Tháng 6 năm 1974, Lee Felsenstein chuyển tới căn hộ một phòng ngủ bên trên một ga-ra ở Berkeley. Căn hộ không được tiện nghi cho lắm – thậm chí còn không có điều hòa – nhưng giá thuê chỉ có 185 đô-la/tháng và Lee có thể đặt một chiếc bàn làm việc vào góc phòng và có chốn đi về. Anh vẫn thích nơi nào có chi phí thấp, tiện đường và tiện dụng hơn.
Lee có ý tưởng về một dự án thiết kế đặc biệt. Đó là một thiết bị đầu cuối máy tính được chế tạo dựa trên tư tưởng của CM. Anh ghét cay ghét đắng các thiết bị được chế tạo như một cánh cửa khóa trái trước những người dùng bất cẩn, những chiếc hộp đen cung cấp thông tin nhưng cấu trúc lại thiếu rõ ràng. Theo anh, mọi người nên nhìn lướt qua những thứ khiến cỗ máy hoạt động và người dùng nên được khuyến khích tương tác trong quá trình đó. Những thứ linh hoạt như máy tính nên khuyến khích người dùng tham gia vào các hoạt động có độ linh hoạt tương đương. Lee coi bản thân máy tính là một hình mẫu cho chủ nghĩa tích cực, và hy vọng rằng ngày càng có nhiều người được tiếp cận với máy tính, khi đó Đạo đức Hacker sẽ càng được lan tỏa trong xã hội, mang đến cho mọi người quyền lực đối với không chỉ máy tính mà cả quyền lực để chiến thắng những kẻ áp bức chính trị.
Cha của Lee Felsenstein đã gửi cho anh một cuốn cách của Ivan Illich có tựa đề Tools for Conviviality (tạm dịch: Các công cụ để vui vẻ), và luận điểm của Illich đã minh chứng cho cách nhìn của Lee (“Với tôi, giáo viên giỏi nhất là người nói rằng điều tôi biết đã đúng từ trước rồi,” Lee giải thích). Illich thừa nhận rằng phần cứng nên được thiết kế không chỉ để giúp người dùng có thể dễ dàng sử dụng mà còn phải có tầm nhìn dài hạn về sự hợp tác đôi bên cùng có lợi sau này giữa người dùng và công cụ đó. Điều này đã tạo cảm hứng giúp Lee tưởng tượng ra một công cụ sẽ làm thỏa mãn những suy nghĩ của Illich, Bucky Fuller, Karl Marx và Robert Heinlein. Đó sẽ là một thiết bị đầu cuối dành cho tất cả mọi người. Lee đặt tên nó là Thiết bị đầu cuối Tom Swift”. Đó sẽ là lúc Lee Felsenstein đưa giấc mơ hacker vào cuộc sống.
Cùng lúc đó, anh sống dựa vào thu nhập từ các hợp đồng chế tạo theo kiểu freelancer 54 . Anh tìm việc ở Systems Concepts, công ty có quy mô nhỏ đã thuê thành viên kỳ cựu của MIT, Stewart Nelson (phù thủy điện thoại kiêm thiên tài lập trình), cùng chiến hữu tại TMRC và TX-0, Peter Samson. Lee luôn thận trọng với bất kỳ việc gì làm cùng MIT; là một hacker phần cứng điển hình, anh không ưa gì sự thuần khiết quá mức ở các hacker này, đặc biệt là sự vô tâm của họ khi nói đến chuyện lan tỏa công nghệ giữa những “kẻ thua cuộc”. “Bất kỳ ai từng liên quan tới AI đều có khả năng trở thành một ca vô vọng,” anh giải thích. “Họ đã xa rời thực tại quá lâu tới mức không thể xử lý được các vấn đề của thế giới thực. Khi họ bắt đầu nói: ‘Về cơ bản, tất cả những gì anh cần làm là chấm chấm chấm,’ tôi chỉ liếc qua và nói: ‘Được rồi anh bạn, nhưng đó là phần dễ dàng. Phần còn lại khó hơn là phải bắt tay vào làm.’”
54 Ý chỉ những người làm việc theo phong cách tự quản, không bị giới hạn về quy củ, môi trường, địa điểm và thời gian làm việc. (ND)
Sự ngờ vực của anh đã được xác nhận khi anh gặp anh chàng Stewart Nelson nhỏ người nhưng kiên quyết. Gần như ngay lập tức, họ đã rơi vào thế bất đồng, một cuộc tranh luận kỹ thuật chuyên ngành mà Lee gọi là “Tôi-thông-minh-hơn-cậu, một dạng tranh cãi điển hình của các hacker”. Stewart khăng khăng rằng bạn có thể thành công với một mẹo phần cứng nhất định, trong khi Lee, với phong cách chế tạo được định hình qua tính đa nghi thời niên thiếu rằng mọi thứ có thể không hoạt động, cho hay anh sẽ không mạo hiểm với nó. Ngồi ở một nơi có cấu trúc giống như nhà kho lớn bằng gỗ của Systems Concepts, Lee cảm thấy những anh chàng này không quan tâm tới việc đưa công nghệ máy tính đến với mọi người, bởi họ thuộc nhóm tinh hoa về kỹ nghệ máy tính đầy mê hoặc và tao nhã. Với Lee, họ là những kẻ đạo đức giả trong công nghệ. Anh không quan tâm tới thứ ma thuật cao cấp mà họ có thể tạo ra hay ngôi đền bách thần tôn thờ những phù thủy kinh điển theo quan điểm của họ. Còn mọi người thì sao chứ?
Vì thế, khi Stewart Nelson, một hacker MIT điển hình, đưa cho Lee một bản dùng thử, mẫu thử thiết kế nhanh cho một sản phẩm phần cứng, Lee không chơi trò chơi đó. Anh không quan tâm lắm tới việc đưa ra một lời nhận xét dí dỏmkiểu công nghệ mà Stewart đang tìm kiếm. Lee đã bỏ đi.
Anh tìm việc ở chỗ khác. Anh cho rằng mình có thể thành công nếu kiếm được 8.000 đô-la mỗi năm. Do suy thoái kinh tế, việc làm khó kiếm, nhưng mọi thứ rồi cũng ổn. Cách Berkeley khoảng 80km về phía nam, Thung lũng Silicon đang bắt đầu xuất hiện.
Kéo dài khoảng 30km từ Palo Alton trên bán đảo đến San Jose ở gần cuối Vịnh San Francisco là “Thung lũng Silicon”, tên gọi này bắt nguồn từ vật liệu làm từ cát tinh chế, được dùng để sản xuất chất bán dẫn. Hai thập kỷ trước, Palo Alto là cái nôi của đèn bán dẫn; sản phẩm tiên tiến này đã tạo nên sự kỳ diệu của vi mạch (Intergrated Circuit – IC) 55 – hay mạng lưới nhỏ gồm các đèn bán dẫn được nén vào các con chip, những miếng hình vuông nhỏ bọc nhựa với các kết nối kim loại mỏng ở dưới đáy. Trông chúng như những con côn trùng máy không đầu. Và giờ đây, vào đầu những năm 1970, ba kỹ sư táo bạo làm việc cho một công ty ở Santa Clara có tên Intel đã phát minh ra một con chip gọi là bộ vi xử lý: Một sắp đặt phức tạp đến kinh ngạc của các kết nối sao chép lại mạng lưới mạch tinh vi mà ta sẽ thấy trong bộ xử lý trung tâm (CPU) của một chiếc máy tính.
55 Tập các mạch điện chứa các linh kiện bán dẫn (như đèn bán dẫn) và linh kiện điện tử thụ động (như điện trở) được kết nối với nhau, để thực hiện một chức năng xác định. (BTV)
Ông chủ của các kỹ sư này vẫn đang cân nhắc về các ứng dụng tiềm năng của bộ vi xử lý.
Trong bất kỳ trường hợp nào, Lee Felsenstein vẫn miễn cưỡng chấp nhận cơ hội về một công nghệ hoàn toàn mới. Phong cách chế tạo kiểu đồng nát này đã khiến anh không sử dụng bất kỳ thứ gì ngoài những sản phẩm mà anh biết sẽ tồn tại được một thời gian. Thành công của vi chíp và quá trình cắt giảm giá thành nhanh chóng xảy ra sau khi chip được sản xuất số lượng lớn (người ta phải tốn cả gia tài để thiết kế một con chip và chế tạo sản phẩm mẫu cho nó, nhưng chỉ tốn rất ít tiền để sản xuất một con chip khi đã có dây chuyền lắp ráp), dẫn tới việc khan hiếm chip vào năm 1974, và Lee không nghĩ rằng nền công nghiệp điện toán sẽ tiếp tục cung cấp đủ các bộ vi xử lý này cho thiết kế của anh. Anh đã hình dung người dùng thiết bị đầu cuối của anh sẽ đối xử với nó theo cách mà các hacker đối xử với một hệ điều hành máy tính, thay đổi các bộ phận và thực hiện các cải tiến… “Đó là một cơ thể sống chứ không phải là một hệ thống cơ học,” anh giải thích. “Các công cụ này là một phần của quá trình tái sinh.” Những người dùng này cần tiếp cận các linh kiện một cách ổn định. Vì thế, trong khi chờ đợi người chiến thắng rõ ràng trong cuộc đua phát triển vi chip, anh đã suy ngẫm về những bài học của Ivan Illich, người ủng hộ việc thiết kế một công cụ “giúp tăng cường khả năng của mọi người trong việc theo đuổi các mục tiêu theo cách riêng của họ.” Trong những ngày nắng đẹp ở Berkeley, Lee sẽ mang bảng vẽ tới People’s Park và phác họa các giản đồ.
Lee chỉ là một trong hàng trăm kỹ sư ở Vùng Vịnh, những người từng đưa ra đủ lý lẽ cho rằng sự quan tâm của họ là hoàn toàn chuyên nghiệp. Họ thích khía cạnh thực hành của mạch và điện tử, và ngay cả khi nhiều người trong số họ làm việc ban ngày trong các công ty với những cái tên kỳ lạ như Zilog, Itel và National Semiconductor, họ vẫn về nhà vào buổi đêm và phát triển những dự án tuyệt vời trên các bảng mạch đế epoxy bọc lụa chứa đầy những đường khắc axit và các hàng IC lổn nhổn. Những bảng mạch được hàn vào các hộp kim loại này sẽ thực hiện các chức năng kỳ lạ: chức năng radio, chức năng video, chức năng logic. Quan trọng không kém việc khiến các bảng mạch này tiến hành tác vụ là hành động chế tạo bảng mạch, tạo ra hệ thống giúp hoàn thành công việc. Đó chính là hack. Nếu có một mục tiêu nào đó, thì đó là xây dựng một chiếc máy tính tại nhà dành cho mọi người. Không phải để phục vụ một chức năng cụ thể mà là để chơi, để khám phá nó. Đó là hệ thống nền tảng. Nhưng các hacker phần cứng này không hay phó thác mục tiêu của mình cho kẻ người ngoại đạo bởi vào năm 1974, ý tưởng về một người bình thường có máy tính ở nhà là quá ngớ ngẩn.
Dù vậy, đó là nơi mọi việc diễn ra. Bạn có thể cảm nhận được sự hào hứng ở tất cả những nơi mà các hacker phần cứng này tụ tập. Lee sẽ tham gia các thảo luận kỹ thuật ở những bữa tiệc tối của PCC. Anh cũng tham gia các phiên họp nhảm nhí sáng thứ Bảy tại cửa hàng đồ cũ của Mike Quinn.
Cửa hàng của Quinn là bản sao tại Vùng Vịnh cửa hàng của Eli Heffron tại Cambridge, nơi các hacker TMRC mượn các công tắc ngang và rơ-le bước. Người quản lý cửa hàng có không gian rộng lớn như nhà chứa máy bay kiểu Thế chiến II cổ điển mang màu xám nhạt trên bãi đất của sân bay Oakland là Vinne “Gấu” Golden. Ở quầy thanh toán lộn xộn với các hộp điện trở và công tắc với giá tính bằng xu, Vinnie Gấu sẽ mặc cả với các hacker phần cứng mà anh thường gọi thân mật là “những kẻ bần tiện ẩn dật”. Họ sẽ tranh cãi về giá của các bảng mạch cũ, các máy hiện sóng thừa của Chính phủ, và hàng đống đồng hồ LED (đi-ốt phát sáng) điện tử. Di chuyển xung quanh sàn gỗ cũ sờn của cấu trúc khổng lồ này, những kẻ bới rác kiêm hacker sẽ lục tung các dãy hộp chứa hàng nghìn IC, tụ điện, đi-ốt, đèn bán dẫn, bảng mạch trống, thiết bị phân thế, công tắc, ổ cắm, kẹp và dây cáp. Tấm biển với lời khuyên viết bằng chữ Gothic có nội dung NẾU KHÔNG TÌM THẤY THÌ HÃY BỚI TUNG LÊN được áp dụng triệt để. 100 công ty thất bại đã sử dụng cửa hàng của Quinn để bán đồ thừa, và bạn có thể tìm thấy một thiết bị kiểm soát khí gas khổng lồ, một đống băng máy tính đã sử dụng, hay thậm chí là một ổ băng máy tính cũ có kích thước ngang với một tủ tài liệu. Vinnie Gấu với thân hình khổng lồ cùng chiếc bụng phệ và gương mặt râu ria sẽ nhặt các linh kiện mà bạn muốn bán để quan sát, dự đoán các giới hạn tiềm năng trong ứng dụng của chúng, tự hỏi liệu chúng có thể kết nối thành công với linh kiện nào đó không, và tuyệt đối trung thành với dòng chữ ở trên tấm biển bên trên: “Giá cả phụ thuộc vào thái độ của người mua”. Đủ kiểu thảo luận kỹ thuật sẽ diễn ra kịch liệt, và cuối cùng kết thúc bằng việc Vinnie Gấu lẩm bẩm những lời sỉ nhục mập mờ về sự thông minh của những người tham gia, tất cả bọn họ sẽ quay trở lại vào tuần sau với nhiều đồ đồng nát và nhiều lý lẽ hơn.
Bên cạnh cửa hàng của Mike Quinn là công ty của Bill Godbout, người mua đồng nát có quy mô lớn hơn – thường là các con chip và linh kiện thừa của Chính phủ đã bị bỏ đi do không đạt tiêu chuẩn cần thiết của một chức năng đặc biệt nào đó, nhưng lại hoàn toàn chấp nhận được cho các ứng dụng khác. Godbout, một phi công vẫn đang làm việc, có thân hình lực lưỡng và tính cách cộc cằn, đã bóng gió về việc từng hoạt động tình báo quốc tế cho các tổ chức chính phủ không tiện nêu tên, sẽ nhận các linh kiện này, dán thương hiệu của riêng mình rồi bán chúng, thường là dưới dạng các bộ mạch điện logic mà bạn có thể mua qua đường bưu điện. Với hiểu biết sâu rộng về những thứ mà các công ty đang đặt hàng và những gì họ đang vứt bỏ, Godbout dường như biết mọi điều đang diễn ra tại Thung lũng, và khi công việc kinh doanh trở nên ngày càng lớn hơn, anh cung cấp ngày càng nhiều linh kiện và bộ kit cho các hacker phần cứng đang hăm hở.
Lee đã làm quen với Vine, Godbout cùng hàng tá người khác. Nhưng anh thân nhất với một hacker phần cứng đã liên hệ với mình qua thiết bị đầu cuối của CM trước khi thử nghiệm bước vào giai đoạn tàn cuộc. Đó là người mà Lee đã lờ mờ biết từ những ngày còn ở Oxford Hall tại Berkeley. Tên anh ta là Bob Marsh.
Mash, một người đàn ông nhỏ bé, để râu kiểu Pancho Villa với mái tóc đen dài, làn da tái nhợt và cách nói chuyện nghiêm nghị, châm biếm đã gửi một thông điệp cho Lee trên thiết bị đầu cuối, hỏi liệu anh có muốn tham gia xây dựng một dự án mà Marsh đã đọc được trên ấn bản gần đây của Radio Electronics không. Bài viết của một hacker phần cứng có tên là Don Lancster đã mô tả cách mà độc giả có thể xây dựng thứ mà anh ta gọi là “máy đánh chữ TV” – cho phép bạn đặt các ký tự từ một bàn phím kiểu máy chữ lên màn hình vô tuyến, giống như trên một thiết bị đầu cuối máy tính cuốn hút.
Marsh là một tay quái kiệt phần cứng từ thời thơ ấu; cha anh là nhân viên vận hành vô tuyến điện, và anh đã mày mò các bộ vô tuyến điện nghiệp dư ở trường. Anh học chuyên ngành kỹ sư tại Berkeley nhưng đã đi chệch hướng và dành hầu hết thời gian chơi bi-da. Anh bỏ học, chuyển tới châu Âu, yêu đương rồi quay trở lại trường nhưng không học ngành kỹ sư nữa – đó là những năm 1960 và ngành kỹ sư không chỉ không “ngầu” mà còn gần như mang tính “cánh hữu”. Nhưng anh đã làm việc trong một cửa hàng âm thanh, buôn bán, sửa chữa và lắp đặt các dàn âm thanh nổi, và tiếp tục công việc ấy sau khi tốt nghiệp với tấm bằng chuyên ngành Sinh học. Mang trong mình chủ nghĩa lý tưởng, anh muốn trở thành giáo viên dạy trẻ em nghèo, nhưng công việc đó cũng chẳng được lâu dài vì anh nhận ra rằng dù có cố gắng thay đổi thế nào đi nữa, trường học vẫn quá khuôn phép – học sinh vẫn phải ngồi đúng hàng, không được nói chuyện. Nhiều năm làm việc trong dòng chảy tự do của thế giới điện tử đã truyền cho Marsh Đạo đức Hacker, và anh coi trường học là một hệ thống hà khắc, thiếu hiệu quả. Ngay cả khi làm việc trong một ngôi trường cấp tiến với các phòng học mở, anh vẫn cho rằng nơi đây là một nhà tù, đầy giả dối.
Vì thế, sau nỗ lực thử sức với vai trò điều hành một cửa hàng âm thanh – dù anh không phải là một doanh nhân giỏi cho lắm – anh đã quay trở lại với nghề kỹ sư. Một người bạn có tên Gary Ingram lúc đó làm việc ở công ty Dictran đã kiếm cho anh một công việc liên quan đến vôn kế số đầu tiên. Sau vài năm ở đó, anh đã biết đến máy tính và kinh ngạc khi xem bài viết của Lancaster. Anh phát hiện ra rằng mình có thể biến chiếc máy chữ TV trở thành một thiết bị đầu cuối để kết nối với máy tính.
Anh đã mua các linh kiện từ cửa hàng của Mike Quinn để nâng cấp cho các thiết bị trong bộ kit được đề cập trong tạp chí, rồi dành vài tuần cho dự án, cố gắng cải tiến thiết kế ở chỗ này chỗ kia. Anh chưa bao giờ khiến nó hoạt động được trơn tru nhưng điểm mấu chốt nằm ở việc bắt tay vào làm và học về nó. Sau này, anh giải thích: “Thiết bị đó giống như vô tuyến điện nghiệp dư. Tôi không muốn bỏ tiền để lên sóng khoe khoang về thiết bị của mình. Tôi muốn chế tạo mọi thứ.”
Lee đã trả lời thông điệp của Marsh trên CM, và họ hẹn gặp nhau ở trụ sở nhóm trước cửa hàng. Lee đã kể cho anh về Tom Swift, một thiết bị có thể dùng tivi gia đình làm màn hình hiển thị ký tự, một “khối điều khiển học” có thể mở rộng thành bất kỳ thứ gì. Marsh đã rất ấn tượng. Khi đó, anh cũng đang thất nghiệp và dành hầu hết thời gian hack chiếc máy chữ TV trong một ga-ra thuê trên phố Fourth, gần Vịnh. Marsh đã lập gia đình và có một đứa con – cuộc sống của anh khá chật vật. Anh muốn Lee chia đôi khoản tiền thuê ga-ra 175 đô-la với mình và Lee đã mang chiếc bàn làm việc của mình tới đó.
Vì thế, Marsk tập trung vào dự án của anh, đồng thời chuẩn bị kế hoạch mua các linh kiện đồng hồ điện tử từ Bill Godbout và lắp chúng vào các vỏ bằng gỗ ấn tượng. Anh có một người bạn làm thợ mộc rất giỏi. Trong khi đó, Lee, Giám đốc Công ty Chế tạo LGC (đặt theo tên của Loving Grace Cybernetics – Điều khiển học Nhẹ nhàng Đáng yêu), cũng đang làm việc trên thiết bị đầu cuối của mình, lại coi đây là một vụ đầu tư thông minh như một dự án thiết kế.
Dự án của Lee không giống những thiết kế thông thường, mà ở đó tất cả các linh kiện sẽ được điều khiển bởi một con chip trung tâm, dự án của Lee có một phương pháp vận hành với nhiều phương án dự phòng phức tạp. Nó có một “bộ nhớ” – nơi có thể lưu trữ các ký tự – và bộ nhớ đó sẽ nằm trên một “thẻ” mạch hay bảng mạch. Các thẻ khác sẽ lấy các ký tự từ bàn phím và hiển thị lên màn hình. Thay vì có một bộ xử lý điều khiển luồng, các thẻ này sẽ liên tục gửi hoặc nhận – “Đưa đây, đưa đây, đưa đây,” chúng sẽ nói như vậy với thiết bị nhập liệu như bàn phím chẳng hạn. Bộ nhớ sẽ là nơi giao nhau của thiết bị đầu cuối. Ngay cả sau này, khi bạn đặt một bộ vi xử lý trên thiết bị đầu cuối để thực hiện các chức năng như máy tính, con chip mạnh mẽ ấy sẽ được kết nối với bộ nhớ, không chạy toàn bộ chương trình, nó chỉ thực hiện tác vụ mà bộ vi xử lý ấy quen thuộc. Đó là một thiết kế tuân theo khái niệm phi tập trung hóa. Đó là lúc căn bệnh hoang tưởng của Lee đóng vai trò chủ đạo. Anh chưa sẵn sàng nhượng lại toàn bộ quyền lực cho một con chip tồi tệ. Nhưng nếu phần này thất bại thì sao? Nếu phần kia đổ bể thì sao? Anh đã thiết kế như thể người anh trai vẫn đang dòm ngó đằng sau, sẵn sàng buông lời chế nhạo khi hệ thống bị treo.
Nhưng Lee đã tìm ra cách có thể mở rộng vô hạn Thiết bị đầu cuối Tom Swift. Anh hình dung nó như một hệ thống để mọi người để thiết lập các Câu lạc bộ xung quanh nó, trung tâm mạng lưới tri thức của Thiết bị đầu cuối Tom Swfit nhỏ bé. Nó sẽ làm sống lại nhóm CM, kích động thế giới, và là chủ đề thảo luận hàng đầu ở cửa hàng của Mike Quinn cũng như các bữa tiệc tối của PCC. Nó thậm chí còn thiết lập cơ sở cho việc tiếp cận máy tính của mọi người – từ đó lật đổ đế chế xấu xa IBM, phát triển nhanh chóng nhờ Cybercrud và sự vận động độc quyền của thị trường.
Nhưng ngay cả khi mũi của Lee tấy đỏ do ánh sáng mặt trời phản chiếu trên các giản đồ của các thiết bị khác thường do anh tạo ra, thì ấn bản tháng 1 năm 1975 của tờ Popular Electronics cũng đang trên đà đạt được gần nửa triệu người đăng ký. Trên bìa tạp chí là bức ảnh cỗ máy sẽ có tác động lớn tới những người này như hình dung của Lee về điều mà Thiết bị đầu cuối Tom Swift có thể làm. Cỗ máy đó là một chiếc máy tính. Và nó chỉ có giá 397 đô-la.
☆ ☆ ☆
Đó là phát kiến của một người Florida kỳ lạ đang vận hành một công ty ở Albuquerque, New Mexico. Người đàn ông đó là Ed Roberts và công ty của anh là MITS, viết tắt của Micro Instrumentation Telemetry Systems (Hệ thống Đo đạc từ xa Tinh vi), dù một số người sẽ tin rằng nó là từ viết tắt của “Man In The Street” (Người đàn ông trên phố). Ed Roberts, một người bí ẩn ngay cả với những người bạn thân thiết nhất của anh, đã truyền cảm hứng cho hoạt động nghiên cứu đó. Anh có thân hình khổng lồ, cao khoảng 1m95 và nặng hơn 115kg, cùng năng lượng và sự ham hiểu biết tuyệt vời. Anh có thể đột nhiên quan tâm tới một chủ đề và lao mình tìm hiểu về nó. “Tôi định đọc hết sách trong thư viện,” anh giải thích. Nếu một ngày nọ, nhiếp ảnh là mối bận tâm của anh, thì trong vòng một tuần, anh sẽ không chỉ sở hữu một căn phòng tối tráng ảnh màu hoàn chỉnh mà còn có thể nói chuyện với các chuyên gia. Sau đó, anh có thể chuyển sang nghiên cứu phương pháp nuôi ong hay lịch sử nước Mỹ. Chủ đề khiến anh mê mệt nhất là công nghệ và các ứng dụng của nó. Theo một nhân viên thời kỳ đầu của MITS có tên David Bunnell nói, sự hiếu kỳ đã khiến anh trở thành “người có niềm đam mê lớn nhất thế giới”. Ở thời đó, đam mê điện tử đồng nghĩa với việc bạn có thể là một hacker phần cứng.
Chính mô hình tàu vũ trụ đã dẫn anh tới việc khởi xướng MITS, ban đầu là nơi sản xuất đèn nháy cho những người đam mê tàu vũ trụ. Từ đó, Roberts đã biến MITS thành thiết bị kiểm thử – cảm biến nhiệt, bộ quét âm… Sau đó, anh bắt đầu quan tâm tới những thứ sử dụng đèn LED, vì thế MITS đã làm đồng hồ điện tử, cả hai đều được lắp ráp và nằm trong bộ linh kiện, còn công ty của anh đã ở vị thế hoàn hảo để có thể tận dụng ưu thế và sự tiến bộ của công nghệ vi chip giúp cho việc chế tạo các máy tính số có kích thước nhỏ trở nên khả thi. Anh cũng bán chúng theo bộ và hoạt động kinh doanh của công ty trở nên khởi sắc, mở rộng tới gần 100 nhân viên. Nhưng sau đó “Những gã khổng lồ” xuất hiện, những công ty lớn như Texas Instruments đã sản xuất vi chip của riêng họ, và các công ty nhỏ hơn đã phản ứng bằng cách giảm giá máy tính bỏ túi thấp tới mức MITS không thể cạnh tranh. “Chúng tôi phải trải qua giai đoạn mà giá thành vận chuyển một chiếc máy tính bỏ túi của chúng tôi là 39 đô-la trong khi bạn có thể mua nó tại một hiệu thuốc với giá 29 đô-la,” Robert nhớ lại. Việc đó đã gây ra hậu quả nặng nề. Vào giữa năm 1974, công ty của Ed Roberts đã nợ 365.000 đô-la.
Nhưng Ed Roberts có một kế hoạch bí mật. Anh đã biết về những con chip vi xử lý mới của Intel và biết rằng mình có thể tận dụng nó, xây dựng một chiếc máy tính xung quanh nó. Một chiếc máy tính hoàn chỉnh. Kể từ lần đầu tiên liên hệ với họ, trong quá trình làm việc ở Không lực Mỹ, anh đã ngỡ ngàng trước sức mạnh của chúng và chán ghét các bước phức tạp cần phải trải qua để tiếp cận chúng. Khoảng năm 1974, Ed Roberts thường nói chuyện với người bạn thời thơ ấu đến từ Florida, Eddie Currie, nhiều tới mức để tiết kiệm tiền hóa đơn điện thoại, họ phải trao đổi qua băng cát-sét. Các cuộn băng đã trở thành sản phẩm của chính họ, với hiệu ứng âm thanh, nhạc nền và giọng đọc kịch tính. Một hôm, Eddie Currie nhận được một cuộn băng không giống với bất kỳ cuộn băng nào trước kia từ Ed Robert. Currie sau này nhớ lại Ed, với ngữ điệu kích động nhất của mình, đã nói về việc xây dựng một chiếc máy tính cho đám đông. Một thứ sẽ triệt tiêu Giới giáo chức Điện toán một lần và mãi mãi. Anh sẽ sử dụng công nghệ vi xử lý mới này để đưa máy tính đến với thế giới, và nó sẽ rẻ tới mức ai cũng có thể mua được.
Sau khi gửi cuộn băng, anh liên tục gọi cho Currie. Anh có mua nó nếu tôi để giá 500 đô-la không? 400 đô-la thì sao? Anh đã bàn bạc kỹ lưỡng việc này với các nhân viên trong công ty đang thất bát của mình (chỉ còn lại vài người) và nhân viên của MITS, David Bunnell, nhớ lại: “Chúng tôi cho rằng anh ấy thực sự quá liều lĩnh.”
Nhưng khi Ed Roberts đã quyết định thì không gì có thể khiến anh đổi ý. Anh sẽ xây dựng một chiếc máy tính, thế thôi. Anh biết rằng con chip hiện tại của Intel, chiếc 8008, không đủ mạnh, nhưng khi Intel cho ra đời con chip mới, chiếc 8080, có thể hỗ trợ lượng bộ nhớ cũng như phần cứng đáng kể, Robert đã gọi cho họ để thương lượng. Nếu mua với số lượng nhỏ, mỗi con chip sẽ có giá 350 đô-la. Nhưng Robert không nghĩ về số lượng nhỏ, vì thế, anh đã “phủ đầu Intel” để mua chip với giá 75 đô-la mỗi chiếc.
Sau khi xử lý được vấn đề đó, anh đã để kỹ sư Bill Yates, nhân viên của mình, thiết kế “bus 56 ”, một bộ kết nối nơi các điểm trên con chip sẽ được nối với các đầu ra (chân kết nối) để có thể hỗ trợ những thứ như bộ nhớ máy tính và tất cả các loại thiết bị ngoại vi. Thiết kế bus không thực sự ấn tượng – quả thực, sau này, các hacker ở khắp nơi đã chê bai về việc nhà thiết kế lựa chọn một cách ngẫu nhiên điểm nào trên con chip kết nối với điểm nào trên bus – nhưng nó đã phản ánh quyết tâm bền bỉ của Ed Robert trong việc hoàn thành việc này ngay lập tức. Việc bạn có thể xây dựng một chiếc máy tính từ một trong các con chip là một bí mật để ngỏ nhưng trước đó chưa ai dám thực hiện. Những Gã Khổng lồ của giới tin học, đặc biệt là IBM, coi toàn bộ ý tưởng này là một sự lố bịch. Có gã ngốc nào lại muốn một chiếc máy tính cỡ nhỏ cơ chứ? Ngay cả Intel, nơi sản xuất con chip, cũng cho rằng chúng phù hợp với nhiệm vụ điều khiển đèn giao thông hơn là các cỗ máy tính cá nhân. Dù vậy, Robert và Yates đã tập trung vào thiết kế của cỗ máy, thứ mà Bunnel đã thuyết phục Roberts gọi là “Em trai Bé nhỏ” trong một cú đánh kiểu Orwellian vào những Gã Khổng lồ. Robert tự tin rằng những người đó sẽ mua chiếc máy khi anh cung cấp nó dưới dạng đồ nghề. Họ có thể chỉ có vài trăm khách hàng trong năm đầu tiên.
56 Trong kiến trúc máy tính, “bus” là hệ thống phụ lưu chuyển dữ liệu giữa các thành phần bên trong máy tính, hoặc giữa các máy tính với nhau. (ND)
Trong khi Ed Roberts đang tập trung vào sản phẩm mẫu của mình, một biên tập viên tạp chí có dáng người thấp lùn cùng cái đầu hói ở New York cũng có cùng suy nghĩ với anh. Les Solomon là kẻ lang thang bước ra từ một câu chuyện của Bernard Malamud 57 , một tay hề, một cựu kỹ sư sinh ra ở Brooklyn với khiếu hài hước ác ý. Anh chàng có vẻ ngoài tầm thường này đã khoe khoang về quá khứ làm lính đánh thuê phục vụ chủ nghĩa phục quốc Do Thái chiến đấu bên cạnh Menachem Begin 58 ở Palestine. Anh cũng kể về những hành trình kỳ lạ đã giúp anh lần ra các brujo (thầy phù thủy) da đỏ người Nam Mỹ, hay những bác sĩ phù thủy được anh chia sẻ các loại thuốc “thánh” và xóa hết dữ liệu bị che đậy trước kia về ý nghĩa của sự tồn tại. Năm 1974, anh tìm kiếm người thiết kế bộ máy tính sao cho các độc giả cuồng điện tử của tạp chí mà anh đang làm việc, tờ Popular Electronics, sẽ là những người tiên phong trong công nghệ và có nhiều dự án lý thú để phát triển. Sau đó, Solomon sẽ cố gắng từ bỏ bất kỳ động cơ to tát nào. “Chỉ có hai kiểu hài lòng mà con người có thể sở hữu,” anh nói, “đó là cái tôi và cái ví. Thế thôi. Nếu có những thứ này thì bạn đã sẵn sàng. Công việc của tôi chính là thu thập các bài viết. Có một tạp chí khác [Radio Electronics] cũng làm về công nghệ số. Họ cho ra đời một bộ máy tính dựa trên chip Intel 8008. Tôi biết rằng 8080 có thể chạy tốt hơn thế nhiều. Tôi đã nói chuyện với Ed Roberts, người từng xuất bản các bài viết về chiếc máy tính bỏ túi của mình trên tạp chí của chúng tôi, về chiếc máy tính của anh, và tôi nhận ra rằng đó sẽ là một dự án tuyệt vời cho tạp chí. Hy vọng rằng tôi sẽ được tăng lương.”
57 Ttiểu thuyết gia, nhà văn chuyên viết truyện ngắn người Mỹ. Ông là một trong những tác giả người Do Thái nổi tiếng nhất của Mỹ trong thế kỷ XX. (ND)
58 Chính trị gia, Thủ tướng thứ sáu của Nhà nước Israel. (ND)
Nhưng Solomon biết đây không chỉ là một dự án khác, và quả thực là còn nhiều yếu tố khác ngoài cái tôi và cái ví. Đây là một chiếc máy tính. Sau này, khi được động viên, Les Solomon đã nhẹ nhàng chia sẻ về dự án mà anh sắp sửa giới thiệu với độc giả của mình: “Máy tính là một chiếc hộp ma thuật. Nó là một công cụ. Nó là một dạng nghệ thuật. Nó là một thứ võ thuật tối thượng… Chẳng có gì nhảm nhí ở đó. Nếu không có lẽ phải, máy tính sẽ không hoạt động. Bạn không thể đùa giỡn với một chiếc máy tính, Chúa ơi, bit đó có ở đó hay không.” Với anh, hoạt động sáng tạo là sự phát triển tự nhiên của quá trình làm việc với máy tính bằng niềm đam mê đến ám ảnh của một hacker. “Đó là nơi tất cả mọi người đều có thể trở thành một vị thần,” Les Solomon nói.
Vì thế, anh háo hức muốn thấy cỗ máy của Ed Roberts. Ed Roberts đã gửi cho anh sản phẩm mẫu duy nhất qua đường hàng không và nó bị mất khi quá cảnh. Đó là sản phẩm mẫu duy nhất. Vì thế, Solomon đã phải nhìn vào các giản đồ, tin vào lời của Roberts rằng thứ đó sẽ hoạt động được. Anh đã tin. Vào một đêm nọ, anh hỏi đùa cô con gái về một cái tên khả dĩ cho cỗ máy, và cô bé nhắc đến cái tên xuất hiện trong bộ phim truyền hình Star Trek tối hôm đó, con tàu Enterprise đã được phóng tới một ngôi sao tên là Altair. Và Altair đã trở thành cái tên được đặt cho chiếc máy tính của Ed Roberts.
Roberts và trợ lý thiết kế Bill Yates đã đăng một bài báo để mô tả nó. Vào tháng 1 năm 1975, Solomon đăng một bài viết, với địa chỉ của MITS, và đề xuất bán bộ linh kiện cơ bản với giá 397 đô-la. Trên trang bìa của ấn bản đó là bức ảnh được dựng lên của chiếc Altair 8800, một chiếc hộp màu xanh có kích thước bằng nửa chiếc máy điều hòa, có mặt trước hấp dẫn với những công tắc nhỏ xíu và hai hàng đèn LED màu đỏ. (Mặt trước này sẽ thay đổi để trở thành một biến thể thậm chí còn vui mắt hơn, được đính một dải màu vàng với logo MITS và chú thích “Altair 8800” bằng font chữ sặc sỡ được nhận diện bằng các đầu đọc máy tính).
Những người đọc bài viết sẽ phát hiện ra rằng chỉ có 256 byte 59 bộ nhớ bên trong cỗ máy, không đi kèm với các thiết bị đầu ra và đầu vào; nói cách khác, đó là một cỗ máy không có bất kỳ phương tiện có sẵn nào để đưa thông tin vào hoặc lấy thông tin ra, ngoài các bộ chuyển mạch được đặt ở phía trước mà bạn phải chịu khó dùng để đưa thông tin trực tiếp vào các ô nhớ. Cách duy nhất nó có thể nói chuyện với bạn là thông qua những chiếc đèn nhấp nháy phía trước. Nhưng giống như một người sống thực vật, cấu trúc cởi mở của nó đã che đậy sự thật rằng có một bộ não điện toán còn sống và đang hoạt động bên trong. Đó là một chiếc máy tính, và những gì hacker có thể làm với nó chỉ bị giới hạn bởi trí tưởng tượng của chính họ.
59 1 byte bằng 8 bit. (BTV)
Roberts hy vọng sẽ có khoảng 400 đơn đặt hàng đến dần dần trong lúc MITS hoàn thiện dây chuyền lắp ráp để sẵn sàng sản xuất các bộ kit đủ tin cậy cho những người đam mê tận tâm. Anh biết mình đang đánh cược vận mệnh của cả công ty bằng chiếc Altair. Trong buổi họp lên ý tưởng đầu tiên, anh đã nói về việc truyền bá điện toán tới đám đông, cho phép mọi người tương tác trực tiếp với máy tính, qua đó truyền bá Đạo đức Hacker trên khắp lãnh thổ. Sau này, anh thú nhận rằng kiểu nói chuyện đó có ẩn chứa yếu tố kích thích bên trong. Anh muốn cứu lấy công ty của mình. Trước khi bài báo được xuất bản, anh gần như không ngủ, lo lắng về nguy cơ phá sản và bắt buộc nghỉ việc. Ngày tờ báo đến tay những người đăng ký, rõ ràng không có thảm họa nào xảy ra. Những chiếc điện thoại bắt đầu rung lên không ngừng. Và hòm thư thì chật cứng những đơn đặt hàng, kèm những tấm séc hoặc lệnh chuyển tiền trị giá hàng trăm đô-la cho thiết bị của MITS – không chỉ cho máy tính mà còn cả các bảng mạch rời giúp những chiếc máy tính trở nên hữu ích hơn. Các bản mạch đó vẫn còn chưa được thiết kế. Vào một buổi chiều nọ, MITS đã nhận được 400 đơn đặt hàng, con số mà Ed Roberts kỳ vọng. Và sẽ có thêm hàng trăm đơn đặt hàng nữa, hàng trăm người trên khắp nước Mỹ với khát khao cháy bỏng được tạo ra những chiếc máy tính của riêng mình.
Les Solomon nhìn nhận hiện tượng này như thế nào? “Từ duy nhất tôi nghĩ trong đầu là ‘kỳ diệu’. Bạn mua một chiếc Altair, bạn phải tạo ra nó, sau đó, bạn phải tạo ra những thứ khác để cắm vào nó khiến nó hoạt động được. Bạn quả là kiểu người kỳ dị. Bởi chỉ những người kỳ dị mới ngồi trong bếp hay tầng hầm, dành cả đêm để hàn mọi thứ vào các bảng mạch và khiến cho các cỗ máy hoạt động. Họ đã lắp ráp một chiếc máy tính. Và tờ báo xuất bản bài viết này cũng như đặt nó lên trang bìa đã nói: ‘Giờ đây, bạn có thể tạo ra một cỗ máy tính cho riêng mình với giá chỉ 400 đô-la. Tất cả những gì bạn phải làm là gửi séc tới MITS ở Albuquerque, rồi họ sẽ gửi lại một chiếc hộp linh kiện.’ Chẳng ai lại đi gửi 15 xu đến một công ty để mua mặt đèn pin đúng không? Nhưng lại có khoảng 2.000 người, tôi chưa được thấy tận mắt, đã gửi séc, lệnh chuyển 300-500 đô-la mỗi lần, cho một công ty vô danh ở một thành phố khá vô danh, tại một bang còn chưa được biết đến về mặt công nghệ. Những người này rất khác biệt. Họ là những nhà thám hiểm mới đặt chân lên vùng đất mới. Họ cũng giống như những người dân đến miền Tây trong thời kỳ đầu của nước Mỹ. Đó là những kẻ lập dị đã quyết định đi tới California, Oregon hay chỗ nào thì có Chúa mới biết.”
Họ là hacker. Họ cũng tò mò về hệ thống như các hacker MIT nhưng vì không được tiếp cận hằng ngày với những chiếc PDP-6, họ đã phải xây dựng các hệ thống cho riêng mình. Những điều thu được từ các hệ thống này không quan trọng bằng việc hiểu, khám phá và trao đổi về chính bản thân các hệ thống.
Ed Roberts sau đó đã nói về sức mạnh này: “Khi nói về sự giàu có, điều bạn thực sự đang nói là: ‘Bạn đang kiểm soát bao nhiêu người?’ Nếu cho bạn một đội quân 10.000 người, bạn có thể xây dựng một kim tự tháp không? Máy tính có thể đem đến cho một người bình thường, một học sinh trung học năm đầu tiên thứ sức mạnh để mất một tuần thực hiện xong những việc mà tất cả các nhà toán học của 30 năm trước không thể làm được.”
Một trong những trường hợp điển hình đã bị kích động bởi bài báo về Altair là một nhân viên xây dựng 30 tuổi ở Berkeley có mái tóc vàng, dài và cặp mắt xanh sáng bóng có tên Steve Dompier. Một năm trước khi bài viết trên Popular Electronics ra đời, anh đã lái xe lên một con đường dốc đứng, quanh co ở Berkeley dẫn tới Lawrence Hall of Science, một cấu trúc bê-tông khổng lồ có dạng boong-ke trông rất đáng ngại, từng là bối cảnh cho bộ phim The Forbin Project (tạm dịch: Dự án Forbin) kể về hai chiếc máy tính thông minh cùng hợp tác với nhau để kiểm soát thế giới. Trung tâm giáo dục kiêm bảo tàng này được tài trợ để hỗ trợ kỹ năng trong các ngành khoa học, và vào đầu những năm 1970, chương trình giao dịch điện toán của nó đã được vận hành bởi Bob Kahn, một trong những người chào hàng trong các buổi trình diễn công nghệ đầu tiên của Bob Albrecht. Nó có một chiếc máy tính chia sẻ thời gian lớn của HP kết nối với hàng tá các thiết bị đầu cuối đánh chữ màu xám hợp kim, và khi Steve Dompier lần đầu tiên tới đó, anh đã xếp hàng để mua một chiếc vé trị giá 50 xu cho một giờ dùng máy tính, giống như anh đang mua vé roller coaster 60 . Anh nhìn xung quanh khu máy trong khi chờ đợi đến lượt mình ngồi vào một thiết bị đầu cuối và khi đến giờ, anh bước vào một căn phòng với 30 chiếc máy chữ đang kêu lóc cóc. Steve có cảm giác như mình đang ở bên trong một cái máy trộn xi-măng. Anh gõ nhẹ vào thiết bị và bằng sự tự tin mạnh mẽ, chiếc máy in ra dòng chữ; XIN CHÀO. TÊN BẠN LÀ GÌ. Anh gõ vào STEVE. Máy in dòng lại tiếp tục in ra dòng chữ: CHÀO STEVE, BẠN MUỐN LÀM GÌ NÀO, và Steve Dompier đã thực sự vỡ òa.
60 Roller coaster là một loại trò giải trí có sử dụng một đường ray xe lửa trên cao được thiết kế với những cú ngoặt đột ngột, sườn dốc, và đôi khi là những đường ray lộn ngược. Mọi người đi theo đường ray trong các toa lộ thiên, trò này thường có trong các công viên giải trí trên khắp thế giới. (ND)
Sau này, anh mô tả lại: “Đó là một cỗ máy kỳ diệu và nó có trí thông minh. Tất nhiên, tôi không thể hiểu nguyên tắc hoạt động của nó, nhưng bạn có thể thấy điều đó trên khuôn mặt của mọi người trong 4-5 tháng đầu tiên cho tới khi họ hiểu rằng máy tính thực sự không thông minh. Đó chính là phần gây nghiện, điều kỳ diệu đầu tiên ấy đã xảy ra khi cỗ máy trả lời bạn và làm toán cực kỳ nhanh.” Với Steve Dompier, sự hấp dẫn vẫn còn tiếp diễn. Anh đã chơi điện tử trên hệ thống, như trò Star Trek, hoặc nói chuyện với một phiên bản chương trình ELIZA của Joseph Weizenbaum. Anh có một cuốn sách về lập trình BASIC và nghiên cứu viết một vài chương trnình nhỏ. Anh đã đọc Computer Lib và bị chính trị hóa về mặt công nghệ. Anh đã mua một máy chữ ở nhà để có thể truy cập vào máy tính ở Lawrence Hall qua điện thoại, nơi anh sẽ chơi một trò chơi không gian mới Trek ’73 trong hàng giờ liên tục. Và rồi anh đã nghe được tin về Altair.
Ngay lập tức, anh gọi tới Albuquerque, yêu cầu xem catalog, và khi nhận được hàng, anh thấy mọi thứ đều thật tuyệt – bộ máy tính, các ổ đĩa tùy chọn, mô-đun bộ nhớ, mô-đun đồng hồ. Anh đã gửi mua tất cả với khoản tiền 4.000 đô-la. Anh cho rằng mình sẽ sử dụng hệ thống máy tính mới để ghi mục lục tất cả các tạp chí Popular Science; nếu anh không biết bài báo về ống nhiệt ở đâu, anh sẽ gõ HEAT PIPES (ống nhiệt) trên máy tính và nó sẽ trả lời, SỐ 4, TRANG 76 NHÉ STEVE! Sau 10 năm với nhiều thế hệ máy tính khác ra đời, anh vẫn chưa thực hiện được tác vụ đó. Bởi anh thực sự muốn có một chiếc máy tính để hack, chứ không phải để làm một chỉ mục ngu ngốc đó.
MITS đã trả lời và nói rằng anh gửi cho họ quá nhiều tiền; một nửa số thiết bị anh đặt hàng mới chỉ trong giai đoạn lập kế hoạch mơ hồ. Nửa còn lại cũng chưa tồn tại nhưng MITS đang triển khai các sản phẩm đó. Vì thế, Steve Dompier phải chờ đợi.
Anh đã đợi từ tháng Một, rồi tới tháng Hai và đầu tháng Ba năm đó, việc chờ đợi đã trở nên khó chịu tới mức anh quyết định bay tới Albuquerque, thuê một chiếc ô tô. Với tất cả những gì có trong tay chỉ là tên con phố, anh bắt đầu lái xe tới các hãng khác nhau ở Thung lũng Silicon. Anh biết phải tìm kiếm thứ gì… Đó là tòa nhà một tầng hiện đại, rất dài, được xây trên một thảm cỏ xanh rộng lớn, với vòi tưới nước cho cỏ luôn bật, một tấm biển bên ngoài với chữ “MITS” được khắc trên tấm gỗ mộc mạc. Nhưng vùng phụ cận của địa chỉ đó không có vẻ gì là như thế. Đó là một vùng công nghiệp xoàng xĩnh. Sau khi lái xe vòng đi vòng lại vài lần, anh đã trông thấy tấm biển nhỏ. “MITS”, ở trên góc cửa sổ của một trung tâm thương mại nhỏ, nằm giữa một tiệm mát-xa và một hiệu giặt đồ. Nếu nhìn vào bãi đỗ xe gần đó, anh sẽ thấy một cái xe moóc mà một hacker nào đó đang sống từ ba tuần trước khi chiếc máy của anh ta sẵn sàng được giao.
Dompier đi vào và thấy trụ sở MITS là hai văn phòng nhỏ xíu với một thư ký đang cố gắng xoay xở với chiếc điện thoại đổ chuông liên tục. Cô đang trấn an hết người này tới người khác rằng rồi một ngày nào đó, chiếc máy tính sẽ được chuyển tới. Dompier đã gặp Ed Roberts, người đón nhận tất cả những điều này với sự khoái trá. Roberts đã đưa ra một câu chuyện lạc quan về tương lai máy tính, làm thế nào MITS sẽ lớn hơn cả IBM và sau đó, họ đi tới căn phòng ở phía sau, với linh kiện chất cao tới trần nhà, nơi có vị kỹ sư một tay cầm tấm bảng mặt trước một tay nắm một nhúm đèn LED. Và đó là tất cả những gì có trong Altair cho tới lúc này.
Hệ thống vận chuyển bộ linh kiện của MITS đã không thực sự tuân theo luật bưu chính Mỹ, vốn không chấp nhận tiền qua đường bưu điện cho những đồ vật không tồn tại, ngoại trừ những thứ có dạng tranh ảnh trên bìa tạp chí. Nhưng bưu điện không nhận được quá nhiều lời phàn nàn. Khi bạn của Ed Roberts, Eddie Currie, gia nhập công ty để giúp xử lý việc này, anh nhận thấy kinh nghiệm của mình với một vài khách hàng của MITS ở Chicago khá đặc thù: Một anh chàng la ó về việc đã gửi hơn 1.000 đô-la từ hơn một năm trước mà không hề nhận được hồi âm. “Các anh đang ăn cắp tiền của tôi, thậm chí còn không đề nghị trả lại tiền nữa!” Anh ta gào lên. Currie nói: “Được rồi, tên của anh là gì, tôi sẽ yêu cầu phòng kế toán gửi cho anh một tấm séc ngay lập tức, tính cả lãi nữa.” Người đàn ông nhanh chóng nhún nhường. “Ồ không. Tôi không muốn thế.” Anh ta muốn có thiết bị. “Đó là trạng thái tâm lý của họ,” Currie nhớ lại. “Thật thú vị khi thấy mọi người muốn có nó tới mức nào.”
Tinh thần của Ed Roberts đang lên cao, anh quá bận bịu với việc hoàn thành mọi thứ để lo đảm bảo số lượng đơn hàng mà công ty đang chậm trễ. Họ có các đơn hàng trị giá hàng triệu đô-la và kế hoạch còn lớn hơn thế rất nhiều. Mỗi ngày lại có những điều mới mẻ xuất hiện khiến mọi việc thậm chí còn rõ ràng hơn, rằng cuộc cách mạng máy tính đang diễn ra ở ngay đó. Ngay cả Ted Nelson, tác giả của Computer Lib, cũng gọi điện chúc mừng. Bob Albrecht cũng gọi, và nói anh sẽ viết một cuốn sách về các trò chơi trên Altair nếu Roberts gửi cho anh một bản mẫu hoạt động được để viết bài cho PCC.
Cuối cùng, MITS cũng xoay xở để xuất xưởng được một vài bộ linh kiện. Steve Dompier chỉ rời văn phòng sau khi Roberts đưa cho anh một túi nhựa chứa các linh kiện để anh có thể bắt đầu với chúng, và vài tháng sau sẽ có thêm các linh kiện được UPS gửi đến. Cuối cùng, Dompier cũng trở thành khách hàng thứ tư có đủ linh kiện để lắp ráp một chiếc Altair. Chiếc thứ ba dành cho anh chàng trong bãi đỗ xe làm việc với hệ thống hàn chạy bằng ắc-quy. Mỗi khi gặp vấn đề, anh sẽ ngay lập tức lần tìm và làm cho một kỹ sư của MITS phát cáu cho tới khi anh hiểu được vấn đề thì thôi. Một sản phẩm mẫu lắp ráp từ trước đã được đưa tới PCC, nhằm tạo ra lợi thế lớn trong việc có một sản phẩm mẫu được dựng sẵn.
Việc lắp đặt chiếc Altair không hề dễ dàng. Eddie Currie sau này xác nhận điều này khi nói: “Một trong những điều thú vị về bộ linh kiện [từ quan điểm của MITS] là bạn không phải kiểm thử các linh kiện mình đã gửi đi, bạn không cần phải kiểm thử các khối phụ (subunit) 61 , bạn không cần phải kiểm thử các đơn vị hoàn chỉnh. Bạn chỉ việc đặt tất cả mọi thứ vào phong bì và gửi đi. Công việc còn lại thuộc về những khách hàng tội nghiệp, họ phải tự tìm ra cách lắp tất cả các túi đồ tạp nham đó lại với nhau.” Đó là một quá trình tự học, một khóa học logic số, kỹ năng hàn và chế tạo. Nhưng bạn có thể hoàn thành được. Vấn đề là sau khi hoàn thành, thứ bạn có được là một chiếc hộp với những chiếc đèn nhấp nháy và chỉ có 256 byte bộ nhớ. Bạn có thể cài đặt một chương trình bằng cách nhập các con số bát phân vào máy tính thông qua các thiết bị chuyển mạch bé xíu, dễ kẹt tay của các bóng đèn LED cũng được sắp đặt trong hệ bát phân. Chết tiệt, thế thì có làm sao? Đó là một khởi đầu. Đó là một chiếc máy tính.
61 CPU bao gồm một số khối phụ, mỗi nhóm lại đóng một vai trò riêng trong toàn thể hoạt động của bộ vi xử lý máy tính. Các nhóm con này bao gồm: thanh ghi, bộ số học và logic và khối điều khiển. (BTV)
Khắp công ty PCC, mọi người rỉ tai nhau rằng chiếc Altair 8800 là một sự kiện đáng mừng. Họ đều biết về những nỗ lực khiến hệ thống chạy tốt hơn con chip Intell 8008. Nhưng chiếc Altair, với chi phí vô cùng thấp cùng con chip 8080 của nó, được nhắc đến như thể sự kiện chúa Giê-su tái lâm 62 .
62 Tái lâm là một niềm tin trong Kitô giáo và Hồi giáo, liên quan đến sự trở lại trong tương lai của Giê-su sau khi ông “đến lần đầu tiên” và ra đi cách đây 2000 năm. Niềm tin dựa trên những lời tiên tri cứu thế được tìm thấy trong các sách Phúc Âm kinh điển và là một phần của hầu hết các giáo lý Kitô giáo. (ND)
Ấn bản đầu tiên của PCC vào năm 1975 đã dành một trang cho cỗ máy mới, thúc giục các độc giả chú ý tới bài viết trên tờ Popular Electronics, và bổ sung một phụ lục viết tay của Bob Albrecht: “Chúng tôi sẽ đặt những con chip của mình lên con chip đó. Nếu bạn đang lắp ráp một chiếc máy tính ở nhà, máy tính trường học, máy tính có bộ nhớ cộng đồng 63 … máy tính thích chơi điện tử… với một con chip Intel 8008 hay Intel 8080, hãy viết thư cho PCC Dragon!”
63 Bộ nhớ cộng đồng (community memory) là bảng thông báo được điện toán hóa công cộng đầu tiên trên thế giới, nó cho phép người dùng có thể nhập và tìm được các thông điệp. Mỗi cá nhân có thể đặt các thông điệp trong một chiếc máy tính và đọc nhanh phần thông tin đã được lưu lại. (BTV)
Lee Felsenstein, người thực hiện các bài nhận định phần cứng cho PCC háo hức muốn xem cỗ máy. Thứ lớn nhất trước đó là chiếc máy chữ TV mà người bạn cùng ga-ra của anh, Bob Marsh, đã phát triển, và Lee đã trao đổi thông tin với người thiết kế ra nó, Don Lancaster. Thiết kế đó dường như có lỗi nghiêm trọng khi nó cứ xóa trắng cuối mỗi trang của văn bản – một nguyên tắc theo kiểu “quay cuồng” 64 đã xóa những gì có trước đó khi màn hình được khởi động lại với một đầu ra mới – và Lee đã nghĩ tới việc thiết kế một bảng mạch để gỡ lỗi đó. Nhưng khi chiếc Altair ra đời, mọi việc đều không thể đoán trước được. Lee và Marsh đã đọc bài viết trên Popular Electronics và ngay lập tức nhận ra rằng sản phẩm mẫu được chụp trên tạp chí là một sản phẩm bù nhìn, và rằng ngay cả khi chiếc Altair thực thụ đã sẵn sàng thì đó cũng sẽ chỉ là một chiếc hộp với những chiếc đèn nhấp nháy. Chẳng có gì trong đó cả! Đó chỉ là một phần mở rộng logic của thứ mà ai cũng đã biết và không có ai dám tận dụng.
64 Từ gốc “whirling dervish”: Một điệu múa truyền thống nổi tiếng của Thổ Nhĩ Kỳ với các vũ công thường múa xoay vòng tròn. (BTV)
Điều đó ít nhất cũng không khiến Lee buồn; anh biết tầm quan trọng của Altair không nằm ở tiến bộ công nghệ hay thậm chí là một sản phẩm hữu ích. Giá trị của Altair nằm ở giá cả và sự hứa hẹn của nó – cả hai đều sẽ lôi kéo mọi người đặt mua các bộ linh kiện và xây dựng những chiếc máy tính cho riêng họ. Lee, người không hề tôn trọng những trường đại học tinh hoa theo kiểu tháp ngà như MIT, đã hả hê trong lễ khánh thành trường đại học đầu tiên với chuyên ngành hack phần cứng: Đại học Altair. Bạn sẽ được cấp bằng sau khi hoàn thành các khóa học về Hàn mạch, Logic Số, Ứng biến Công nghệ, Gỡ lỗi và Biết Phải Nhờ Ai Giúp. Sau đó, bạn sẽ sẵn sàng cho kỳ thi đầu vào kéo dài suốt đời để lấy được tấm bằng Tiến sĩ chuyên ngành Kiếm Thứ gì đó để Làm Gì đó.
Khi Altair gửi một trong những chiếc máy tính được lắp ráp đầu tiên tới PCC, Bob Albrecht đã cho Lee mượn một tuần. Anh mang nó tới chỗ của Efrem Lipkin và họ đã lắp ráp nó, coi nó như một thứ đồ quý hiếm, một công trình nghệ thuật. Lee nhận được linh kiện và bắt đầu mơ về những thứ có thể đặt vào trong nó để tạo ra một hệ thống từ cỗ máy. Trong bài đánh giá chiếc máy trên PCC, đi kèm với một bức ảnh có hình sét đánh tại một thị trấn nhỏ, anh viết: “Chiếc Altair 8800 có (ít nhất) hai thứ đi kèm với nó: nó ở đây và nó hoạt động. Chỉ riêng những điều này đã đảm bảo rằng NÓ là chiếc máy tính nghiệp dư trong vòng ít nhất một năm tới…”
PCC đã dành nhiều trang để viết về cỗ máy, trung tâm của cuộc cách mạng sắp diễn ra. Nhưng cũng như Bob Albrecht hăng hái với chiếc Altair, anh vẫn cảm thấy điều then chốt trong hoạt động của mình là sự kỳ diệu ban đầu của bản thân điện toán, chứ không phải sự cuồng nhiệt với phần cứng thường thấy ở những hacker phần cứng gấp rút đặt hàng Altair. Có nhiều hacker phần cứng quanh PCC, nhưng khi một trong số họ, Fred Moore, một người hay mơ mộng với một số ý tưởng chính trị về máy tính, hỏi Albrecht liệu anh có thể dạy một lớp ở PCC về phần cứng máy tính hay không, thì Albrecht lại ngần ngại.
Đó là một mâu thuẫn kinh điển giữa các hacker và các nhà hoạch định. Albrech là nhà hoạch định muốn sự kỳ diệu được lan tỏa sâu rộng và coi sự cuồng tín mãnh liệt về hack cấp độ cao chỉ là thứ yếu. Các hacker phần cứng muốn đi thẳng tới những chiếc máy, sâu tới mức tới được điểm mà tại đó, thế giới ở trong trạng thái thuần khiết nhất của nó, nơi “bit ở đó hoặc không ở đó”, như Solomon đã nói. Một thế giới nơi chính trị và các tác nhân xã hội không còn phù hợp.
Thật mỉa mai rằng Fred Moore là người muốn dẫn dắt thế hệ đó bước vào các bí ẩn phần cứng, bởi theo cách của riêng anh thì Moore giống như một nhà hoạch định hơn là một hacker.
Mối quan tâm tới máy tính của Fred Moore không chỉ là mang lại niềm vui cho các lập trình viên tận tụy, mà còn là mang mọi người sát lại gần nhau. Fred là một nhà hoạt động lười biếng, một sinh viên phản đối bạo động, người luôn tin rằng hầu hết mọi vấn đề đều có thể được giải quyết chỉ cần mọi người ngồi lại với nhau, giao tiếp và chia sẻ các giải pháp. Đôi khi, để phục vụ cho các đức tin này, Fred Moore sẽ làm những điều rất lạ lùng.
Bốn năm trước, vào năm 1971, anh đã có một trong những khoảnh khắc khó quên khác trong bữa tiệc chia tay cuốnWhole Earth Catalog. Chủ biên Stewart Brand đã khiến bữa tiệc chia-tay-cuốn-sách này trở nên hỗn loạn khi tuyên bố ông sẽ trao tặng 20.000 đô-la, và 1.500 người dự tiệc sẽ quyết định xem ai là người được nhận số tiền. Thông báo này được đưa ra vào lúc 10 giờ 30 phút tối, và trong 10 giờ tiếp theo, bữa tiệc đã biến đổi, theo các chiều hướng khác nhau, từ buổi họp thị trấn biến thành cuộc họp quốc hội, tranh luận, cãi vã, làm trò, phàn nàn. Đám đông đã co lại: Vào khoảng 3 giờ sáng, quẻ Kinh Dịch được gieo với các kết quả không mấy thuyết phục. Sau đó, Fred Moore đứng lên phát biểu. Một phóng viên trẻ tuổi đã mô tả anh là “một người đàn ông trẻ tuổi với mái tóc xoăn lượn sóng, để râu cùng biểu cảm mãnh liệt và nghiêm chỉnh”. Moore nói rằng anh rất buồn khi tiền được gán mác như thể đấng cứu thế và mọi người đã bị mua chuộc. Anh tuyên bố với đám đông rằng điều quan trọng hơn cả tiền bạc là sự kiện sắp diễn ra ngay sau đó. Anh nhấn mạnh rằng một nhà thơ đang cần tiền để xuất bản một tập thơ và ai đó đã nói: “Chúng tôi biết nơi anh có thể lấy giấy,” và ai đó khác đã gợi ý một chiếc máy in rẻ tiền… và Fred cho rằng có lẽ mọi người không cần tiền để có được thứ họ muốn, họ chỉ cần chính mình. Để minh họa cho quan điểm đó, Fred bắt đầu đốt những đồng đô-la. Sau đó, mọi người đã quyết định biểu quyết xem liệu họ có lo lắng đến việc tiêu tiền không; Moore đã phản đối biểu quyết vì cho rằng biểu quyết là cách để chia rẽ mọi người. Sau khi nói chuyện nhiều hơn, Moore bắt đầu truyền bá kiến nghị, trong đó có một phần viết rằng: “Chúng tôi cảm thấy việc mọi người có mặt ở đây đêm nay còn quan trọng hơn vấn đề tiền bạc, đó là nguồn lực còn lớn hơn,” và anh đã thúc giục mọi người hãy ký tên lên trên một mảnh giấy để giữ liên lạc với nhau thông qua mạng lưới thực. Cuối cùng, đến giờ trưa, khi có khoảng 20 người còn ở lại, họ đã nói rằng họ không quan tâm tới điều đó, và đưa tiền cho Fred Moore. Xin trích lại ghi chép của một phóng viên Rolling Stone: “Moore có vẻ nghiễm nhiên lấy được tiền, bằng sự kiên nhẫn… More đã lang thang một hồi lâu, bối rối và sợ hãi, cố gắng khiến những người lái xe đồng hành cùng anh trở lại Palo Alto, và tự hỏi liệu anh có nên gửi tiền vào một tài khoản ngân hàng… rồi nhận ra rằng anh không có tài khoản ngân hàng nào cả.”
Fred Moore chưa bao giờ gửi tiền vào ngân hàng (“Họ chỉ giỏi khơi mào chiến tranh,” anh nói), nhưng cuối cùng, anh đã gửi hàng nghìn đô-la cho các nhóm xứng đáng. Nhưng trải nghiệm đó đã cho anh thấy hai điều. Một là, anh đã biết: Tiền bạc chính là ma quỷ. Hai là, sức mạnh của mọi người khi đứng cùng nhau, cách họ có thể làm được mọi điều mà không cần tiền, chỉ bằng cách tập hợp nhau và sử dụng các nguồn lực tự nhiên của chính mình. Đó là lý do tại sao Fred Moore trở nên kích động đến thế về máy tính.
Moore đã làm việc với máy tính trong suốt vài năm, kể từ khi lang thang tới trung tâm máy tính ở Trung Tâm Y tế Stanford hồi năm 1970. Sau đó, anh đi khắp nơi trên chiếc xe buýt Volkswagen cùng cô em gái, và thỉnh thoảng sẽ bỏ cô bé lại trên chiếc xe để chơi đùa cùng máy tính. Có một lần, anh mải mê với chiếc máy tới mức có một viên cảnh sát đã tới trung tâm máy tính để hỏi xem có ai biết gì về cô bé gái bị bỏ lại trong bãi đỗ xe không…
Anh coi máy tính là công cụ giúp công việc trở nên vô cùng đơn giản, một phương pháp để mọi người kiểm soát môi trường xung quanh. Anh có thể thấy điều đó trong những đứa trẻ mà anh dạy chơi điện tử, trong các lớp học tại PCC. Những đứa trẻ sẽ cứ thế chơi đùa và vui vẻ. Fred đã dạy khoảng 13 lớp học này mỗi tuần, và suy nghĩ rất nhiều về cách máy tính có thể giữ mọi người lại với nhau trong một cơ sở dữ liệu lớn. Sau đó, chiếc Altair được công bố, và anh cho rằng mọi người nên tập hợp lại và dạy cho nhau cách sử dụng nó. Anh không biết nhiều về phần cứng, chỉ biết rất ít về cách lắp ráp máy tính, nhưng anh đã thấy mọi người trong lớp có thể giúp đỡ lẫn nhau và họ sẽ hoàn thành được công việc.
Bob Albrecht không thích ý tưởng đó nên không có lớp học phần cứng nào được mở ra.
Fred Moore đã trao đổi việc này với Gordon French, vị kỹ sư tư vấn đã tạo ra – “home-brewed,” theo cách các hacker phần cứng hay gọi – một chiếc máy tính ít nhiều hoạt động dựa trên con chip Intel 8008. Anh đặt tên cho hệ thống của mình là Chicken Hawk. Gordon French thích xây dựng những chiếc máy tính theo cách mà người ta hay thích tháo động cơ ra khỏi ô tô và chế tạo lại chúng. Anh có ngoại hình cao ráo với nụ cười rộng, giả tạo và mái tóc dài đã sớm bạc. French thích nói chuyện về máy tính, và thỉnh thoảng khi nhắc đến vấn đề này, anh lại như một chiếc vòi phun nước không chịu ngắt cho tới khi một nhóm thợ sửa ống nước với những chiếc cờ-lê cỡ lớn mặc áo mưa đi vào khóa vòi. Khao khát muốn gặp những người cùng chung sở thích đã dẫn anh tới PCC, nhưng French không thành công khi ứng tuyển vào ban giám đốc của PCC. Anh cũng cảm thấy không vui khi các bữa tiệc tối thứ Tư có vẻ sắp bị dừng lại. Chiếc Altair đã được bán ra, mọi người đang phát cuồng vì nó, đã đến lúc để ngồi lại cùng nhau, nhưng họ lại chẳng có cách nào để làm điều đó. Vì thế, French và Moore quyết định thành lập một nhóm những người thích chế tạo máy tính. Đó là nhóm phần cứng của riêng họ, và họ sẽ tha hồ trò chuyện về máy tính, chia sẻ các kỹ thuật điện tử, và giới thiệu một hay hai món đồ mới nhất mà bạn có thể mua. Chỉ có một nhóm nhỏ các hacker phần cứng đang nhận ra những điều có thể thu được từ các buổi họp ngẫu nhiên.
Vì thế, Fred Moore đã dựng lên một tấm biển tại PCC, Lawrence Hall, một vài trường học và các tập đoàn công nghệ cao có nội dung như sau:
CÂU LẠC BỘ MÁY TÍNH HOMEBREW CỦA NHÓM NGƯỜI DÙNG MÁY TÍNH NGHIỆP DƯ… bạn có thể gọi như vậy.
Bạn đang xây dựng một chiếc máy tính của riêng mình ư? Hay một thiết bị đầu cuối? Một máy chữ TV? Một thiết bị đầu ra/đầu vào? Hay một hộp đen kỹ thuật số nào đó?
Hay bạn có đang bỏ tiền để được sử dụng dịch vụ chia sẻ thời gian?
Nếu vậy, bạn có thể sẽ muốn tụ tập với những người có cùng sở thích và tư duy. Trao đổi thông tin, trao đổi ý tưởng, hỗ trợ dự án hay bất kể việc gì khác...
Buổi gặp mặt được tổ chức vào ngày 5 tháng 3 năm 1975, tại Menlo Park của Gordon. Fred Moore và Gordon French đã dựng lên sân khấu cho thời kỳ hoàng kim mới nhất của giấc mơ hacker.