽ có ai đó chơi một trong các trò chơi mà nhóm hacker PCC ngày càng đông đã viết. Đôi khi, các bà nội trợ sẽ đưa con đến, tự mình thử dùng máy tính và nghiện luôn, rồi viết chương trình nhiều tới mức các ông chồng lo lắng rằng “các nữ chúa trung thành” đang bỏ bê con cái và công việc nội trợ vì thú vui BASIC. Một số doanh nhân đã thử lập trình máy tính để dự đoán giá cổ phiếu, và dành không biết bao nhiêu thời gian cho những ảo tưởng ấy. Khi bạn có một trung tâm máy tính với cánh cửa rộng mở thì bất kỳ điều gì cũng có thể xảy ra. Saturday Review đã trích lời Albrecht: “Chúng tôi muốn mở các trung tâm máy tính thân thiện trong vùng để mọi người có thể đến đây vui đùa với máy tính như đến một khu chơi bowling hay Penny Arcade 50 .”

50 Penny Arcade là một chuỗi các câu chuyện dài tập trung vào các trò chơi video và văn hóa trò chơi điện tử, được viết bởi Jerry Holkins và được minh họa bởi Mike Krahulik. (ND)

Mọi việc có vẻ suôn sẻ. Một hôm, để chỉ ra máy tính có thể trở nên hấp dẫn tới mức nào, một phóng viên đang viết một câu chuyện về PCC đến lúc 5 giờ 30 phút chiều, và các nhân viên đã để anh ngồi xuống một chiếc máy đánh chữ đang chạy trò chơi Star Trek (tạm dịch: Du hành giữa các vì sao). “Thứ tiếp theo tôi nhớ,” phóng viên này viết trong một bức thư gửi cho PCC, “là ai đó vỗ vào vai tôi vào lúc 12 giờ 30 phút sáng hôm sau và nói rằng đến lúc về nhà rồi đấy.” Sau vài ngày vui chơi ở PCC, phóng viên này kết luận: “Tôi vẫn chưa có câu chuyện nào để kể lại cho tổng biên tập ngoại trừ việc đã dành tới 28 giờ chơi các trò chơi trên những cỗ máy hấp dẫn này.”

Vào mỗi thứ Tư, PCC lại tổ chức bữa tối “góp gạo thổi cơm chung”. Sau một cuộc họp nhân sự PCC vô tổ chức như thường lệ – Bob, với các ý tưởng chất chứa trong đầu như những quả ngư lôi của trò Chiến tranh không gian, không thể bám sát chương trình họp một cách dễ dàng – những chiếc bàn dài sẽ được phủ khăn vải và căn phòng sẽ dần được lấp đầy với phiên bản ảo ai là ai về phương pháp điện toán thay thế ở Bắc California.

Trong các vị khách đặc biệt có mặt ở đó, không ai được chào đón như Ted Nelson. Nelson là tác giả tự xuất bản cuốn Computer Lib (tạm dịch: Thư viện Điện toán), thiên sử thi về cuộc cách mạng máy tính, thánh kinh về giấc mơ hacker. Anh đã đủ cứng đầu để xuất bản nó khi dường như không có ai khác cho rằng đó là một ý hay.

Là con trai của nữ diễn viên Celeste Holm và đạo diễn Ralph Nelson, (tác giả bộ phim Lilies of the Field (tạm dịch: Bông huệ ngoài đồng), tác phẩm của các sinh viên tại các trường nghệ thuật), Nelson là một người cầu toàn, nóng nảy, tài năng nổi trội của anh là một “nhà sáng tạo”. Anh đã viết một bản nhạc rock vào năm 1957. Ngoài ra, anh còn làm việc cho John Lilly trong dự án Dolphin và đã thực hiện một số dự án điện ảnh. Nhưng như sau này anh giải thích, đầu anh luôn “ngập tràn các ý tưởng” trong vô vọng cho tới khi tiếp xúc với một chiếc máy tính và học lập trình.

Đó là năm 1960. Trong 14 năm tiếp theo, anh nhảy việc liên tục. Anh sẽ bước ra khỏi văn phòng của một tập đoàn công nghệ cao và thấy “sự trống trải lạ thường của nơi này trong những hành lang này”. Anh bắt đầu thấy cái cách mà trạng thái xử lý theo lô của IBM làm mờ mắt mọi người, khiến họ không nhìn thấy những khả năng tuyệt vời của máy tính. Những quan sát của anh về điều này đã hoàn toàn bị bỏ ngoài tai. Liệu có ai chịu nghe anh không?

Cuối cùng, vì tức giận và tuyệt vọng, anh quyết định viết một “cuốn sách điện toán phản văn hóa”. Không có nhà xuất bản nào quan tâm, đặc biệt là với các đòi hỏi về khổ sách của anh – một cách sắp xếp tương tự như Whole Earth Catalog hay PCC, nhưng thậm chí còn lỏng lẻo hơn thế, với các trang ngoại cỡ in chữ nhỏ tới mức bạn khó có thể đọc được, cùng với các chú thích nguệch ngoạc và những hình vẽ thiếu chuyên nghiệp. Cuốn sách được chia làm hai phần: phần một là “Thư viện điện toán”, nói về thế giới máy tính theo cách nhìn của Ted Nelson; và phần hai là “Những cỗ máy trong mơ”, nói về tương lai điện toán theo nhìn nhận của Ted Nelson. Bỏ ra 2.000 đô-la tiền túi – “khoản tiền không nhỏ” theo anh kể – anh đã in vài trăm bản được coi là cuốn sổ tay thực thụ về Đạo đức Hacker. Các trang mở đầu đầy ắp sự hối thúc khi anh rên rỉ hình ảnh xấu tệ hại của máy tính (anh đổ lỗi điều này cho những lời nói dối mà những kẻ có quyền lực đã gieo rắc về máy tính, và gọi những thứ cần loại bỏ trong thời đại số là “Cybercrud”), và tuyên bố bằng chữ hoa rằng CÔNG CHÚNG KHÔNG CẦN PHẢI NHẬN NHỮNG THỨ ĐÃ BỊ ĐÀO THẢI. Anh tự cao tự đại gọi bản thân mình là một người hâm mộ máy tính, và nói:

Tôi có một cái rìu cần mài. Tôi muốn thấy máy tính hữu dụng với các cá nhân càng sớm càng tốt, mà không quá phức tạp hay lệ thuộc vào con người. Bất kỳ ai đồng ý với các nguyên tắc này đều cùng phe với tôi. Còn lại thì không.

CUỐN SÁCH NÀY ỦNG HỘ TỰ DO CÁ NHÂN.

VÀ CHỐNG LẠI CÁC GIỚI HẠN VÀ ÁP BỨC…

Một khúc ca bạn có thể hát khắp các con phố:

SỨC MẠNH MÁY TÍNH DÀNH CHO MỌI NGƯỜI!

LOẠI BỎ CYBERCRUD!

“Máy tính cần ở đúng vị trí của nó,” cuốn sách của Nelson viết, và dù được bán một cách chậm chạp nhưng nó cũng được tái bản vài lần. Quan trọng hơn, nó đã tạo ra một trào lưu. Ở PCC, Computer Lib là một lý do nữa để tin rằng chẳng bao lâu nữa, sự kỳ diệu của máy tính sẽ không còn là bí mật. Và Ted Nelson được đối đãi như ông hoàng trong các bữa tiệc tối.

Nhưng người ta không đến những bữa tiệc tối để xem các phù thủy của cuộc cách mạng máy tính: Họ tới đó vì quan tâm đến máy tính. Một số người là hacker phần cứng trung tuổi, một số là những đứa trẻ trường chuyên bị máy tính hấp dẫn, một số là những cậu thiếu niên tóc dài thích hack chiếc PDP-8 của PCC, một số là các nhà giáo dục, số khác chỉ là hacker đơn thuần. Như mọi khi, những người lập kế hoạch như Bob Albrecht sẽ nói về những vấn đề của điện toán, trong khi các hacker tập trung vào việc trao đổi dữ liệu kỹ thuật hay phàn nàn về sở thích của Albrecht dành cho BASIC, thứ mà các hacker coi là ngôn ngữ “phát xít” do cấu trúc giới hạn của nó không khuyến khích truy cập tối đa vào máy tính và khiến quyền lực của lập trình viên bị giảm sút. Các hacker không mất nhiều thời gian để lẻn vào những thiết bị đầu cuối ồn ào, bỏ lại các nhà hoạt động xã hội tham gia vào những cuộc nói chuyện sôi nổi về việc phát triển cái này cái kia. Như mọi khi, việc này không thế thiếu Bob Albrecht. Anh sẽ ở cuối phòng, nhún nhảy một điệu dân gian Hy Lạp cho dù có nhạc hay không, đắm chìm trong thứ ánh sáng rực rỡ của giấc mơ điện toán vĩ đại.

☆ ☆ ☆

Trong không khí sôi sục của mục tiêu cứu thế ấy, các thành viên của Community Memory đã lao vào tìm cách đưa dự án của họ lên mạng. Efrem Lipkin đã duyệt lại một chương trình lớn được sử dụng làm giao diện người dùng cơ bản, và Lee chuẩn bị sửa một chiếc máy đánh chữ Mẫu 33 mà Công ty Tymshare tặng. Nó đã được đưa tới CM như một đồ đồng nát sau hàng nghìn giờ sử dụng. Vì quá mong manh, nó cần có người chăm nom thường xuyên; nó thường bị kẹt, bộ chống rung bị dính hoặc đụng vào thiết bị xuống dòng trước khi in dòng tiếp theo. Trong giai đoạn sau của thử nghiệm này, CM sẽ lắp một thiết bị đầu cuối Hazeltine 1500 vào màn hình CRT có độ tin cậy cao hơn một chút nhưng vẫn phải có người ở đó đề phòng trường hợp có vấn đề xảy ra. Ý tưởng là để Lee phát triển một loại thiết bị đầu cuối mới để dự án có thể tiếp tục, và anh đã bắt đầu phác thảo các ý tưởng cho dự án phần cứng đó.

Nhưng đó là chuyện sau này. Trước tiên, họ phải khiến mọi người biết đến CM. Sau nhiều tuần hoạt động tích cực, Efrem và Lee cùng những người khác đã thiết lập thiết bị Mẫu 33 và lớp vỏ bìa các-tông của nó – bảo vệ nó khỏi cà phê và tro cần sa – tại cửa hàng Leopold’s Record. Họ vẽ các poster lớn hướng dẫn mọi người dùng hệ thống, các poster sáng màu với những chú thỏ bay nhảy và những đường gợn sóng. Họ hình dung mọi người thực hiện các kết nối cứng cho những thứ như công việc, nơi sinh sống, các chuyến đi và sự trao đổi. Nó đủ đơn giản để ai cũng có thể sử dụng – chỉ cần dùng lệnh ADD (thêm vào) hoặc FIND (tìm kiếm). Hệ thống này là một biến tấu nhẹ nhàng của giấc mơ hacker, và họ tìm thấy sự truyền cảm tương ứng trong một bài thơ, thứ đã truyền cảm hứng cho họ đặt một cái tên đặc biệt cho công ty mẹ của Community Memory: “Loving Grace Cybernetics” (tạm dịch: Điều khiển học nhẹ nhàng đáng yêu). Bài thơ đó là của Richard Brautigan:

Tôi muốn nghĩ (càng sớm càng tốt!)

Về một thảo nguyên điều khiển học

Nơi thú và máy tính chung sống với nhau

Trong sự hài hòa lập trình chung

Giống như nước tinh khiết chạm tới bầu trời trong vắt

Tôi muốn nghĩ (ngay bây giờ, làm ơn đấy!)

Về khu rừng điều khiển học

Lấp đầy những cây thông và điện tử, nơi những chú hươu tản bộ

Một cách thanh bình qua những cỗ máy tính

Như thể chúng là hoa đang đua nở.

Tôi muốn nghĩ (phải là như thế!)

Về hệ sinh thái điều khiển học

Nơi chúng ta tự do làm việc và hòa mình vào tự nhiên,

Trở về với những người anh em động vật của mình,

Và tất cả đều được quan sát

bởi những cỗ máy của sự nhẹ nhàng đáng yêu.

— TẤT CẢ ĐỀU ĐƯỢC QUAN SÁT BỞI NHỮNG CỖ MÁY CỦA SỰ NHẸ NHÀNG ĐÁNG YÊU

Đó không chỉ đơn thuần là một thiết bị đầu cuối thông thường ở Leopold’s – mà là một công cụ của sự Nhẹ nhàng Đáng yêu! Đó là công cụ để dẫn đám đông ngu dốt bước vào thảo nguyên mênh mông được Đạo đức Hacker nhân từ nuôi dưỡng, được che chắn khỏi bị đè nén bởi sự quan liêu. Nhưng một vài người trong CM tỏ ra nghi ngờ. Không chỉ bị dày vò bởi nỗi nghi ngờ về sự bền bỉ của thiết bị đầu cuối, Lee còn sợ mọi người sẽ phản đối gay gắt việc máy tính sẽ chiếm phần không gian quý giá của một cửa hàng đĩa tại Berkeley; nỗi lo sợ lớn nhất của anh là về “người rao hàng” của CM, những người chăm sóc thiết bị đầu cuối bị ép phải bảo vệ phần cứng bằng vũ lực, chống lại đám đông ác ý những người Luddite 51 lập dị.

51 Luddites là băng nhóm các thợ thủ công người Anh hồi đầu thế kỷ XIX, hoạt động có tổ chức, chuyên đi phá các máy móc ngành dệt có thể thay thế sức lao động của họ. (BTV)

Đó là những nỗi sợ vô căn cứ. Từ ngày đầu thử nghiệm, mọi người đều tỏ ra hào hứng với thiết bị đầu cuối này. Họ đã tò mò thử và vắt óc nghĩ về những thứ có thể đưa vào hệ thống. Một tuần sau khi thử nghiệm bắt đầu, Lee viết trên tờ Berkeley Barb rằng, trong 5 ngày đầu tiên, thiết bị đánh chữ Mẫu 33 được đưa vào hoạt động tại Leopold’s, nó được dùng trong 1.434 phút, nhận 151 mục mới và in 188 phiên, 32% số đó ứng với các tìm kiếm thành công. Và không hề có bạo lực: Lee báo cáo rằng “100% người dùng đều vui vẻ.”

Tin tức lan ra, và chẳng bao lâu sau mọi người đã tới để tìm kiếm những kết nối quan trọng. Nếu gõ FIND HEALTH CLINICS (tìm phòng khám) chẳng hạn, bạn sẽ nhận được thông tin về 1 trong 8 phòng khám bất kỳ, từ Phòng khám Nghiên cứu Y học Haight-Ashbury tới Phòng khám Miễn phí của Nhân dân, George Jackson. Một yêu cầu về BAGELS (nhẫn) – ai đó đã hỏi về địa chỉ tìm mua những chiếc nhẫn đẹp theo phong cách New York ở khu vực Vùng Vịnh – sẽ mang lại 4 phản hồi: 3 trong số đó là các cửa hàng outlet 52 bán lẻ, phản hồi còn lại đến từ Michael, người đã cung cấp số điện thoại của mình và cung cấp dịch vụ hướng dẫn cách tự làm nhẫn. Mọi người tìm kiếm bạn chơi cờ, bạn học và bạn tình cho trăn Nam Mỹ đuôi đỏ. Họ truyền tay nhau các gợi ý nhà hàng và các album nhạc, cung cấp các dịch vụ như giữ trẻ, chở hàng, đánh máy, bói bài tarot, sửa ống nước, diễn kịch câm và nhiếp ảnh (“ANH CHÀNG VUI TÍNH TÌM BẠN LÀM NHIẾP ẢNH KHÔNG LỢI DỤNG/LÀM MẪU/HOẶC CẢ HAI… OM SHANTI 53 ”).

52 Tại Mỹ, outlet được hiểu là các cửa hàng bán lẻ trực tiếp sản phẩm do chính công ty sản xuất ra đến thẳng tay người tiêu dùng. (ND)

53 Lời chào tạm biệt trong văn hóa Ấn Độ giáo và Phật giáo. (ND)

Một hiện tượng lạ lùng đã xảy ra. Khi tiến hành dự án, người dùng bắt đầu khám phá các ứng dụng chưa được thám hiểm. Khi thành viên Community Memory xem các bổ sung mới trong ngày, họ phát hiện một số mục không thể phân loại… ngay cả các từ khóa được đưa vào cuối mục cũng thật khó hiểu. Có những thông điệp kiểu như: “BẠN LÀ NGƯỜI BẠN TỐT NHẤT CỦA CHÍNH MÌNH,” theo sau bởi các từ khóa BẠN, NGƯỜI YÊU, CHÓ, BẠN, CHÚNG TA, CẢM ƠN. Lại có những thông điệp kiểu như: “NGƯỜI ĐẾN TỪ HÀNH TINH KHÁC CẦN TÌM MỘT NHÀ VẬT LÝ TÀI NĂNG ĐỂ HOÀN THÀNH VIỆC SỬA CHỮA TÀU VŨ TRỤ. NHỮNG NGƯỜI KHÔNG CÓ KIẾN THỨC VỀ CẢM ỨNG ĐỊA TỪ SẼ KHÔNG ĐƯỢC ỨNG TUYỂN.” Có cả những thông điệp như: “CHÚA ƠI SAO NGƯỜI TỪ BỎ CON.” Có những thông điệp dạng trích dẫn bí ẩn từ nhà thơ Ginsberg, ca sĩ The Grateful Dead, ca sĩ-nhạc sĩ Arlo Guthrie và nhà văn Shakespeare. Và có cả các thông điệp đến từ Tiến sĩ Benway và vùng Interzone bí ẩn.

Tiến sĩ Benway, nhân vật trong Naked Lunch, là “người thao tác và điều phối các hệ thống biểu tượng, một chuyên gia trong tất cả các khâu thẩm vấn, tẩy não và kiểm soát”. Không hề gì. Bất kể người dùng loạn trí này là ai, anh cũng đã bắt đầu sắp xếp các bit lưu trữ bên trong XDS-940 thành những bài diễn văn rời rạc, đưa ra bình luận về thời kỳ đầy những tầm nhìn không thể diễn đạt được bằng lời, kêu gọi cách mạng có vũ trang và những tiên đoán khủng khiếp về chủ nghĩa độc tài giả tạo – những dự đoán được đưa ra một cách mỉa mai nhờ ứng dụng công nghệ máy tính kiểu 1984 một cách triệt để và sáng tạo. “Benway đây,” anh sẽ tự giới thiệu một cách đặc trưng, “chỉ là một du khách trên vùng đất cơ sở dữ liệu phì nhiêu này.” Benway không phải người duy nhất chấp nhận các tính cách kỳ lạ – như các hacker khám phá ra, máy tính là một phần mở rộng vô hạn của trí tưởng tượng con người, một tấm gương không phán quyết mà ở đó bạn có thể dựng lên bất kỳ bức chân dung tự họa nào mình muốn. Dù bạn viết gì, đặc trưng duy nhất mà thông điệp của bạn quan tâm chính là trí tưởng tượng của bạn. Việc những người không phải hacker phấn khích với các ý tưởng này đã chỉ ra rằng sự có mặt của máy tính ở những nơi có thể tiếp cận được có thể là tác nhân kích thích sự biến đổi xã hội, một cơ hội để thấy những khả năng mà công nghệ mới có thể mang lại.

Sau này, Lee gọi đó là “một sự hiển linh, một sự kiện mở mang tầm mắt. Nó giống như trải nghiệm của tôi với Phong trào Tự do Ngôn luận và Công viên Đại chúng (People’s Park). Chúa ơi! Tôi đã không biết người ta có thể làmđược điều này!”

Jude Milhon, người phát triển các tính cách trực tuyến, đã làm thơ. “Việc đó thật thú vị,” cô nhớ lại. “Những giấc mơ của bạn hiện ra.” Một nhân viên của CM thường trao đổi các công văn điện tử với Benway, trau chuốt thêm chủ đề Naked Lunch để tạo ra một vùng “Interzone” điện toán, để tưởng nhớ thị trường phàm tục suy đồi của linh hồn do Burroughs tạo ra. Ban đầu, các thông điệp của Benway biểu thị sự ngạc nhiên đối với biến thể này; sau đó, anh chấp nhận nó như thể đã nhận ra các khả năng dân chủ của phương tiện này. “Những tên cướp biển hung ác đã nói về việc nhân bản Biểu tượng Benway… cứ tiếp tục đi… đó là các thông tin công cộng mà,” anh viết.

Jude Mihon đã gặp Benway. Như cô mô tả, anh “rất nhút nhát – nhưng có khả năng làm nên trò trống trong thế giới của CM”.

Nhóm đã phát triển rực rỡ trong một năm rưỡi, chuyển thiết bị đầu cuối từ cửa hàng Leopold’s tới cửa hàng Whole Earth Acess, và đặt một thiết bị đầu cuối thứ hai tại một thư viện công ở quận Mission của San Francisco. Nhưng các thiết bị đầu cuối liên tục hỏng, và rõ ràng là họ cần các thiết bị đáng tin cậy hơn. Họ cần một hệ thống hoàn toàn mới, bởi CM chỉ có thể đi xa tới đó với chiếc XDS-940 khổng lồ, và dù sao thì mối quan hệ giữa CM và Nguồn lực Số Một cũng đã tan vỡ. Nhưng không có hệ thống nào quan trọng đang chờ đợi, và CM, với nguồn vốn và công nghệ thấp, đã nhanh chóng rút cạn năng lượng của các cửa hàng và nhân viên, cần thứ gì đó ngay.

Cuối cùng, vào năm 1975, một nhóm nhỏ gồm những người hay lý tưởng hóa của CM đã ngồi xuống và cân nhắc xem liệu có nên tiếp tục dự án hay không. Đó là một năm vui vẻ và rã rời. Dự án “đã cho thấy những gì có thể được thực hiện. Nó chỉ ra cách thức,” Lee sau này tuyên bố. Nhưng Lee và những người khác lại coi việc tiếp tục triển khai dự án trong tình trạng hiện tại là một việc làm “quá nguy hiểm”. Họ đã được đầu tư quá nhiều, cả về công nghệ lẫn cảm xúc, để thấy dự án đuối dần qua một loạt sự ly khai đến nản lòng và những lần sập hệ thống ngẫu nhiên. Mọi người đã đồng thuận về việc tạm hoãn thử nghiệm. Dù vậy, đó vẫn là một quyết định đáng buồn. “Chúng tôi chỉ vừa mới phát triển khi nó bị đình chỉ,” Jude Milhon kể lại. “[Mối quan hệ của chúng tôi với] CM giống như Romeo và Juliet – như hai nửa linh hồn. Rồi đột nhiên – CHẶT một phát – nó biến mất. Bông hoa vừa chớm nở đã lụi tàn.”

Efrem Lipkin đã rời đi và một lần nữa tìm cách tận dụng máy tính. Những người khác tham gia vào các dự án khác nhau, một số là dự án kỹ thuật, một số là dự án xã hội. Nhưng không có ai, đặc biệt là Lee Felsenstein, từ bỏ giấc mơ của mình.

« Lùi
Tiến »