Hacker Lược Sử

Lượt đọc: 441 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10
câu lạc bộ máy tính homebrew

Đêm ngày 5 tháng 3 là một đêm mưa gió ở Thung lung Sillicon. Có 32 người tham dự buổi họp đầu tiên và nhóm vẫn chưa được đặt tên khi ấy có thể nghe được tiếng mưa rơi khi ngồi trên sàn nhà xi măng cứng trong ga-ra dành cho hai chiếc xe của Gordon French.

Một vài người trong cuộc họp đã biết nhau, những người khác liên lạc ngẫu nhiên qua tờ rơi mà Fred Moore đã đăng. Lee Felsenstein và Bob Marsh đã lái chiếc xe bán tải cũ từ Berkeley đến. Bob Albrecht tới để chúc mừng nhóm, và để trình diễn chiếc Altair 8800 mà MITS đã cho PCC mượn. Tom Pittman, kỹ sư làm việc tự do đã tự dựng một chiếc máy tính ọp ẹp tại nhà trên con chip Intel 4004 đời đầu. Anh gặp Fred Moore trong một hội nghị điện toán hồi tháng trước, và mong đợi được gặp những người cùng chung sở thích. Steve Dompier, khi đó vẫn đang chờ những linh kiện còn lại của chiếc Altair, thấy tờ rơi đăng ở Lawrence Hall. Marty Spergel có một cửa hàng nhỏ bán linh kiện điện tử và cho rằng sẽ là một ý kiến hay nếu có cơ hội trao đổi với một vài kỹ sư về các con chip. Kỹ sư Alan Baum ở Hewlett-Packard nghe tới cuộc họp và tự hỏi liệu buổi nói chuyện có đề cập đến những chiếc máy tính mới, giá rẻ hay không; anh đã kéo theo một người bạn mà anh biết từ thời phổ thông, một đồng nghiệp HP của anh tên là Stephen Wozniak.

Hầu như mọi người trong ga-ra đều đam mê phần cứng, trừ Fred Moore khi anh mường tượng nơi đây gồm một nhóm xã hội mà ở đó, mọi người sẽ “tự nỗ lực” để học về phần cứng. Anh không nhận ra rằng đây là “nhóm kỹ sư và kỹ thuật viên tinh nhuệ nhất mà bạn có thể tập hợp dưới một mái nhà”, theo lời Gordon French nói. Đây là những người vô cùng quan tâm tới việc đưa máy tính về nhà để học tập, chơi và chế tạo… Với họ, việc lắp ráp những chiếc máy tính không có gì là khó khăn. Sự xuất hiện của Altair đã cho họ biết giấc mơ ấy có thể thành hiện thực, được song hành cùng những người có chung mục tiêu với mình là điều thật tuyệt vời. Và ở phía trước phân xưởng ga-ra lộn xộn của Gordon French – nơi bạn không bao giờ có thể đỗ một chiếc ô tô trong đó chứ đừng nói là hai chiếc – là chiếc Altair. Bob Albrecht bật chiếc máy lên và những bóng đèn bắt đầu nhấp nháy, mọi người biết rằng bên trong tấm mặt trước kiên cố đó là các bit nhị phân đang lưu chuyển. Chúng đang chạy các tập lệnh LDA, JMP và ADD.

Fred Moore đã đặt một chiếc bàn ở phía trước để ngồi ghi chép, trong khi Gordon French, người dù không nói ra nhưng lại vô cùng tự hào về cài đặt 8008 của chính mình, chịu trách nhiệm vận hành. Khi mọi người tự giới thiệu, hóa ra 6 trong số 32 người bọn họ đã tự lắp đặt hệ thống máy tính cho riêng mình, trong khi một vài người khác đã đặt mua Altair. Ngay lập tức, có một số tranh luận về những điểm tốt tương đối của các con chip, đặc biệt là chiếc 8008. Quả thực, có vô số chủ đề để thảo luận: hex (hệ cơ số 16) hay là otal (hệ cơ số 8); mã vận hành cho 8080; lưu trữ băng giấy hay băng cát-sét, giấy hay bút chì… Họ đã thảo luận tất cả những gì họ muốn trong Câu lạc bộ, và từ mà mọi người dùng nhiều nhất là “hợp tác” và “chia sẻ”. Có một vài cuộc nói chuyện về việc mọi người có thể làm gì với những chiếc máy tính ở nhà và một số đã gợi ý là trò chơi điện tử, điều khiển thiết bị gia dụng, soạn thảo văn bản, giáo dục. Lee đã nhắc tới CM. Albrecht đưa cho mọi người ấn bản mới nhất của PCC. Và Steve Dompier đã kể về cuộc hành hương của anh tới Albuquerque, cách MITS đang cố gắng hoàn thành 4.000 đơn hàng và họ đã bận rộn tới mức không nghĩ đến việc gửi những phần bổ sung cho phép cỗ máy làm được nhiều việc hơn ngoài nhấp nháy đèn.

Fred Moore rất phấn khích với hoạt động tích cực mà buổi gặp mặt đã tạo ra. Anh cảm nhận được mình đã khiến một thứ gì đó bắt đầu chuyển dịch. Lúc đó, anh không nhận ra nguồn gốc của sự hăng hái mang tính trí tuệ ấy không phải là một suy tính theo kiểu của các nhà hoạch định về những thay đổi xã hội khả dĩ thông qua điện toán đám đông, mà là sự phấn khích công nghệ của các hacker. Moore rất phấn chấn với việc mọi người có vẻ sẵn sàng hợp tác với nhau, anh gợi ý nhóm nên gặp nhau hai tuần một lần. Để hình tượng hóa khái niệm tự do trao đổi của nhóm, Marty Spergel, người cung cấp linh kiện điện tử nổi tiếng với cái tên “Quý ông Đồng nát” trong nhóm, đã giơ một con chip Intel 8008 lên ngay khi mọi người chuẩn bị rời đi. “Ai muốn có cái này không?” anh hỏi, và khi cánh tay đầu tiên giơ lên, anh đã ném con chip chỉ nhỏ cỡ móng tay có thể tiếp thêm đáng kể sức mạnh cho cỗ máy nhiều triệu đô-la TX-0 về phía người đó.

Đã có hơn 40 người đến tham dự buổi họp thứ hai được tổ chức tại Phòng Thí nghiệm AI Stanford tại chân đồi, trong ngôi nhà của hacker kiểu Tolkien của Bác John McCarthy. Buổi họp bắt đầu bằng một thảo luận về tên của nhóm. Các gợi ý được đưa ra bao gồm Câu lạc bộ Máy tính Vi phân, Bộ não Người lùn, Câu lạc bộ Máy tính Bia hơi, Câu lạc bộ Máy tính của Mọi người, Pháo Byte Tám Bít, Nhóm của những Người thử nghiệm Máy tính Vùng Vịnh và Câu lạc bộ Máy tính Nghiệp dư Mỹ. Cuối cùng, mọi người quyết định gọi nhóm là Nhóm Người dùng Máy tính Nghiệp dư Vùng vịnh – Câu lạc bộ Máy tính Homebrew. Câu lạc bộ Máy tính Hombrew đã trở thành cái tên chính thức. Theo tinh thần hacker chân chính, Câu lạc bộ không đòi hỏi tư cách hội viên, không thu bất kỳ loại phí tối thiểu nào (dù French có gợi ý rằng bất kỳ ai muốn tham gia nên đóng 1 đô-la để trang trải chi phí cho bản tin cũng như biên bản họp, và đã thu được 52,63 đô-la sau buổi họp thứ ba), đồng thời không bầu ra trưởng nhóm.

Vào buổi họp thứ tư, rõ ràng là Câu lạc bộ Máy tính Homebrew sẽ trở thành thiên đường của hacker. Hơn 100 người nhận được thư thông báo rằng buổi họp tuần đó sẽ diễn ra ở Peninsula, một trường tư biệt lập ẩn mình trong khu vực nhiều cây cối của Menlo Park.

Steve Dompier đã lắp ráp chiếc Altair của anh vào lúc đó: Anh nhận được gói linh kiện cuối cùng vào lúc 10 giờ sáng nọ, và dành 30 giờ sau đó để lắp chúng lại với nhau chỉ để phát hiện ra rằng bộ nhớ 256 byte không hoạt động. Sáu giờ sau, anh đã tìm ra lỗi do một vết xước trên mạch in gây ra. Anh đã vá nó lại rồi cố gắng tìm xem tiếp theo có thể làm gì với nó.

Dường như lựa chọn duy nhất mà MITS cung cấp cho những người đã lắp ráp xong cỗ máy là một chương trình ngôn ngữ máy mà bạn có thể nhập vào qua hàng chuyển mạch bé xíu ở mặt trước. Đó là một chương trình dùng tập lệnh của chip 8080: LDA, MOV, ADD, STA và JMP. Nếu mọi thứ chính xác, chương trình sẽ cộng hai số lại với nhau. Bạn có thể biết được bằng cách dịch nhẩm mã của các đèn LED nhấp nháy dưới dạng bát phân thành một số thập phân thông thường. Khi đó, bạn sẽ ngỡ rằng mình là người đầu tiên bước chân lên Mặt trăng, một biểu tượng trong lịch sử – và bạn sẽ có được câu trả lời cho câu hỏi đã khiến loài người bối rối hàng thế kỷ: Điều gì xảy ra khi sáu cộng với hai? Bằng tám! “Với một kỹ sư luôn trân trọng những chiếc máy tính thì đó thực sự là một sự kiện thú vị,” người sở hữu Altair thời kỳ đầu kiêm thành viên của Câu lạc bộ Homebrew, Harry Garland, kể lại và thú nhận rằng: “Bạn có thể gặp khó khăn khi giải thích cho một người ngoại đạo hiểu được tại sao điều đó lại thú vị.” Và với Steve Dompier thì điều này thật xúc động.

Anh không chỉ dừng lại ở đó. Anh đã tạo ra những chương trình nhỏ bằng ngôn ngữ máy để kiểm thử tất cả các chức năng của con chip. (Phải là các chương trình nhỏ vì bộ nhớ của Altair nhỏ xíu). Anh đã làm thế cho đến khi cả 10 “thiết bị đầu vào” – các ngón tay của anh – bị chai phồng lên. Chip 8080 có một tập lệnh 72 chức năng nên anh có rất nhiều việc phải làm. Là một phi công nghiệp dư, Dompier thường nghe một chương trình phát thanh tần số thấp về thời tiết trong khi làm việc, và sau khi kiểm thử chương trình sắp xếp một vài con số, có một điều rất lạ đã xảy ra khi anh gạt công tắc để “chạy” chương trình: Chiếc radio phát ra các tiếng nhiễu ZIPPPP! ZIIIP! ZIIIIIIIPPPP! Dường như nó đang phản ứng với tiếng nhiễu do việc chuyển các bit từ vị trí này sang vị trí khác bên trong Altair gây ra. Anh đã mang chiếc radio lại gần hơn và chạy chương trình một lần nữa. Lần này, tiếng ZIP kêu to hơn. Dompier vô cùng sung sướng: Anh đã khám phá ra thiết bị đầu vào/đầu ra đầu tiên cho chiếc máy tính Altair 8800.

Giờ đây, còn phải kiểm soát thiết bị nữa. Dompier đã mang chiếc guitar của anh tới và phát hiện ra một trong các âm thanh mà chiếc máy tính tạo ra (ở địa chỉ nhớ 075) tương đương với nốt pha thăng trên đàn guitar. Vì thế, anh đã hack bằng lập trình cho tới khi tìm ra các vị trí nhớ ứng với các nốt khác. Sau khoảng 8 giờ, anh đã có được đồ thị cho thang âm và phát triển một chương trình viết nhạc. Dù đó chỉ là một chương trình đơn giản, không như chương trình chơi nhạc tao nhã của Peter Samson trên chiếc PDP-1, nhưng Dompier đã mất cả đống thời gian (và đau đớn) để nhập nó vào bằng những công tắc điên khùng ấy. Anh cũng sẵn sàng biểu diễn lại bài hát “Fool on the Hill” của Beatles (bản nhạc đầu tiên mà anh nhớ ra) trong buổi họp của Homebrew ở Trường Peninsula.

Buổi họp được tổ chức trong một căn phòng trên tầng hai của ngôi trường, một tòa nhà cổ bằng gỗ như trong bộ phim The Addams Family (tạm dịch: Gia đình Addam). Tất nhiên, chiếc Altair của Dompier là đối tượng được yêu mến nhất, và anh đang háo hức muốn được trình diễn với họ ứng dụng tài liệu đầu tiên. Nhưng khi Dompier thử bật chiếc Altair lên, nó lại không hoạt động. Ổ cắm điện đã hỏng từ trước. Ổ cắm gần nhất còn hoạt động nằm ở tầng một của tòa nhà, và sau khi tìm ra một dây nối để kéo từ đó đến tầng hai, Dompier cuối cùng đã cắm điện được cho chiếc Altair của mình, dù ổ cắm không đủ dài nên họ phải đặt chiếc máy ở gần cửa ra vào. Dompier bắt đầu quá trình dài dằng dặc gạt đúng các công tắc để nhập bài hát bằng mã bát phân, nhưng khi chuẩn bị hoàn thành thì hai đứa bé chơi đùa ngoài hành lang vô tình vấp vào dây điện và khiến nó tuột giắc cắm khỏi ổ. Việc này khiến toàn bộ nội dung bộ nhớ máy tính mà Dompier đã nhập từng bit một… biến mất. Anh phải làm lại từ đầu và cuối cùng yêu cầu mọi người im lặng để chuẩn bị cho màn trình diễn công khai đầu tiên của một ứng dụng Altair hoạt động được.

Và anh ấn công tắc CHẠY.

Chiếc radio nhỏ bên trên hộp máy tính lớn, cồng kềnh bắt đầu tạo ra những âm thanh ồn ào, khó chịu. Nó là một loại nhạc, và khi vài ô nhạc buồn bã đầu tiên trong bản ballad của Paul McCartney trôi qua, căn phòng của các hacker – thường ầm ĩ với những chuyện phiếm về con chip mới nhất – đã rơi vào trạng thái yên lặng đáng sợ. Chiếc máy tính của Steve Dompier, hệt như một học sinh lớp một ngây thơ lần đầu phát biểu, đang chơi một bài hát. Sự yên lặng kéo dài đến ghê người ngay cả khi nốt nhạc cuối cùng kết thúc. Họ vừa mới nghe một bằng chứng cho thấy giấc mơ mà họ đang cùng nhau chia sẻ là có thực. Một giấc mơ mà chỉ vài tuần trước đây thôi dường như vẫn quá xa xôi và mơ hồ.

Trước khi họ có cơ hội tỉnh mộng… chiếc Altair lại tiếp tục chơi. Không một ai (ngoại trừ Dompier) chuẩn bị cho tiết mục này, ca khúc Daisy vang lên, vài người trong số họ biết đây là bài hát đầu tiên từng được chơi trên một chiếc máy tính tại Phòng thí nghiệm Bell hồi năm 1957; một sự kiện quan trọng trong lịch sử máy tính đã được tái hiện ngay trước mắt họ. Đó là một bản chơi lại bất ngờ tới nỗi người ta nghĩ nó đến từ kết nối di truyền của cỗ máy này với các tổ tiên Khổng lồ của nó (một quan điểm ngầm hiểu trong bộ phim 2001 của Kubrick khi mà chiếc máy tính HAL bị phá hủy và trở về là một màn trình diễn ngây thơ.)

Khi chiếc Altair dừng lại, sự im lặng không kéo dài lâu. Căn phòng bỗng bùng nổ trong tiếng vỗ tay và chúc mừng vang dội, các hacker tay đan chặt vào nhau và cùng nhảy cẫng lên. Các thành viên trong Homebrew là một sự pha trộn diệu kỳ giữa các chuyên gia quá đam mê tới mức bỏ mặc công việc điện toán, những kẻ nghiệp dư ngây ngất trước các khả năng của công nghệ và cả đám “quân du kích” văn hóa-công nghệ tận tâm với việc lật đổ một xã hội ngột ngạt mà ở đó Chính phủ, doanh nghiệp và đặc biệt là IBM đã giao máy tính cho Giới chức đầy khinh miệt. Lee Felsenstein sẽ gọi họ là “một lũ vượt ngục, ít nhất là tạm thời trốn chạy khỏi ngành công nghiệp, và bằng cách nào đó, các ông chủ của họ chẳng mấy bận tâm tới điều đó. Rồi chúng tôi tụ tập lại và bắt đầu làm những việc không quan trọng, bởi đó không phải là việc mà những gã khổng lồ đang làm. Nhưng chúng tôi biết đây là cơ hội để làm thứ gì đó theo cách mà chúng tôi nghĩ là nên như vậy.” Việc này liên quan đến việc tái lập lịch sử máy tính, và bằng cách nào đó, buổi biểu diễn âm nhạc nhỏ đơn giản trên chiếc Altair của Steve Dompier có vẻ là bước đầu tiên. “Đó là một thành tựu quan trọng trong lịch sử máy tính, theo ước tính của tôi,” Bob Marsh nói. Dompier đã viết lại trải nghiệm đó, cùng với mã ngôn ngữ máy cho chương trình trong số tiếp theo của PCC dưới nhan đề “Âm nhạc, đại loại vậy”, và nhiều tháng sau đó, các chủ sở hữu của Altair sẽ gọi cho anh vào nửa đêm, đôi khi là ba người cùng lúc trong một cuộc gọi hội nghị, để chơi các bản fuga của Bach cho anh nghe.

Dompier đã nhận được hơn 400 cuộc gọi như thế. Vượt xa trí tưởng tượng của bất kỳ ai, ngoài kia còn có nhiều hacker hơn thế.

☆ ☆ ☆

Bob Marsh, người bạn cùng ga-ra đang thất nghiệp của Lee Felsenstein, đã rời khỏi cuộc họp đầu tiên của Homebrew với cảm giác gần như mê mẩn và phấn khích khi được là một phần của cái ga-ra nhỏ bé đó. Anh biết rằng cho tới lúc này, chỉ một số rất ít người dám có ý tưởng về điện toán cá nhân. Giờ đây, ngay tại chỗ này, anh chàng tóc dài Steve Dompier đang nói rằng công ty vớ vẩn này, MITS, có hàng nghìn đơn đặt chiếc hộp đen không có một hệ điều hành thích hợp. Và ngay khi các hacker MIT cung cấp cho nó trình hợp ngữ, trình gỡ lỗi, cùng đủ loại công cụ phần cứng và phần mềm để khiến nó hữu ích hơn trong việc tạo ra các hệ thống mới, thậm chí là một vài ứng dụng mới, thì nhờ đó, các hacker phần cứng có phần vô tổ chức đã tạo ra dấu ấn cho riêng họ trên chiếc Altair 8800.

Bob Marsh hiểu rằng đây là khởi đầu của một kỷ nguyên mới, và là một cơ hội tuyệt vời. Ngồi trên nền sàn lạnh lẽo trong ga-ra của Gordon French, anh quyết định sẽ thiết kế và xây dựng một số bảng mạch để cắm vào một trong các khe trống trên bus của Altair.

Bob Marsh không phải là người duy nhất có ý tưởng đó. Trên thực tế, ngay tại đó ở Palo Alto (thị trấn bên cạnh Menlo Park, nơi buổi họp được tổ chức), hai Giáo sư Stanford là Harry Garland và Roger Melen đã dành tâm sức tập trung vào các bảng mạch bổ sung cho Altair. Họ chưa từng nghe về cuộc họp nhưng sẽ đến buổi họp thứ hai của những người đam mê phần cứng, và sau đó trở thành thành viên tích cực ở đây.

Lần đầu tiên họ nghe nhắc tới Altair là khi Melen, một anh chàng có thân hình đô con mà sự dí dỏm của anh chỉ bị cản trở đôi chút bởi tật nói lắp, đến thăm Les Solomon hồi cuối năm 1974 tại văn phòng New York của tờ Popular Electronics. Melen và Garland đã hoàn thành các bài viết phác thảo các dự án theo sở thích cho tờ báo trong thời gian rảnh, và mới hoàn thành một bài viết về cách xây dựng thiết bị điều khiển máy quay truyền hình.

Melen thấy một chiếc hộp lạ trên bàn của Solomon và hỏi đó là thứ gì. Solomon cho anh biết chiếc hộp đó, sản phẩm mẫu Altair mà Ed Roberts đã gửi để thay cho chiếc bị mất khi vận chuyển trước kia, là một chiếc máy vi tính 8080 được bán với giá chưa đến 400 đô-la. Khi Roger Melen tỏ ý nghi ngờ về sự tồn tại của một thứ như thế trên đời thì Les Solomon bảo rằng anh có thể gọi cho Ed Roberts ở Albuquerque để xác nhận. Melen đã không ngần ngại làm thế và thu xếp để ghé thăm khi trên đường về miền Tây. Anh muốn mua một hoặc hai chiếc máy tính đó. Ngoài ra, Ed Roberts trước đó đã cấp phép cho một dự án mà Melen và Garland viết trên tờ Popular Electronics, và chưa bao giờ chậm trễ trong việc trả tiền nhuận bút cho họ. Vì vậy, có hai điều mà Melen muốn nói với Roberts.

Chiếc máy tính Altair quan trọng hơn nhiều – đó đúng là thứ đồ chơi xuất hiện vào đúng thời điểm, Melen nghĩ – và anh phấn khích với hy vọng được sở hữu một chiếc như thế tới mức không thể chợp mắt vào đêm đó. Cuối cùng, khi đến trụ sở khiêm tốn của MITS, anh đã thất vọng khi biết rằng không có sẵn chiếc Altair nào để mang về nhà. Nhưng Ed Roberts là một anh chàng quyến rũ, một kỹ sư ngoan cố với tầm nhìn rõ ràng. Họ đã nói chuyện tới 5 giờ sáng về các khía cạnh công nghệ của tầm nhìn này. Dù chuyện này xảy ra trước khi bài báo trên Popular Electronics ra lò, và Roberts có phần quan ngại về những phản hồi của nó. Anh cho rằng sẽ chẳng sao nếu ai đó sản xuất các bảng mạch để đặt vào chiếc Altair, và khiến nó trở nên hữu dụng hơn. Anh cũng đồng ý gửi cho Melen và Garland một sản phẩm mẫu sớm để họ có thể chế tạo ra thứ gì đó kết nối máy quay truyền hình với chiếc máy, và sau đó là một bảng mạch để xuất hình ảnh video nữa.

Vì thế, Garland và Melen bắt đầu kinh doanh, đặt tên công ty của họ là Cromemco, để vinh danh ký túc xá Stanford mà họ từng sống, Crowthers Memorial. Họ đã rất hài lòng khi hòa vào tinh thần chung tại Câu lạc bộ Homebrew, trong đó có Marsh, người đã nói chuyện với bạn mình là Gary Ingram để thành lập một công ty khởi nghiệp mang tên Processor Technology.

Marsh biết rằng nhu cầu cấp bách lớn nhất của chủ sở hữu Altair là một bộ nhớ lớn hơn bộ nhớ tệ hại chỉ có 256 byte đi kèm, vì thế, anh đã quyết định chế tạo một bảng mạch để cung cấp bộ nhớ 2K. (Mỗi “K” bằng 1.024 byte). MITS đã giới thiệu bảng mạch bộ nhớ của riêng nó và chuyển một số tới khách hàng. Đó là các bảng mạch bộ nhớ rất đẹp nhưng không hoạt động được. Marsh đã mượn chiếc Altair của PCC và xem xét nó cẩn thận, đọc tới đọc lui sách hướng dẫn. Việc này rất cần thiết do ban đầu anh không có đủ tiền để tạo ra một bản sao. Anh quyết định sẽ vận hành công ty theo cách mà Roberts có vẻ đang vận hành MITS – giới thiệu sản phẩm đầu tiên của mình rồi thu lượng tiền cần thiết để thiết kế và sản xuất nó.

Vậy là vào ngày Cá tháng Tư, Marsh và Ingram, một kỹ sư ẩn dật chưa từng tham gia các buổi họp Homebrew (“Đó không phải việc mà anh ấy làm,” Marsh giải thích), đã chính thức ra mắt công ty. Marsh sử dụng tiền dành dụm để làm 50 tờ rơi giải thích dòng sản phẩm đề xuất. Vào ngày 2 tháng 4, trong buổi họp thứ ba của Homebrew, Marsh đã đứng lên phát các tờ rơi và đưa ra mức chiết khấu 20% cho những ai đặt hàng trước. Sau một tuần, anh không nhận được tin tức nào. Marsh nói: “Chúng tôi bắt đầu thấy thất vọng và nghĩ kế hoạch này coi như xong. Rồi đơn hàng đầu tiên xuất hiện, đặt hàng một bảng mạch [bộ nhớ] ROM giá chỉ 45 đô-la. Một đơn hàng yêu cầu ‘Điều khoản Net 30 65 ’ từ công ty có tên Cromemco. Chúng tôi đã nghĩ, ‘Công ty Cromemco này là ai? Và tại sao họ không trả tiền mặt?’ Sự thất vọng lại xuất hiện một lần nữa. NÓ KHÔNG THỂ THÀNH CÔNG ĐÂU! Ngày tiếp theo, có ba đơn hàng tới và trong vòng một tuần sau đó, chúng tôi thu về 2.500 đô-la tiền mặt. Chúng tôi đã trích 1.000 đô-la trả cho một quảng cáo trên trang 6 của tờ Popular Electronics, và mọi việc đã thay đổi ngay sau đó. Chúng tôi chỉ mất hai tháng để thu về 100.000 đô-la đơn đặt hàng.”

65 Theo luật, Điều khoản Net 30 có nghĩa là người mua sẽ trả đầy đủ tiền cho người bán vào đúng hoặc trước 30 ngày theo lịch (bao gồm cả cuối tuần và ngày nghỉ lễ) sau khi hàng hóa được người gửi chuyển đi hoặc dịch vụ được cung cấp đầy đủ. (ND)

Trớ trêu là Marsh và các hoạt động khác do hacker vận hành đã không được thiết lập để trở thành các doanh nghiệp khổng lồ. Họ chỉ đang tìm cách kiếm tiền chi trả cho thú tiêu khiển với điện tử, và khám phá địa hạt mới của những chiếc máy tính nhỏ bé nhưng hấp dẫn này. Với Marsh và những người đã tham dự một số buổi họp Homebrew đầu tiên cùng sự hào hứng trong việc chế tạo các bảng mạch thì trò vui mới chỉ sắp bắt đầu: thiết kế và chế tạo mọi thứ, thể hiện bản thân bằng những thao tác vặn xoắn và rối rắm của một bảng mạch tích hợp logic kỹ thuật số được gắn vào hệ thống bus phức tạp của Ed Roberts.

Như Marsh phát hiện ra, chế tạo một bảng mạch cho Altair tương đương với nỗ lực phi thường của hacker Homebrew. Đó là thứ mà những người đánh giá khó tính của Homebrew sẽ xem xét một cách cẩn thận. Họ không chỉ quan tâm đến việc liệu nó có hoạt động hay không mà còn đánh giá vẻ đẹp và độ ổn định tương đối của kiến trúc. Các bố trí của bảng mạch là cánh cửa sổ thể hiện cá tính của mỗi nhà thiết kế, và ngay cả các chi tiết bề mặt như chất lượng của những chiếc lỗ dùng để gắn bảng mạch cũng sẽ tiết lộ động cơ, triết lý và sự tận tâm với cái đẹp của họ. Thiết kế điện tử, cũng giống như các chương trình máy tính, “là những bức tranh đẹp nhất về tâm trí mà bạn có thể có được”, Lee Felsenstein nói. “Tôi có thể phát hiện được nhiều nét tính cách của con người thông qua những nhà thiết kế phần cứng mà tôi thấy. Bạn có thể xem xét một thứ gì đó và nói, ‘Chúa ơi, anh chàng này thiết kế như một con giun đất – loằng ngoằng từ điểm này đến điểm kia mà thậm chí chẳng biết đã làm gì ở giữa chừng.’”

Bob Marsh muốn Processor Technology được biết đến với các sản phẩm chất lượng. Anh cứ quay mòng mòng trong vài tháng sau đó để cố gắng hoàn thành các dự án và thực hiện chúng sao cho hợp lý. Việc này không chỉ quan trọng đối với công ty mà còn thể hiện niềm kiêu hãnh của chính anh nữa.

Quá trình này không đơn giản chút nào. Sau khi xác định chức năng của bảng mạch, bạn sẽ dành nhiều đêm dài để sắp xếp cách bố trí. Nhìn vào sách hướng dẫn mô tả cơ chế hoạt động của chip 8080, bạn sẽ đánh dấu một số khu vực khác nhau mà bạn muốn – dùng chỗ này cho một thiết bị đầu vào, chỗ kia cho bộ nhớ – và hệ thống lưới phức tạp bên trong miếng nhựa đen đó sẽ bắt đầu tái định hình trong đầu bạn. Hiệu quả trong việc lựa chọn cách tiếp cận từng khu vực sẽ phụ thuộc vào việc bạn duy trì sự tưởng tượng trên chính xác đến đâu. Bạn sẽ dùng một chiếc bút chì để vẽ các kết nối đó, với những thứ nằm ở mặt này của bảng mạch được vẽ bằng mực xanh, còn những thứ nằm ở mặt kia được vẽ bằng mực đỏ. Sau đó, bạn sẽ lấy các tờ giấy bằng mylar 66 , trải chúng trên lưới của một chiếc bàn có đèn huỳnh quang và bắt đầu phác thảo các kết nối bằng băng giấy nhiễu. Bạn có thể phát hiện ra một vài vấn đề trong thiết kế – chẳng hạn như có quá nhiều dây ở phần này hay kết nối quá chặt ở chỗ khác – cần phải được sắp xếp lại. Chỉ một sai lầm cũng có thể phá hỏng mọi thứ. Vì thế, bạn phải tráng một lớp phủ lên giản đồ: đặt nó bên trên thiết kế đã đánh dấu của mình, bạn có thể xem liệu mình có phạm phải sai lầm nghiêm trọng nào không, như nối chập ba thứ nào đó lại với nhau chẳng hạn. Nếu bản thân giản đồ cũng có lỗi thì hay quên nó đi.

66 Vật liệu bằng nhựa nhiệt dẻo, có độ bền cao. (BTV)

Bạn sẽ thiết kế sao cho bảng mạch có một vài lớp; một tập kết nối khác nhau ở trên và dưới. Khi làm việc, bạn sẽ lật qua lại bảng này và đôi khi băng dính sẽ bong ra hoặc bạn chỉ còn một mẩu băng dính sót lại, hoặc có một cọng tóc dính ở đâu đó: Bất kỳ hiện tượng bất ngờ nào trong số này chắc chắn sẽ xuất hiện trong bản sao màu nâu thẫm được dựng cho bạn ở nhà in (nếu không có tiền cho việc đó, bạn có thể làm một bản sao Xerox cẩn thận), và sẽ dẫn tới một mạch ngắn tai hại. Sau đó, bạn sẽ đánh dấu sơ đồ cho công ty chế tạo bảng mạch, nói với họ chỗ nào cần khoan và chỗ nào cần mạ vàng...

Cuối cùng, bạn sẽ tới một cửa hàng chế tạo bảng mạch trong vùng cùng với các bản vẽ của mình và đưa chúng cho họ. Vì vẫn đang trong thời kỳ suy thoái nên họ sẽ vui vẻ với công việc ngay cả khi nó đến từ một hacker phần cứng đeo kính cận trông thật tầm thường và nhếch nhác. Họ sẽ đặt nó vào một bộ số hóa, khoan các lỗ xung quanh và tạo ra một đống kết nối phủ bạc trên vật liệu hình cầu màu xanh lá cây. Đó quả là một phương pháp đắt đỏ – ban đầu, Bob Marsh không có tiền để đầu tư, vì vậy, anh đã tự tay khắc axit lên trên bảng mạch bằng lò nướng trong bếp, sử dụng các vật liệu cán mạch in để tạo ra các đường rõ ràng mà vật liệu sẽ nóng ra và chảy vào đó. Phương pháp này vô cùng phức tạp nhưng Marsh là một người luôn tự ép mình phải cẩn thận. Anh giải thích: “Tôi đã thực sự nhập tâm và như thể hòa làm một với thiết kế giản đồ của mình.”

Với bảng mạch bộ nhớ đầu tiên, Marsh phải chịu một áp lực đặc biệt. Cứ hai tuần một lần trong cuộc họp của Câu lạc bộ Homebrew và hằng ngày trên điện thoại, những kẻ điên cuồng liên tục đòi bảng mạch bộ nhớ tĩnh giống như cá đòi nước. Marsh nhớ lại những tiếng than khóc của họ: “Bảng mạch của tôi đâu? Tôi cần nó. TÔI PHẢI CÓ NÓ.”

Cuối cùng, Marsh cũng làm xong. Chẳng còn thời gian cho một sản phẩm mẫu. Anh đã làm bảng mạch của mình, một tấm bảng hình chữ nhật mạ xanh với những chỗ lồi ra của các kết nối mạ vàng bên dưới, có kích thước vừa vặn với một khe cắm trong bus Altair. Anh có các con chip và dây dẫn để những người xây dựng bộ linh kiện có thể hàn vào. (Lúc đầu, Processor Technology sẽ chỉ bán các bảng mạch chưa lắp ráp). Marsh đã có sẵn mọi thứ nhưng lại không có chiếc Altair nào để kiểm thử. Vì thế, không quản ngại khi đó mới 3 giờ sáng, anh đã gọi cho anh chàng Dompier mà anh quen tại Câu lạc bộ Homebrew, và bảo anh ta mang chiếc máy tính đó. Với Dompier, chiếc Altair hệt như đứa con cưng của mình ngoại trừ việc anh còn độc thân, vì thế anh cẩn thận gói ghém nó vào một chiếc chăn nhỏ màu đỏ và mang nó theo. Dompier đọc qua cuốn sách hướng dẫn lắp máy, thậm chí còn đeo một chiếc vòng đồng trên cổ tay khi hàn (để chống tĩnh điện), và cẩn thận không chạm vào trái tim 8080 mong manh của nó. Vì thế, anh đã vô cùng sững sờ sau khi tháo dỡ chiếc máy trong phân xưởng của Marsh, ngay lúc các hacker kỳ cựu Marsh và Ingram bắt đầu xử lý các con chip như hai người thợ máy, tháo ra rồi lắp lại. Dompier quan sát trong sợ hãi. Cuối cùng, khi có toàn bộ bảng mạch đã sẵn sàng, Ingram bật công tắc lên, và họ phát hiện ra chiếc máy tính quý giá của Steve Dompier đã ngừng hoạt động. Họ đã đặt ngược bảng mạch.

Phải mất một ngày để sửa chiếc Altair của Dompier nhưng anh không hề tức giận: Trên thực tế, anh đã cho Processor Technology mượn chiếc máy của mình để dùng cho các kiểm thử trong tương lai. Việc đó nói lên cách hành xử của Homebrew. Đây là điểm khác biệt giữa hacker với các phù thủy khó gần của MIT, nhưng họ vẫn bám chắc thứ Đạo đức Hacker đã chế ngự tính sở hữu và ích kỷ để đổi lấy những điều tốt đẹp chung, những thứ giúp mọi người hack hiệu quả hơn. Steve Dompier rất lo lắng về chiếc Altair của mình nhưng anh rất thèm có một bảng mạch bộ nhớ để có thể chạy những chương trình thực thụ trên cỗ máy. Anh muốn có các thiết bị đầu vào/đầu ra và các thiết bị hiển thị… để có thể viết các tiện ích giúp cho cỗ máy trở nên mạnh mẽ hơn. Đó là các Công cụ để Chế tạo Công cụ, để có thể tiến sâu hơn vào thế giới bao quanh bộ vi xử lý 8080 bí ẩn bên trong chiếc máy tính của anh. Bob Marsh và những người khác ở Câu lạc bộ Homebrew, dù bán các sản phẩm của họ hay chỉ đơn thuần là những hacker tò mò khác giống như anh, tất cả đều có chung suy nghĩ này, và cùng với nhau họ, đã hình thành một cộng đồng dù không quy tụ về mặt địa lý như cộng đồng PDP-6 của MIT – các thành viên của Câu lạc bộ trải dài từ Sacramento tới San Jose – nhưng vẫn gắn kết với nhau một cách mạnh mẽ.

Khi Bob Marsh xuất hiện trong một cuộc họp Homebrew vào đầu tháng Sáu với các đơn hàng bảng mạch đầu tiên, những người đặt hàng sản phẩm này vô cùng vui mừng như thể anh đang tặng chúng cho họ vậy. Anh đã giao các gói nhựa phồng nhỏ đựng bảng mạch và các IC, cùng với chú thích mà Lee Felsenstein đã viết. “Trừ phi bạn là một người lắp ráp linh kiện có kinh nghiệm,” Lee cảnh báo, “nếu không thì đừng đụng vào bộ linh kiện này.”

Trên thế giới, có rất ít người có kinh nghiệm chế tạo những thứ kiểu như vậy, nhưng phần lớn trong số đó đã xuất hiện tại phòng họp giờ là khán phòng tại của Trung tâm Gia tốc Tuyến tính Stanford (Stanford Linear Accelerator – SLAC). Chỉ sau 10 tháng kể từ buổi họp không chủ đích đầu tiên của Câu lạc bộ, số lượng thành viên của nó đã tăng lên gấp gần 10 lần.

☆ ☆ ☆

Câu lạc bộ bé nhỏ mà Fred Moore và Gordon French thành lập đã phát triển thành một thứ mà cả hai người đều không ngờ tới. Đó là nơi khởi nguồn cho mẫu hacker phần cứng đã tự “nỗ lực vươn lên” trở thành một ngành công nghiệp mới – mà ở đó, họ chắc chắn sẽ hoàn toàn khác biệt so với bất kỳ ngành công nghiệp nào trước đó. Ngành công nghiệp máy tính sẽ được vận hành theo Đạo đức Hacker. (Khái niệm “bootstrap” biểu thị cho một biệt ngữ mới mà các hacker này thường dùng để mô tả theo đúng nghĩa đen quá trình một chương trình được đưa vào máy tính khi nó được bật lên hay “được khởi động”. Một phần của chương trình sẽ đưa mã vào máy tính; và mã này sẽ lập trình cho cỗ máy để nó tự nhập nốt phần mã còn lại vào. Cũng như việc bạn tự thúc đẩy bản thân bằng quá trình bootstrap của chính bạn. Nó là biểu tượng cho những gì mà các thành viên của Homebrew đang thực hiện – tạo ra một ngách nhỏ trong thế giới của các hệ thống máy tính bé nhỏ, rồi đào sâu hơn để biến cái ngách đó thành một hang động lớn, một lãnh địa vĩnh cửu).

Nhưng những người sáng lập Câu lạc bộ đều nhanh chóng bị các thiên tài công nghệ xung quanh họ bỏ xa. Trong trường hợp của French, anh dường như phải chịu một thái độ quan liêu ngấm ngầm. Theo vài khía cạnh, đam mê của anh trong việc giữ cho Câu lạc bộ phát triển theo cách có trật tự và được kiểm soát là hữu ích. Anh làm việc như một thư ký kiêm thủ thư, lưu lại số điện thoại của mọi người và thiết bị mà họ sở hữu. Anh nhớ lại: “Điện thoại của tôi rung lên liên hồi. Thật không thể tin nổi. Mọi người cần thông tin và sự hỗ trợ của những người khác để có thể tiếp tục công việc, bởi chỉ có một lượng trang thiết bị rất nhỏ. Chẳng hạn như: ‘Tôi có thể mượn thiết bị đầu cuối của cậu ít hôm để phát triển chương trình sử dụng bộ đọc băng giấy đục lỗ được không?’ Họ sẽ trao đổi những thứ kiểu như vậy.”

Nhưng trong các khía cạnh khác, đặc biệt là cách anh điều hành các buổi họp, phong cách của French không phù hợp với tinh thần hacker ở Homebrew. “French rất mô phạm,” Lee Felsenstein nhớ lại. “Anh ấy sẽ cố gắng đẩy buổi thảo luận theo chiều hướng mà anh ấy muốn. Anh ấy muốn nó trở thành một sự kiện giáo dục hay các bài giảng để dạy mọi người về những điều nhất định, đặc biệt là về những thứ mà anh ấy nắm vững. French sẽ rất khó chịu khi buổi thảo luận chuyển hướng sang kiểu thảo luận nhóm. Anh ấy có thể ngắt lời ai đó và can thiệp vào nội dung trao đổi, rồi truyền bá các ý tưởng của mình và nói với họ: ‘Có một điểm quan trọng không thể bỏ qua, và tôi biết nhiều điều về những thứ kiểu như thế.’” Sau phần đầu tiên của buổi họp, mọi người sẽ tự giới thiệu bản thân và công việc họ đang thực hiện, French sẽ đứng trước toàn thể mọi người và đưa ra hướng dẫn, giải thích cách mà máy tính sử dụng các mã nguồn bạn đưa vào, rồi không ngừng giảng giải về cách mà việc học tập các thói quen tốt trong lập trình sẽ giúp bạn tránh khỏi các tình huống đau đầu trong tương lai… Chẳng bao lâu sau, mọi người sẽ hết kiên nhẫn và trốn khỏi cuộc họp để bắt đầu trao đổi thông tin bên ngoài hành lang. Đó là một tình huống rất dễ gây tự ái, kiểu tình thế tiến thoái lưỡng nan phức tạp giữa người với người mà các hacker thường không muốn đối mặt. Nhưng tất cả đều nghĩ cần phải thay một người điều hành mới.

Lựa chọn hợp lý có lẽ hẳn phải là Fred Moore, người luôn ngồi ở phía trên của phòng họp trong vài tháng đầu tiên tại Homebrew cùng với máy ghi âm và cuốn sổ ghi chép, ghi lại nội dung họp để có thể tổng kết các tiêu điểm cho bản tin hằng tháng. Anh đã dành rất nhiều thời gian cho nhóm, bởi anh thấy được rằng các hacker cũng như những chiếc máy Altair của họ đang tiến rất gần tới vị trí có thể trở thành một lực lượng xã hội quan trọng. “Bằng cách chia sẻ kinh nghiệm và trao đổi các gợi ý, chúng tôi đã tiến tới cấp độ phát triển cao và khiến cho điện toán giá rẻ trở nên khả dĩ với nhiều người hơn,” anh viết trong một bản tin, cùng với nhận định xã hội của mình. “Bằng chứng ở khắp nơi cho thấy mọi người muốn có máy tính, có thể là dùng cho mục đích giải trí hoặc giáo dục. Tại sao các công ty lớn lại bỏ qua thị trường này? Họ đang quá bận rộn với việc bán các cỗ máy quá đắt đỏ cho nhau (cả cho chính phủ và quân đội nữa). Họ không muốn bán trực tiếp cho công chúng. Tôi hoàn toàn ủng hộ những gì mà MITS đang làm với Altair bởi nó đã làm được ba điều: (1) thôi thúc các công ty khác đáp ứng nhu cầu về máy tính giá rẻ đến với mỗi hộ gia đình… (2) khiến cho các Câu lạc bộ điện toán địa phương và các nhóm sở thích ra đời và lấp đầy khoảng trống kiến thức công nghệ, (3) giúp “xóa mù” máy tính…”

Moore xác định rõ ràng mục tiêu của Câu lạc bộ là trao đổi thông tin. Giống như dòng chảy không giới hạn của các bit bên trong chiếc máy tính được thiết kế đẹp đẽ, thông tin nên được truyền một cách tự do giữa các thành viên Homebrew. “Fred Moore biết nhiều hơn bất kỳ cá nhân riêng lẻ nào khác về giá trị của sự sẻ chia,” Gordon French hồi tưởng. “Đó là một trong những cách diễn đạt mà anh ấy luôn sử dụng – chia sẻ, chia sẻ và chia sẻ.”

Nhưng phần lớn mọi người trong Câu lạc bộ thích một con đường khác với Fred Moore. Moore luôn lầm bầm về các ứng dụng. Trong phần đầu cuộc họp, anh thường xuyên hối thúc các thành viên có phần vô tổ chức trong nhóm tập hợp lại với nhau và làm một thứ gì đó, dù anh cũng không rõ đó là thứ gì.

Có thể là sử dụng máy tính để trợ giúp người tàn tật, có thể là soạn các danh mục thư phản đối chế độ quân dịch. Moore hẳn đã đúng khi nhận thức được rằng sự công kích của Câu lạc bộ ít nhiều mang màu sắc chính trị, nhưng cách nhìn của anh có vẻ mâu thuẫn với thực tế rằng hacker thường không kiên định với việc tạo ra các thay đổi xã hội – các hacker chỉ hành động như hacker mà thôi. Moore không mấy thích thú với sự vận hành của các hệ thống máy tính so với ý tưởng về việc đưa ra một hệ thống xã hội mang tính chia sẻ và rộng lượng; dường như anh không coi Homebrew là một thành trì công nghệ của những người khao khát thứ sức mạnh có thể xây dựng kim tự tháp bên trong những chiếc máy tính hộ gia đình, mà là một lực lượng nòng cốt hiến dâng thân mình cho sự biến đổi của xã hội, giống như việc phản đối chế độ quân dịch hay các nhóm phản đối vũ khí hạt nhân mà anh từng tham gia. Anh sẽ đưa ra các ý tưởng bán bánh để gây quỹ cho nhóm hay đăng các bài thơ nhỏ dễ thương trong bản tin như “Đừng phàn nàn hay nhặng xị lên / Điều đó phụ thuộc vào mỗi chúng ta / Khiến Câu lạc bộ thực hiện / Những gì chúng ta muốn làm.” Trong khi đó, hầu hết các thành viên của Câu lạc bộ sẽ lật mặt sau của bản tin để nghiên cứu các giản đồ trong một bài viết có tên “Tạo Hàm Logic Tùy ý Bằng Mạch ghép kênh Kỹ thuật số.” Đó là cách thay đổi thế giới và thú vị hơn nhiều so với việc bán bánh.

Lee Felsenstein sau này chỉ trích rằng, anh không cho rằng Moore “thẳng thắn về mặt chính trị. Bề ngoài, anh ấy vẫn duy trì quan điểm về phản kháng hoặc hành vi phản kháng. Nhưng chúng tôi quan tâm nhiều hơn tới thứ gọi là Tuyên truyền Thành tích 67 .”

67 Nguyên tác “Propaganda of the Deed”, ý chỉ hành động chính trị cụ thể để làm gương cho những người khác và đóng vai trò như một chất xúc tác cho cuộc cách mạng. (ND)

Vì thế, khi phần mở đầu tình cờ xuất hiện để khiến các buổi họp phù hợp hơn với tinh thần của hacker về dòng chảy tự do – Gordon French, khi đó đang làm công việc tư vấn cho Sở An sinh Xã hội, đã tạm thời bị gọi tới Baltimore – một số thành viên của Câu lạc bộ đã không nhờ Moore mà để Lee Felsenstein điều hành. Hóa ra, Lee là một lựa chọn lý tưởng vì anh không chỉ là một hacker phần cứng như những người khác mà còn là một nhà điện toán chính trị. Anh coi việc được ủy thác điều hành các buổi họp này như một sự nâng tầm đáng kể. Giờ đây, anh có thể trở thành đầu tàu của cuộc cách mạng trong mặt trận phần cứng, điều hành các cuộc họp diễn tiến theo sự pha trộn chính xác giữa chủ nghĩa phi chính phủ và sự chỉ đạo, tiếp tục kế hoạch thiết kế phần cứng kiểu du kích của riêng anh, thứ sẽ dẫn tới thắng lợi của Thiết bị đầu cuối Tom Swift, và tham gia vào sự hồi sinh ý niệm đã bị lãng quên của CM – quá trình bắt đầu vào mùa hè năm đó với sự ra đời của một tạp chí được in bằng máy rô-nê-ô có tên là Journal of Community Communications, tờ tạp chí sẽ truyền bá ý niệm về các thiết bị máy tính “được mọi người, với tư cách là thành viên của cộng đồng, tạo ra và sử dụng trong cuộc sống hằng ngày.”

Dù vậy, anh vẫn cảm thấy sợ hãi khi lần đầu tiên đứng ở vị trí điều hành cuộc họp hồi tháng 6 năm 1975 của Câu lạc bộ Homebrew. Theo những gì anh nhớ, có người đã hỏi liệu ai sẽ là người điều hành mới và Marty Spergel, “Anh chàng Đồng nát” sở hữu tiệm bán đồ M&R Electronics, đã đề xuất Lee, rồi “những tiếng hò reo rộ lên”. Như thể anh đang được tán thưởng. Dù có chút bồn chồn nhưng đó là cơ hội mà anh không thể bỏ qua. Đối với Lee, rủi ro thất bại cũng không đáng sợ bằng rủi ro đến từ việc hoàn toàn không thử cố gắng.

Anh biết chút ít về hoạt động điều hành một diễn đàn. Thời sinh viên sôi nổi hồi năm 1968, anh đã lắng nghe chương trình gọi đến của đài phát thanh Berkeley, vốn được thiết kế quá tồi tới mức không thể nghe nổi giọng người gọi và chỉ toàn những âm thanh nhiễu. Anh đã chạy đến studio, vẫy vẫy chiếc radio di động của mình và nói: “Nghe cái này này, lũ dở!” Anh đã giúp tổ chức chương trình và một phần vai trò của anh là mớm lời cho các khách mời trước khi họ lên sóng. Anh cho rằng vai trò của mình ở Homebrew có thể bắt nguồn từ đó; anh hối thúc những người không quen với việc xử lý lượng khán giả đông hơn một chiếc bàn đầy linh kiện điện tử nói chuyện với những người khác về các mối quan tâm của họ. Theo Fred Moore cảm nhận, trọng tâm của cuộc họp chính là việc trao đổi thông tin. Vì thế mà Lee, trong quá trình điều khiển cuộc họp như thể đang giải quyết một vấn đề thiết kế điện tử, đã lập biểu đồ luồng cho buổi họp. Sẽ có một khoảng thời gian để mọi người đi vòng quanh phòng họp và nói về thứ họ đang làm hoặc điều họ muốn biết – đó là phần “lập biểu đồ” vì nó na ná với việc vẽ một giản đồ. Sau đó sẽ là phần “tiếp xúc ngẫu nhiên” để biết ai là người gợi ý những thứ mà bạn đang quan tâm hoặc có thể trả lời các câu hỏi của bạn, hoặc có vẻ có thông tin mà bạn muốn tìm hiểu, hay chỉ đơn thuần là có vẻ đang muốn nói chuyện. Tiếp theo có lẽ là đôi lời trao đổi hoặc ai đó sẽ giới thiệu một chút về một sản phẩm mới, rồi tiếp xúc ngẫu nhiên thêm nữa. Khi Lee thấy mọi người có vẻ miễn cưỡng dừng phần tiếp xúc ngẫu nhiên đầu tiên – đôi khi bạn có thể sa đà vào một quan điểm kỹ thuật hoặc một vấn đề tôn giáo nào đó như kỹ thuật bọc dây cho bảng mạch chẳng hạn – anh sẽ thay đổi cấu trúc của buổi họp sao cho chỉ có một phần tiếp xúc ngẫu nhiên duy nhất ở cuối buổi. Và vì đã được “gỡ lỗi” nên cấu trúc này hoạt động rất hiệu quả.

Lee phát hiện ra rằng việc đứng trước một nhóm người chấp nhận anh và đánh giá cao vai trò “con trỏ ngăn xếp” của anh – một chức năng máy tính dùng để xác định thứ tự thực hiện các tác vụ tính toán – đã giúp anh cố gắng thoát ra khỏi lớp vỏ bọc mù mờ của mình. Chẳng bao lâu sau khi giữ cương vị chủ trì buổi họp, anh đã cảm thấy đủ tự tin để nói chuyện với nhóm về Thiết bị Tom Swift của mình. Nguệch ngoạc trên tấm bảng đen ở phía trước hội trường tại SLAC, anh chia sẻ về các màn hình video, độ tin cậy của phần cứng, Ivan Illich và ý tưởng về việc kết hợp chặt chẽ người dùng với thiết kế. Đó là một sự kết hợp tuyệt vời của bình luận xã hội và bí kíp kỹ thuật được các thành viên Homebrew đánh giá cao. Lee thấy mình có tài châm biếm và sau này đã hack một chương trình con mà anh giới thiệu khi bắt đầu mỗi buổi họp. Anh vô cùng tự hào với công việc dẫn chương trình cho Câu lạc bộ: Lee nghĩ giờ đây anh là người dẫn dắt một phong trào hacker, một nhóm cốt lõi với sứ mệnh định hình phong cách sống vi xử lý.

Chẳng bao lâu sau khi Lee tiếp quản vai trò chủ trì buổi họp, Fred Moore xin rút lui khỏi vai trò thủ quỹ, thư ký kiêm biên tập viên của bản tin. Anh gặp vài vấn đề cá nhân; cô nàng mà anh đang hẹn hò đã đá anh. Anh cảm thấy thật khó dứt áo ra đi vào thời điểm này: Câu lạc bộ là di sản của anh theo một nghĩa nào đó, nhưng rõ ràng là khi đó, những hy vọng mà anh hằng ôm ấp trong việc hiến dâng bản thân cho công việc phục vụ cộng đồng đã trở nên vô ích. Thay vào đó, đã có một cuộc Tuyên truyền về Thành tích, và khó chịu hơn là một số người đã đến họp, theo Moore nhớ lại, “ra vẻ kẻ cả là người có tiền và nói, ‘Chà, đây đúng là một ngành công nghiệp mới, tôi sẽ xây dựng công ty sản xuất các bảng mạch này và kiếm được hàng triệu đô-la…’” Moore muốn theo đuổi những vấn đề xã hội khác liên quan đến máy tính, nhưng anh nhận ra rằng “mọi người trong Câu lạc bộ đã đi trước [tôi] rất nhiều trong kiến thức liên quan đến điện tử và điện toán, [và vì thế] họ chết mê các thiết bị đầu tiên này, những thiết bị rất quyến rũ.” Moore không vui với cách mà mọi người chấp nhận công nghệ một cách mù quáng. Ai đó đã nói với Fred về những lao động nữ giá rẻ ở Malaysia và các nước châu Á khác đang lắp ráp các con chip ma thuật này. Anh cũng nghe tin về cách các phụ nữ châu Á được trả các khoản lương rẻ mạt, làm việc trong các nhà máy thiếu an toàn lao động. Anh cảm thấy cần phải cho Câu lạc bộ biết về điều đó, gây sức ép về vấn đề này, nhưng lúc đó, anh mới nhận ra rằng, đó không phải là loại vấn đề mà Câu lạc bộ Homebrew được sinh ra để xử lý.

Dù vậy, anh vẫn yêu Câu lạc bộ, và khi các vấn đề cá nhân buộc anh phải nói lời chào tạm biệt để quay trở về Miền Đông, anh nói rằng đó là “một trong những ngày buồn nhất trong cuộc đời tôi”. Với thân hình bé nhỏ ôm đầy tiếc nuối, anh đứng trước tấm bảng đen trong một cuộc họp giữa tháng Tám và liệt kê những nhiệm vụ của mình rồi hỏi xem ai sẽ làm bản tin, ai sẽ làm thủ quỹ, ai sẽ ghi chú… Ai đó đã đứng lên và bắt đầu viết “Fred Moore” bên cạnh mỗi đầu việc. Điều đó khiến trái tim anh tan nát, cảm giác mọi việc đã chấm hết, và trong khi không thể chia sẻ hết mọi lý do, anh đã phải thông báo để những người anh em của mình biết anh không thể ở đó thêm nữa.

“Tôi thấy mình là người đã giúp đỡ họ tập hợp và cùng chia sẻ kỹ năng cũng như năng lượng của nhau,” Moore kể lại. Quả thực, mỗi buổi họp đều đầy ắp tinh thần và sự hứng khởi khi mọi người cùng trao đổi các câu chuyện phiếm và các con chip với nhau, tự động viên bản thân bước vào thế giới mới này. Trong giai đoạn lập bản đồ, mọi người sẽ đứng dậy và nói rằng họ gặp phải vấn đề khi cài đặt phần này hay phần kia của chiếc Altair, rồi Lee sẽ hỏi: “Ai có thể giúp anh ấy?”, và sẽ có ba hay bốn cánh tay giơ lên. Có người sẽ nói anh ta cần một con chip 1702. Ai đó khác có thể còn dư một con chip 6500 và họ sẽ trao đổi với nhau.

Rồi sẽ có người đứng lên thông báo về các tin đồn mới nhất ở Thung lũng Silicon. Jim Warren, một cựu sinh viên với dáng người thấp lùn, chắc mập từng học cao học ngành Khoa học Máy tính của Đại học Stanford, là một kẻ ngồi lê đôi mách có quan hệ rộng sẽ xuất hiện trong giai đoạn tiếp xúc ngẫu nhiên và thao thao bất tuyệt trong khoảng 10 phút về công ty này, công ty kia, rồi lại chuyển sang các quan điểm cá nhân của anh ta về tương lai của truyền thông điện toán bằng phương pháp quảng bá kỹ thuật số.

Ở Câu lạc bộ còn có một người đưa tin kiểu lập dị, đó là một kỹ sư học việc có tên là Dan Sokol. Anh là nhân viên kiểm thử hệ thống tại một trong những công ty lớn ở Thung lũng. Các mẩu tin của anh thường mang tính dự đoán chính xác đến kinh ngạc (để khiến cho mọi người phải đồn đoán, Sokol thú nhận, anh sẽ phải bịa ra khoảng một nửa vấn đề trong các tin đồn của mình). Sokol, một tín đồ của ngành kỹ thuật số với gương mặt râu ria cùng mái tóc dài, đã gia nhập Homebrew và nhanh chóng đón nhận Đạo đức Hacker. Anh không coi bất kỳ tin đồn nào là thứ quá bí mật để có thể chia sẻ và bí mật càng quan trọng bao nhiêu thì anh lại càng thích thú hé mở nó bấy nhiêu. “Có ai ở đây đến từ Intel không?” anh có thể hỏi câu này – và nếu không có ai, anh sẽ tiết lộ tin tức về con chip mà trước đó Intel đã thành công trong việc giữ kín bí mật với tất cả các công ty khác ở Thung lũng (và có thể còn có cả một nhóm gián điệp Nga nữa).

Đôi khi Sokol, một tay chào hàng kỳ cựu, sẽ tự đầu tư tiền để sản xuất sản phẩm mẫu của một con chip. Chẳng hạn, một hôm khi đang làm việc, anh bỗng nhớ ra có vài người đến từ một công ty mới có tên Atari đã đến để kiểm thử vài con chip. Họ hành động bí mật và không nói đó là chip gì. Sokol đã kiểm tra chúng: Một số được đánh dấu Syntech, một số là AMI. Sokol quen người ở cả hai công ty này và họ cho anh biết rằng các con chip đó là các linh kiện tùy biến, được người của Atari thiết kế và lắp đặt. Vì thế, anh đã mang một con chip về nhà, đặt vào một bảng mạch và kiểm thử nó. Hóa ra con chip đó có chứa Pong, một chương trình trò chơi điện tử mới. Hãng Atari vừa bắt đầu lắp ghép các thứ lại với nhau thành một thiết kế tại gia để chơi trò chơi, mà trong đó hai người sẽ điều khiển “những chiếc vợt” ánh sáng trên một màn hình tivi và cố gắng giữ cho “quả bóng” trông như một đốm sáng trên bàn. Sokol đã trải thiết kế này lên một bảng mạch, mang tới Homebrew và trình diễn nó. Anh mang thêm vài con chip nữa, trao đổi chúng với những người khác để lấy một bàn phím cùng một vài con chip RAM. “Chúng ta đang nói về trò trộm cắp công khai,” anh giải thích; nhưng dưới con mắt của Homebrew, Sokol đang giải thoát cho một hành động hack đẹp khỏi những kẻ sở hữu độc quyền. Pong rất tinh xảo và cần phải thuộc về thế giới. Và tại Homebrew, các trao đổi như vậy thật dễ dàng và tự do.

Nhiều năm trước, Buckminster Fuller đã phát triển khái niệm về trợ lực – trong đó, sức mạnh tổng thể thường lớn hơn tổng các thành phần, để nói về những người và/hoặc các hiện tượng cộng hưởng với nhau trong một hệ thống – và Homebrew là minh chứng cho khái niệm đó trong thực tiễn. Ý tưởng của một người sẽ kích thích một người khác bắt tay vào một dự án lớn, hoặc có thể mở một công ty để sản xuất sản phẩm dựa trên ý tưởng đó. Hoặc nếu ai đó đưa ra một hack thông minh để tạo ra bộ sinh số ngẫu nhiên cho Altair, anh ta sẽ giao mã nguồn để mọi người có thể dùng nó, rồi trong cuộc họp tiếp theo, sẽ có người khác tạo ra một trò chơi sử dụng chương trình con đó.

Tính trợ lực còn tiếp tục ngay sau cuộc họp, khi một vài thành viên Homebrew sẽ tiếp tục hàn huyên cho tới nửa đêm tại The Oasis, một hồ nước nông gần khuôn viên trường. (Địa điểm này được Roger Melen gợi ý; Jim Warren, một người bài xích việc hút thuốc, từng thử rủ mọi người tới khu vực không hút thuốc của The Village Host nhưng không bao giờ được chấp nhận). Họ tụ tập trong các buồng gỗ với những chiếc bàn khắc các chữ cái đầu của các thế hệ sinh viên Stanford, Garland, Melen, Marsh, Felsenstein, Dompier và French cùng những người khác. Họ sẽ mường tượng về sự phát triển không tưởng tới mức không ai dám tin, những giấc mơ bao la và dị thường như cái ngày mà máy tính hộ gia đình với màn hình tivi sẽ đem lại các chương trình khiêu dâm – các SMUT-ROM như cách mà họ gọi chúng – những thứ không hề bất hợp pháp do chúng chỉ là các ấn phẩm khiêu dâm nếu bạn quét chúng theo cách của máy tính. Làm sao các mã thô của máy tính có thể là ấn phẩm khiêu dâm được chứ? Đó chỉ là một trong hàng tá những sự mơ màng đồi trụy sẽ không chỉ được nhận ra mà còn vượt trội hơn trong vòng một vài năm tới.

Tính hợp lực: Marty Spergel, Quý ông Đồng nát, biết chính xác cách hoạt động của nó. Là một tay giỏi mặc cả trung tuổi, có làn da rám nắng với nụ cười lớn và chân thật, anh cho rằng Homebrew giống như việc “bạn sở hữu một đội quân Hướng đạo nhỏ của riêng mình, mà ở đó mọi người đều giúp đỡ những người khác. Tôi còn nhớ mình từng gặp vấn đề với chiếc máy đánh chữ ở văn phòng, và có một anh bạn [quen ở Homebrew] đã nói rằng anh ta sẽ kiểm tra nó giúp tôi. Anh ta không chỉ kiểm tra mà còn lấy ra một bộ linh kiện nhỏ và đặt vào đó 4 hay 5 linh kiện khác nhau, tra mỡ bôi dầu cho nó rồi điều chỉnh tất cả các bánh răng. Khi tôi hỏi: ‘Tôi nợ cậu bao nhiêu?’ Anh ta trả lời: ‘Không gì cả.’” Đối với Quý ông Đồng nát thì đó là cái thú của Homebrew.

Spergel luôn theo dõi các linh kiện mà mọi người cần; anh thường mang theo một hộp đựng các linh kiện đó khi đến buổi họp. Sau buổi nói chuyện về Thiết bị đầu cuối Tom Swift, anh đã hỏi Lee xem liệu Lee có quan tâm tới việc chế tạo một chiếc cho công ty M&R Electronics của Spergel hay không. Thiết bị đầu cuối Tom Swift chưa sẵn sàng, Lee nói, nhưng còn thiết kế modem – một thiết bị cho phép máy tính giao tiếp qua đường điện thoại – mà Lee đã hoàn thành vài năm trước thì sao? “Anh ta thậm chí còn biết modem là gì dù cách anh ta phản ứng không được rõ ràng,” Lee nói. Khi đó những chiếc modem được bán với giá 400-600 đô-la nhưng Marty đã có thể lắp ráp chiếc modem “Pennywhistle” được thiết kế gọn gàng của Lee để bán với giá 109 đô-la. Họ đã gửi một bản sao các giản đồ cho Solomon ở Popular Electronics và anh này đã đăng bức ảnh chiếc modem của Lee trên trang bìa.

Đó chính là tính trợ lực. Ngày càng có nhiều thành viên Homebrew thiết kế hoặc đem tặng các sản phẩm mới, từ cần điều khiển trò chơi điện tử tới các bảng mạch đầu ra/đầu vào cho chiếc Altair, coi Câu lạc bộ là nguồn ý tưởng, đặt hàng sớm cũng như kiểm thử beta 68 cho các sản phẩm mẫu. Mỗi khi có một sản phẩm được hoàn thành, bạn sẽ mang nó tới Câu lạc bộ và nhận được các đánh giá quan trọng từ các chuyên gia. Sau đó, bạn sẽ chia sẻ các đặc tính kỹ thuật kèm với giản đồ của nó – và nếu nó có phần mềm, bạn sẽ chia sẻ cả mã nguồn luôn. Từ đó, mọi người đều có thể học hỏi và cải tiến nếu như họ quan tâm và phần mềm đó đủ tốt.

68 Giai đoạn kiểm thử ban đầu của các sản phẩm mẫu thường giới hạn trong số lượng người dùng nhỏ để thu phản hồi về sản phẩm nhằm mục đích chỉnh sửa hoàn thiện trước khi tung ra thị trường. (ND)

Đó là không khí làm việc rất hiệu quả, bởi để duy trì Đạo đức Hacker, bất kỳ ranh giới giả tạo nào cũng không được phép tồn tại. Trên thực tế, mỗi nguyên tắc của Đạo đức, được hình thành bởi các hacker của MIT, đều được áp dụng tới một mức độ nào đó tại Homebrew. Khám phá và thực hành được công nhận là các giá trị cốt lõi của Câu lạc bộ; các thông tin thu thập được từ các khám phá và thiết kế thăm dò này sẽ được chia sẻ thoải mái với cả các đối thủ cạnh tranh nhỏ bé (ý tưởng cạnh tranh đến với các công ty này khá chậm chạp, bởi họ luôn nỗ lực tạo ra một ngành công nghiệp phiên bản hacker – một tác vụ cần tất cả mọi người hợp tác cùng nhau); các luật lệ độc đoán sẽ bị khinh bỉ và mọi người đều tin rằng, máy tính cá nhân là đại sứ tối thượng cho phong trào phi tập trung hóa; ai cũng có thể trở thành thành viên và được tôn trọng dựa trên kiến thức chuyên môn cũng như các ý tưởng hay. Chẳng có gì lạ khi bạn thấy một cậu bé 17 tuổi đối đáp ngang hàng với một kỹ sư kỳ cựu trung tuổi thành công; sự trân trọng mãnh liệt dành cho vẻ đẹp kỹ thuật và nghệ thuật kỹ thuật số; và hơn hết, các hacker phần cứng này đã có một cái nhìn khác biệt và dân túy sâu sắc về cách mà máy tính sẽ thay đổi cuộc sống. Đó là những chiếc máy tính giá rẻ mà họ biết rằng chỉ vài năm nữa thôi chúng sẽ trở nên vô cùng hữu ích.

Tất nhiên, điều này không ngăn được họ hoàn toàn chìm đắm vào việc hack những cỗ máy này để phục vụ cho bản thân việc hack, cho sự kiểm soát, công cuộc tìm kiếm và cho giấc mơ của chính họ. Cuộc sống của họ được dẫn dắt để cùng hướng về khoảnh khắc ấy, khi bảng mạch mà họ điều khiển hay bus mà họ lắp ráp hoặc chương trình mà họ nhập vào có thể chạy lần đầu tiên… Sau này, có người cho rằng khoảnh khắc đó không khác gì việc kéo một đầu máy xe lửa đi qua khu vực đường ray mà bạn vừa mới sửa và cho nó chạy trên những đường ray này với tốc độ khoảng 150km/giờ. Nếu đường ray của bạn không đủ chắc chắn, con tàu sẽ chệch đường ray một cách tai hại… rồi bốc khói… và nổ tung… Nhưng nếu bạn hack tốt, nó sẽ chạy êm ru. Bạn sẽ choáng váng khi nhận ra hàng nghìn phép tính mỗi giây sẽ xoẹt qua thiết bị mang dấu ấn cá nhân của bạn trên đó. Bạn sẽ trở thành chúa tể thông tin và là người đề ra các quy tắc luật lệ cho một thế giới mới.

Một số nhà hoạch định đã đến thăm Homebrew và kinh ngạc trước sự náo loạn mang tính kỹ thuật của các buổi thảo luận, ngọn lửa hừng hực bùng cháy sáng nhất khi tất cả cùng hướng bản thân tới mưu cầu chế tạo của hacker. Ted Nelson, tác giả của Computer Lib, người đã tham dự một buổi họp và lúng túng trước tất cả những gì đang diễn ra, đã gọi những thành viên Homebrew ăn mặc nhếch nhác và gần như không bao giờ chải đầu là “tu sĩ của các con chip, những người bị ám ảnh bởi các con chip. Nó như thể bạn đang dự một buổi gặp mặt của những người thích búa.” Bob Albrecht, người hiếm khi tham dự các buổi họp, giải thích rằng: “Cứ 4 từ tôi mới có thể hiểu được 1 từ mà họ nói… họ là những hacker.” Jude Milhon, cô nàng vẫn bầu bạn với Lee sau lần gặp gỡ qua tờ Barb cùng những lần tham gia CM, đã đến dự một lần và cảm thấy khó chịu với sự tập trung thuần công nghệ, những khám phá và nỗ lực kiểm soát để giành quyền điều khiển ở đây. Cô chú ý tới sự thiếu vắng của các nữ hacker phần cứng, và thấy phát điên trước nỗi ám ảnh mà các hacker nam dành cho những thú vui và quyền lực công nghệ ấy. Cô đã tổng kết cảm giác của mình trong cụm từ “những cậu bé chơi đồ chơi”, và cũng giống như Fred Moore, cô lo lắng tình yêu dành cho công nghệ có thể khiến họ lạm dụng công nghệ một cách mù quáng.

Không có nỗi lo lắng nào trong số đó có thể làm chậm guồng quay tại Homebrew khi nó mở rộng tới vài trăm thành viên, chật kín cả hội trường của SLAC và trở thành điểm sáng định kỳ hai tuần một lần trong cuộc sống của hơn 100 thành viên cốt cán. Thứ mà họ khơi mào giờ đây gần như đã trở thành một chiến dịch, thứ mà Ted Nelson, tác giả của cuốn sách đầy những lời lẽ chống đối IBM, hẳn rất trân trọng. Trong khi IBM và những Gã Khổng lồ không thèm đếm xỉa tới những gã hacker trời ơi đất hỡi trong các Câu lạc bộ máy tính cùng ý tưởng của họ về việc sở hữu những chiếc máy tính của riêng mình, thì các thành viên của Homebrew và những người cùng chung chí hướng không chỉ hack chip 8080 mà giờ đây, họ đang phá vỡ nền tảng của Tòa tháp Xử lý theo lô của IBM. “Chúng tôi hỗ trợ lẫn nhau,” Lee Felsenstein giải thích. “Chúng tôi đã cung cấp cấu trúc hỗ trợ lẫn nhau. Chúng tôi mua sản phẩm của nhau. Chúng tôi đã ở đây – nơi cấu trúc công nghiệp không hề được chú ý tới. Dù vậy, chúng tôi đã có những người am hiểu về khía cạnh này của công nghệ giỏi không kém ai, bởi tất cả vẫn còn quá mới mẻ. Chúng tôi có thể phát triển nhanh như vũ bão, và sự thực đúng là như vậy.”

☆ ☆ ☆

Khi Les Solomon, bậc thầy của phong trào này tại New York, tới thăm Bờ Tây thì thời hoàng kim của Câu lạc bộ Máy tính Homebrew đang ở trong giai đoạn sáng chói nhất. Trước tiên, Solomon tới thăm Roger Melen và Harry Garland, những người mới hoàn thành sản phẩm mẫu của Cromemco được đăng trên số tháng 11 năm 1975 của tờPopular Electronics – một bảng mạch rời cho phép Altair kết nối với tivi màu và cho ra kết quả đáng kinh ngạc. Trên thực tế, Melen và Garland đã gọi bảng mạch đó là “Dazzler” (“Ngạc nhiên chưa!”). Les đã tới căn hộ của Roger để được tận mắt nhìn thấy nó, nhưng trước khi cắm bảng mạch vào chiếc Altair của Roger, cả ba người đã cùng nhau uống bia, họ đã ngà ngà say khi cắm bảng mạch và bật chiếc tivi màu lên.

Có hai chương trình Altair có thể tận dụng bảng mạch Dazzler. Một là chương trình Kaleidoscope, nó có thể hiển thị các hình dáng thay đổi và lấp lánh. Đó là khoảnh khắc vĩ đại đối với Solomon khi nhìn thấy chiếc máy tính mà anh từng chung tay mang tới thế giới đã khiến một chiếc tivi màu hiển thị các hình mẫu tuyệt đẹp.

Sau đó, họ thử một chương trình khác: trò LIFE. Đó là trò chơi được mệnh danh là hấp-dẫn-hơn-cả-trò-chơi do nhà toán học John Conway tạo ra, trò chơi mà phù thủy MIT Bill Gosper đã hack chăm chú tới mức cho rằng nó có khả năng tạo ra cuộc sống trong chính nó. Tất nhiên, Altair chạy chậm hơn so với PDP-6 rất nhiều, và không có các tiện ích được hack bổ sung, nhưng nó cũng tuân thủ theo bộ quy tắc đó. Và nó đã làm được điều đó khi được đặt trên bàn bếp.Khi Garlan đưa vào một vài mẫu, Les Solomon không hoàn toàn hiểu luật của trò chơi và anh hẳn không biết gì về những ngụ ý toán học và triết học sâu xa của nó, đã quan sát các ngôi sao có màu xanh dương, đỏ và xanh lá (Dazzler đã hiển thị các tế bào như thế) ăn các ngôi sao nhỏ khác hoặc tạo ra các ngôi sao mới. Thật là tốn thời gian, anh nghĩ. Ai thèm quan tâm chứ?

Anh bắt đầu chơi với chiếc máy, phác thảo mẫu chạy thử một cách lười nhác. Trong lúc ngà ngà say, anh đã vô tình tạo ra Ngôi sao David 69 . Sau đó, anh nhớ lại: “Tôi chạy chương trình và quan sát cách nó tự ăn chính mình. Mất khoảng 10 phút cho tới khi nó chết hẳn. Tôi nghĩ: ‘Ồ hay thật – thế tức là Do Thái giáo sẽ tồn tại được khoảng 247 thế hệ nữa ư?’ Thế là, tôi vẽ một cây thánh giá với hình Chúa Giê-su trên đó. Nó đã chạy được 151 thế hệ. Có phải như vậy tức là Do Thái giáo sẽ tồn tại lâu hơn Thiên Chúa giáo không? Anh nhanh chóng đưa vào hình trăng lưỡi liềm, các ngôi sao cũng tượng trưng cho các ý nghĩa khác nữa, và ba bọn họ – nếu tính cả Altair là bốn – đều cùng khám phá bí ẩn của các tôn giáo và quốc gia trên thế giới. “Ai cần triết học vào lúc 3 giờ sáng chứ, làm 1 ly không?” Solomon kể lại. “Đó là một chiếc máy tính. Và nó đã ở đó.”

69 Ngôi sao David, trong tiếng Do Thái được gọi là Tấm khiên David, được công nhận rộng rãi là biểu tượng cho nhân dạng Do Thái và Do Thái giáo. Nó có dạng ngôi sao sáu cạnh do hai tam giác đều hợp nên. (ND)

Nhưng Les Solomon vẫn còn các phép thuật khác cần phải truyền lại. Một trong những câu chuyện mà anh sẽ kể, những câu chuyện kỳ quặc tới mức chỉ những gã keo kiệt trí tưởng tượng mới kêu ca về sự phi lý của nó, về quãng thời gian anh theo đuổi một trong những “sở thích” của mình, đó là khảo cổ học tiền-Colombia. Việc này đòi hỏi người dùng phải dành nhiều thời gian ở trong rừng, “chạy quanh những người da đỏ, đào bới bùn đất xung quanh… để tìm kiếm những thứ giá trị.” Tôi đã ở với những người da đỏ đó, còn Les Solomon thì khăng khăng rằng anh đã học được nguyên lý sống còn của vril, một năng lực cho phép bạn di chuyển những đồ vật rất lớn chỉ bằng một chút sức lực. Solomon tin rằng chính năng lực vril đã giúp người Ai Cập xây dựng kim tự tháp. (Có lẽ vril là năng lực mà Ed Roberts nhắc tới khi nhận ra rằng chiếc Altair của anh sẽ đem đến cho mọi người sức mạnh của 10.000 người Ai Cập xây dựng kim tự tháp). Theo câu chuyện của anh, Solomon đã gặp một brujo da đỏ đáng kính và hỏi liệu anh có thể học được năng lực này không và liệu brujo có thể dạy anh không? Và brujo đã đồng ý. Giờ đây, sau buổi tối say sưa với chương trình LIFE,Solomon đã tham gia một buổi họp của Homebrew tại SLAC với tư cách khách mời danh dự – bà mụ cho chiếc Altair của Ed Roberts. Sau buổi họp, Solomon đã kể cho các hacker phần cứng nghe về vril. Đã có vài người bắt đầu hoài nghi.

Bên ngoài SLAC là những chiếc bàn picnic khổng lồ màu da cam trên đế bê tông. Solomon đã yêu cầu các thành viên Homebrew đặt tay lên một trong những chiếc bàn và anh cũng đặt tay lên đó. Họ chỉ cần nghĩ là chiếc bàn sẽ bay lên.

Lee Felsenstein đã mô tả cảnh tượng đó như sau: “Anh ấy nói: ‘Này, để tôi chỉ cho các cậu…’ Chúng tôi nuốt lấy từng lời và sẽ làm bất kỳ điều gì. Vì thế, có khoảng 6 người đứng xung quanh chiếc bàn, đặt tay của họ lên đó. Anh ấy đặt tay mình lên trên, liếc mắt và nói: ‘Đi thôi.’ Và chiếc bàn quả thực đã bay lên khoảng 30cm. Nó bay lên với chuyển động hài hòa [đẹp như] một đồ thị sóng hình sin có vẻ không nặng chút nào. Việc đó đã xảy ra.”

Sau đó, ngoại trừ Solomon, thậm chí ngay cả những người tham gia cũng không chắc là điều đó có thực sự xảy ra hay không. Nhưng Lee Felsenstein, sau khi chứng kiến một chương khác trong cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng quan trọng của cuộc đời anh đóng lại, đã hiểu tác động hoang đường của sự kiện này. Họ, các chiến binh của Câu lạc bộ Máy tính Homebrew, đã dành tài năng của mình và ứng dụng Đạo đức Hacker để tạo ra những điều tốt đẹp. Chính sự phối hợp làm việc cùng nhau trên tinh thần đồng thuận, không chút nghi ngờ, đã khiến những điều phi thường trở thành hiện thực. Thậm chí khiến những điều không tưởng trở thành hiện thực. Các hacker MIT đã phát hiện ra rằng khát khao hack đã giúp họ kiên định tới mức các rào cản về an ninh, sự mệt mỏi và giới hạn tinh thần dường như cũng biến mất. Giờ đây, phong trào đã loại bỏ các thế hệ kiểm soát phản hacker và tập trung hóa đối với ngành công nghiệp điện toán nhằm thay đổi cái nhìn bất đồng mà thế giới dành cho máy tính và những người làm máy tính đã thay đổi, năng lượng tổng hòa của các hacker phần cứng làm việc cùng nhau có thể giúp thực hiện bất kỳ điều gì. Nếu họ không chần chừ, không tự rút lui, không nảy sinh lòng tham, họ có thể khiến các lý tưởng của chủ nghĩa hacker chảy trong toàn xã hội như viên ngọc trai được thả vào chậu bạc.

Câu lạc bộ Homebrew đã nắm trong tay sức mạnh tối thượng của vril.

« Lùi
Tiến »