Hacker Lược Sử

Lượt đọc: 442 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11
basic rút gọn

Khi khát khao xây dựng và mở rộng chiếc Altair của các hacker phần cứng trong những năm 1970 cũng lớn như mong ước hack những chiếc PDP-1 và PCP-6 của các hacker MIT trong những năm 1960, Câu lạc bộ Máy tính Homebrew đã nảy sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn này nhiều khả năng sẽ làm chậm lại quá trình khởi động và tăng tốc lý tưởng, đồng thời ngăn chặn xu thế phát triển của họ. Trọng tâm của vấn đề là một trong các nguyên lý chính của Đạo đức Hacker: dòng chảy tự do của thông tin, đặc biệt là những thông tin giúp cho các hacker hiểu, khám phá và xây dựng hệ thống. Trước kia, việc lấy những thông tin đó từ người khác không mấy khó khăn. Thời gian “lập bản đồ” ở Homebrew là một ví dụ – thường thì đó là lúc bí mật được các công ty lớn coi là độc quyền bị tiết lộ. Và vào năm 1976, các ấn phẩm mới được bổ sung thêm vào dòng chảy thông tin quốc gia của các hacker phần cứng – bên cạnh PCC và bản tin Homebrew – giờ đã có thêm tạp chí Byte ở New Hampshire. Bạn có thể luôn tìm thấy các chương trình hợp ngữ thú vị, các gợi ý phần cứng và những tin đồn kỹ thuật. Những công ty mới do hacker thành lập sẽ đưa ra các giản đồ sản phẩm của họ tại Homebrew mà không phải lo lắng về việc liệu các đối thủ của họ có thấy chúng không; và sau các buổi gặp gỡ tại Oasis, những nhân viên trẻ tuổi mặc quần bò xanh của các công ty khác nhau sẽ thoải mái thảo luận về số lượng bảng mạch đã được bán ra, hay họ đang xem xét các sản phẩm mới nào.

Sau đó, những phản đối về Altair BASIC dần xuất hiện. Nó giúp các hacker phần cứng thấy được sự mong manh trong Đạo đức Hacker. Điều đó ngụ ý rằng: Khi năng lực máy tính thực sự đến được với mọi người, những triết lý khác ít vị tha hơn có thể sẽ chiếm ưu thế.

Tất cả mọi chuyện đều bắt đầu từ một tiêu chuẩn hacker đặc trưng. Trong số các sản phẩm mà MITS công bố nhưng chưa được gửi cho người mua, có một phiên bản ngôn ngữ máy tính BASIC. Trong số các công cụ mà một người sở hữu Altair có thể có thì đây là thứ được mong đợi nhất: Khi có BASIC trên Altairm, khả năng triển khai hệ thống hay dịch chuyển kim tự tháp tâm trí sẽ tăng lên “theo cấp số 10”. Thay vì phải cần mẫn nhập các chương trình dưới dạng mã máy lên băng giấy, rồi phải dịch ngược các tín hiệu trả về (vào thời điểm đó, nhiều người sở hữu Altair đã cài đặt các thẻ đầu vào/đầu ra cho phép máy tính kết nối với máy chữ và các bộ đọc băng giấy), giờ đây bạn có thể viết các chương trình hữu ích một cách nhanh chóng. Trong khi các hacker phần mềm (và hẳn là cả những kẻ cuồng hợp ngữ như Gosper và Greenblatt) coi thường BASIC là một ngôn ngữ phát-xít thì đối với những hacker phần cứng đang cố gắng mở rộng hệ thống của mình, đó lại là một công cụ vô cùng giá trị.

Vấn đề là ban đầu bạn không thể có được BASIC. MITS được cho là có một bản nhưng không một ai ở Homebrew từng thấy nó vận hành ra sao và điều đó đặc biệt khiến họ phát điên.

Quả thực, MITS đúng là đã có BASIC. Ngôn ngữ này được chạy từ đầu mùa xuân năm 1975. Không lâu trước khi MITS bắt đầu xuất xưởng những chiếc Altair tới các độc giả thèm khát máy tính của tờ Popular Electronics, Ed Roberts đã nhận được một cuộc gọi từ hai sinh viên đại học có tên là Paul Allen và Bill Gates.

Hai thanh niên đó đến từ Seattle. Họ đã hack máy tính từ thời phổ thông; các hãng lớn đã trả tiền để họ thực hiện công việc lập trình theo hợp đồng sinh lợi. Gate, một thiên tài lập trình gầy gò với mái tóc vàng, trông thậm chí còn trẻ hơn so với tuổi, khi đó vừa mới rời Harvard. Anh và Allen đã phát hiện ra rằng họ có thể kiếm tiền từ việc tạo ra trình phiên dịch cho các ngôn ngữ máy tính giống như BASIC đã làm cho những chiếc máy tính mới.

Bài báo về Altair, dù không gây ấn tượng về mặt kỹ thuật nhưng khá thú vị đối với họ: Rõ ràng, máy tính sẽ là điều vĩ đại tiếp theo, và họ có thể tham gia vào mọi hành động bằng cách viết BASIC cho thứ vĩ đại này. Nhờ sở hữu một cuốn sổ hướng dẫn giải thích về tập lệnh của chip 8080 cùng bài báo trên Popular Electronics với các giản đồ của Altair, họ đã bắt tay ngay vào viết một thứ gì đó vừa vặn trong 4K bộ nhớ. Quả thực, họ phải viết trình phiên dịch với lượng mã ít hơn thế do bộ nhớ không chỉ để chứa trình biên dịch BASIC thành mã máy mà còn cần không gian cho chính chương trình mà người sử dụng viết. Việc đó thật không dễ dàng gì, nhưng Gates là một bậc thầy rút gọn mã. Sau rất nhiều nỗ lực cộng với việc tận dụng tập lệnh 8080 một cách sáng tạo, họ cho rằng mình có thể thực hiện được nó. Khi gọi cho Roberts, họ không nhắc đến việc mình đang gọi từ phòng của Bill Gates trong ký túc xá. Tuy Roberts rất phấn khích, nhưng anh vẫn không quên cảnh báo họ điều mà những người khác đang nghĩ về Altair BASIC; dù vậy, họ vẫn được hoan nghênh để thử. “Chúng tôi sẽ mua nếu ai đó đưa ra một chiếc,” Roberts nói với họ.

Không lâu sau đó, Paul Allen mua vé máy bay tới Albuquerque, mang theo một băng giấy chứa thứ mà anh và cậu bạn của mình hy vọng sẽ chạy được BASIC trên cỗ máy. Anh phát hiện ra rằng MITS là một nơi náo loạn. “Mọi người làm việc suốt cả ngày, rồi vội vã trở về nhà để ăn tối rồi lại quay lại,” quản trị viên của MITS, Eddie Currie, hồi tưởng. “Bạn có thể tới đó vào bất kỳ lúc nào, bất kể ngày hay đêm, và sẽ luôn có 20-30 người ở đó, chiếm một phần ba cho tới một nửa nhân sự [không tính khu vực chế tạo], trong suốt cả tuần. Tất cả đều thực sự vào guồng với công việc này bởi họ đang trao máy tính cho những người thực sự trân trọng nó, và thực sự muốn sở hữu nó tới phát điên. Đó quả là một chiến dịch lớn và vô cùng vẻ vang.”

Khi đó, tại MITS chỉ có duy nhất một cỗ máy có bộ nhớ 4K, và như vậy là vừa đủ. Khi Paul Allen gắn cuộn băng vào đầu đọc máy chữ, không ai dám chắc điều gì sẽ xảy ra. Cỗ máy đã kết nối được và hiển thị SẴN SÀNG. Nó đã sẵn sàng để lập trình! “Họ trở nên vô cùng phấn khích,” Bill Gates kể lại. “Chưa có ai từng thấy cỗ máy đó làm bất kỳ điều gì.”

Chương trình BASIC đó còn lâu mới hoạt động được nhưng nó đã gần hoàn thiện và các chương trình con của nó đủ thông minh để gây ấn tượng với Ed Roberts. Anh đã thuê Allen rồi thu xếp để Gates có thể làm việc từ Harvard nhằm hoàn thành nó. Không lâu sau đó, khi Gates bỏ học (và không bao giờ quay trở lại) để tới Albuquerque, anh cảm thấy như thể Picasso đang vấp phải một núi vải vẽ trống trơn – đây là một chiếc máy tính tuyệt vời mà không có tiện ích gì cả. “Chúng chẳng có gì cả!” Anh nhớ lại, vẫn còn kinh hãi tới tận nhiều năm sau. “Ý tôi là, việc đó không hề phức tạp nếu xét trên khía cạnh phần mềm. Chúng tôi đã viết lại trình hợp ngữ, và viết lại bộ tải chương trình… rồi tập hợp chúng thành một thư viện phần mềm. Những thứ đó khá vớ vẩn nhưng mọi người có thể rất vui khi sử dụng chúng.”

Khác biệt giữa thư viện phần mềm của Gates-Allen và thư viện phần mềm trong ngăn kéo của PDP-6 hay thư viện của Câu lạc bộ Homebrew là họ chỉ bán chúng chứ không cung cấp miễn phí. Cả Bill Gates và Ed Roberts đều không tin rằng phần mềm là một thứ gì đó thần thánh hay nó được sinh ra là để truyền bá như thể một linh vật quá linh thiêng tới mức không thể mua được bằng tiền. Nó tượng trưng cho sức lao động và sự tận tâm với công việc, cũng giống như phần cứng, vì thế Altair BASIC đã được liệt kê trong danh mục “hàng để bán” của MITS.

Trong khi đó, cơn khát Altair BASIC của các thành viên Homebrew đã lên tới đỉnh điểm. Hóa ra, họ hoàn toàn có khả năng viết một trình phiên dịch BASIC, và một vài người đã làm thế. Dù vậy, những người khác đã đặt mua Altair BASIC và chờ giao hàng một cách thiếu kiên nhẫn, giống y như khi chờ đợi các sản phẩm khác của MITS. Sự kiên nhẫn với MITS ngày càng giảm đi, đặc biệt là sau thất bại với các bảng mạch bộ nhớ động mà Ed Roberts khăng khăng là hoạt động tốt nhưng thực tế hoàn toàn ngược lại. Những người khó chịu khi mua phải bảng mạch bộ nhớ “dỏm” bắt đầu dè bỉu khi nói về công ty của Ed Roberts, đặc biệt là khi bản thân Roberts, người có danh hiệu huyền thoại dành cho một thiên tài ẩn dật chưa từng rời khỏi Albuquerque, lại được nhắc đến như kẻ thù điên loạn và tham lam của Đạo đức Hacker. Còn có những tin đồn cho rằng anh đã trù ém các đối thủ của mình. Phản ứng phù hợp mà một hacker nên đối xử với đối thủ là cung cấp cho họ kế hoạch kinh doanh và thông số kỹ thuật của bạn để họ có thể làm ra các sản phẩm tốt hơn và nhờ đó, thế giới nói chung có thể sẽ đạt được sự tiến bộ. Chứ không phải là hành động như những gì Ed Roberts đã làm tại First World Altair Convention (Hội nghị Altair Thế giới Lần đầu tiên) được tổ chức tại Albuquerque một năm sau khi cỗ máy được giới thiệu, khi mà vị Chủ tịch MITS đầy kiên quyết đã từ chối không cho các đối thủ thuê các gian trưng bày này, và theo như một số người, anh đã nổi cơn thịnh nộ khi biết rằng các công ty như Processor Technology của Bob Marsh đã thuê các dãy phòng trong một khách sạn để làm hài lòng những vị khách tương lai.

Vì thế, khi Đoàn lữ hành MITS đến Rickeys Hyatt House ở Palo Alto vào tháng 6 năm 1975, sân khấu đã được sắp sẵn cho thứ mà một số người gọi là tội ác, trong khi những người khác lại gọi đó là sự giải phóng. “Đoàn lữ hành” là một ý tưởng marketing của MITS. Một số kỹ sư MITS sẽ đi khắp nơi trên chiếc xe máy được coi là ngôi nhà di động, hay MITS-di-động, họ di chuyển từ thành phố này tới thành phố khác, mỗi nơi lại thiết lập những chiếc máy Altair trong các phòng hội thảo ở khách sạn ven đường rồi mời mọi người tới chứng kiến hoạt động kỳ diệu của những chiếc máy tính giá rẻ. Sau đó, phần lớn mọi người sẽ đặt mua Altair, và hỏi xem khi nào họ mới nhận được máy. Những người đã sở hữu một chiếc rồi thì lại muốn hỏi xem họ đã sai ở đâu khi lắp ráp con quái vật này. Những người sở hữu bảng mạch bộ nhớ MITS thì muốn biết tại sao chúng không hoạt động. Còn những người đã đặt mua Altair BASIC thì phàn nàn tại sao mãi chưa nhận được máy.

Đám đông tại Câu lạc bộ Máy tính Homebrew tập trung lại khi Đoàn lữ hành tới nhà của Rickeys Hyatt trên đường El Camino Real ở Palo Alto vào đầu tháng Sáu, và họ đã phấn khích biết bao khi thấy chiếc Altair trưng bày có chạy BASIC. Nó được kết nối với một chiếc máy chữ có đầu đọc băng giấy, và khi chương trình được tải thì bất kỳ ai cũng có thể nhập lệnh vào và thấy phản hồi ngay lập tức. Nó giống như một may mắn bất ngờ dành cho những hacker đã gửi vài trăm đô-la tới MITS và nó không thể kiên nhẫn chờ tới lúc BASIC được phát hành. Với một hacker thì không gì khó chịu hơn việc trông thấy phần mở rộng cho hệ thống mà không thể làm gì được với nó. Ý nghĩ phải trở về nhà với chiếc Altair của mình mà không thể khiến nó vận hành như chiếc ở nhà của Rickeys Hyatt hẳn không khác nào án tù đối với các hacker này. Nhưng thực hành đã thắng thế. Nhiều năm sau, Steve Dompier đã khéo léo mô tả những gì xảy ra tiếp theo: “Ai đó, mà không ai biết là ai, đã mượn một trong những băng giấy của họ khi nó nằm trên sàn nhà.” Băng giấy nghi vấn đó có chứa phiên bản hiện tại của Altair BASIC mà Bill Gates và Paul Allen viết.

Dan Sokol nhớ lại “cái người” đầy mơ hồ ấy đã đến gặp anh, biết rằng Sokol từng làm việc cho một trong các hãng bán dẫn, và hỏi liệu anh có cách nào nhân bản các băng giấy này không. Sokol đã trả lời là có, anh có thể sử dụng một chiếc máy sao chép băng giấy. Thế rồi anh đưa nó cho Sokol.

Sokol có đủ lý do để chấp nhận nhiệm vụ sao chép băng giấy. Anh cảm thấy rằng mức giá mà MITS bán BASIC là quá đáng và MITS quá tham lam. Anh đã nghe được tin đồn rằng Gates và Allen đã viết trình phiên dịch trên hệ thống máy tính lớn thuộc về một viện mà Chính phủ tài trợ, do đó, họ cảm thấy chương trình này phải thuộc về tất cả những người đóng thuế.

Anh biết nhiều người đã trả tiền cho MITS để mua nó, nên việc họ lấy một bản sao thời kỳ đầu sẽ không gây tổn hại gì đến tài chính của MITS. Nhưng trên tất cả, có vẻ việc sao chép nó là đúng đắn. Tại sao lại phải có rào cản đứng giữa hacker và công cụ dùng để khám phá, cải tiến và xây dựng hệ thống cơ chứ?

Với lý lẽ mang tính triết học này của mình, Sokol đã đưa băng giấy đó cho sếp, ngồi vào một chiếc PDP-11 và đưa nó vào. Anh đã chạy nó suốt đêm, tạo ra nhiều bản sao và trong buổi họp tiếp theo của Câu lạc bộ Máy tính Homebrew, anh mang theo một chiếc thùng đầy băng giấy. Sokol đã thu một mức phí mà trong suy nghĩ của các hacker là mức giá phù hợp cho phần mềm này: Không gì cả. Điều kiện duy nhất là nếu nhận được một băng giấy, bạn phải sao chép nó để lần tiếp theo đi họp phải mang theo hai cuộn. Để có thể tiếp tục cho đi. Mọi người nhanh chóng lao vào tranh nhau. Họ không chỉ mang theo các bản sao tới cuộc họp tiếp theo mà còn gửi chúng cho các Câu lạc bộ máy tính khác nữa. Vì thế, phiên bản đầu tiên của Altair BASIC đã được truyền tay một cách tự do trước cả lần ra mắt chính thức của nó.

Tuy nhiên, có hai hacker không mấy hứng thú với kiểu chia sẻ và hợp tác như thế – đó là Paul Allen và Bill Gates. Họ đã bán phần mềm BASIC của mình cho MITS để thu tiền bản quyền trên mỗi bản được bán ra, và việc cộng đồng hacker vô tình sao chép chương trình của họ rồi phân tán chúng quả là không thể tưởng tượng được. Việc đó giống như thể ăn cắp vậy. Bill Gates cũng rất buồn vì phiên bản mà mọi người đang trao đổi có đầy lỗi mà anh đang trong quá trình sửa chữa. Trước tiên, anh cho rằng mọi người chỉ cần mua phiên bản gỡ lỗi của nó. Thậm chí, sau khi MITS phát hành phiên bản BASIC đã gỡ lỗi thì mọi việc lại càng trở nên rõ ràng: Người dùng Altair không mua các bản sao nếu họ không có một phiên bản BASIC “lậu” đã chạy từ trước. Hoặc họ sẽ sống chung với lỗi, hoặc nhiều khả năng hơn là họ sẽ dành thời gian để tự gỡ lỗi và sửa. Gates đã rất tức giận và khi David Bunnell (người sau đó sẽ biên tập phiên bản mới Altair User’s Newsletter cho MITS) hỏi anh muốn làm gì với việc này thì Gates, khi đó 19 tuổi, đầy tự mãn nhờ trình độ kỹ thuật siêu hạng và không hề tế nhị trong giao tiếp xã hội, đã nói rằng có lẽ anh nên viết một bức thư. Bunnell hứa rằng anh sẽ đưa bức thư tới được với những kẻ gây chuyện.

Vậy là Gates đã viết bức thư của mình và Bunnell không chỉ in nó trên bản tin Altair mà còn gửi cho các nhà xuất bản khác, bao gồm cả bản tin Câu lạc bộ Máy tính Homebrew. Với tiêu đề “Open Letter to Hobbyists” (tạm dịch: Bức thư ngỏ gửi tới những người cùng chung sở thích), bức thư đã giải thích rằng dù anh và Allen nhận được nhiều phản hồi tích cực về trình phiên dịch, nhưng hầu hết mọi người đều không mua nó. Bức thư đã nhanh chóng đi vào trọng tâm như sau:

Sao lại thế này? Phần lớn những người yêu thích máy tính phải biết rằng hầu hết các bạn đang ăn cắp phần mềm. Các bạn cần phải trả tiền cho phần cứng, nhưng phần mềm là thứ để chia sẻ. Ai quan tâm tới việc liệu người phát triển phần mềm có được trả tiền hay không?

Gates tiếp tục giải thích rằng những “tên trộm” phần mềm này đang ngăn cản các lập trình viên tài năng viết chương trình cho những cỗ máy như Altair. “Ai lại đi trang trải chi phí thực hiện các công việc có chuyên môn mà không làm được gì? Làm sao những người yêu máy tính có thể dành 3 người-năm 70 để lập trình, tìm và gỡ lỗi, viết tài liệu cho sản phẩm của họ để rồi phân phối sản phẩm của họ hoàn toàn miễn phí?”

70 3 man-year tương đương với công sức của một người làm trong 3 năm. (ND)

Dù khá kích động về bức thư đó, nhưng sau khi được Bunnell biên tập cẩn thận, nó không còn là một bài diễn văn dài lê thê nữa mà đã gây ra những tác động đáng kể trong cộng đồng hacker. Ed Roberts, dù đồng ý với triết lý của Gates, cũng không thể làm gì ngoài việc chứng kiến các cảm xúc tồi tệ và buồn bã với việc Gates không hỏi anh trước khi xuất bản bức thư. Cộng đồng Máy tính Nam California đã dọa kiện Gates khi gọi những người yêu máy tính là “những tên trộm”. Gates đã nhận được 300-400 bức thư nhưng chỉ có 5-6 bức đi kèm những khoản tiền tự nguyện mà anh đề nghị những người sở hữu bản BASIC lậu gửi cho mình. Nhiều bức thư trong số đó vô cùng tiêu cực. Hal Singer, biên tập viên của Micro-8 Newsletter, đã nhận được bức thư của Gates qua chuyển phát đặc biệt, viết rằng “hành động hợp lý nhất là xé tan bức thư và quên nó đi.”

Nhưng “vụ xôn xao phần mềm” này, như cách mà sau này người ta gọi nó, không dễ đi vào quên lãng. Khi viết phần mềm và đặt trong ngăn kéo để những người khác có thể dùng chúng, các hacker MIT không hề nghĩ đến tiền bản quyền. Chẳng hạn như trò Chiến tranh không gian của Slug Russell không hề có mặt trên thị trường (chỉ có 50 chiếc PDP-1 được sản xuất, và các học viện sở hữu chúng khó có khả năng chi tiền để mua một trò chơi như vậy). Với số lượng máy tính ngày càng tăng (không chỉ có Altair mà còn các loại máy tính khác nữa), thì một phần mềm tốt có thể mang lại về rất nhiều tiền – nếu các hacker không coi việc sao chép phần mềm bất hợp pháp là một phần công việc của mình. Dường như không một ai phản đối việc một tác giả phần mềm lại muốn kiếm chút đỉnh cho công việc của mình – nhưng các hacker cũng không muốn từ bỏ ý tưởng rằng chương trình máy tính thuộc về tất cả mọi người. Đó là một phần trong giấc mơ hacker và nó quá quan trọng để họ có thể từ bỏ.

Steve Dompier cho rằng Bill Gates chỉ đang than vãn. “Trớ trêu thay, việc Gates phàn nàn về nạn sao chép phần mềm bất hợp pháp đã không ngăn chặn được điều gì. Mọi người vẫn nghĩ, ‘Nếu có nó thì bạn có thể chạy nó.’ Việc đó giống như phát nhạc ngẫu nhiên. BASIC đã được truyền bá khắp nước Mỹ, rồi khắp thế giới. Việc mọi người đều có Altair BASIC, biết cách vận hành nó và gỡ lỗi cho nó cũng đồng nghĩa với việc khi các công ty khác ra đời và cần một chương trình BASIC, họ sẽ tìm đến công ty của Gates. Nó đã trở thành một tiêu chuẩn thực tế.”

Các thành viên Câu lạc bộ Máy tính Homebrew đã cố gắng làm quen với kỷ nguyên mới này, nơi phần mềm có giá trị thương mại mà không làm mất đi các lý tưởng hacker. Có một cách để thực hiện việc này là viết các chương trình và phân phối chúng một cách phi chính thức nhưng vẫn hợp pháp trong một chừng mực nào đó, như cách mà Altair BASIC đã được phân phối – tức là bằng kế hoạch tách ra rồi đưa-cho-bạn-của-mình. Nhờ thế, phần mềm có thể tiếp tục như một quy trình tự nhiên, với việc tác giả gốc của nó sẽ phát hành mã chương trình theo một hành trình với vô số vòng cải tiến.

☆ ☆ ☆

Ví dụ tốt nhất về quy trình tự nhiên đó đến từ sự phát triển của trình phiên dịch “BASIC rút gọn”. Khi Bob Albrecht lần đầu tiên nhìn vào chiếc Altair đến từ PCC, anh ngay lập tức nhận ra rằng cách duy nhất để lập trình nó khi đó là sử dụng ngôn ngữ máy tẻ nhạt của chip 8080. Anh cũng thấy rõ bộ nhớ của nó giới hạn đến mức nào. Vì thế, anh đến gặp Dennis Allison, một thành viên ban quản trị của PCC hiện đang giảng dạy tại Khoa Khoa học Máy tính của Stanford, và nhờ anh ta đưa ra một số lưu ý thiết kế cho phiên bản BASIC rút gọn dễ sử dụng và không chiếm quá nhiều bộ nhớ. Allison đã viết một bộ khung cho một trình phiên dịch khả dĩ, dán nhãn cho bài viết của anh là một “dự án khuyến khích các cá nhân tham gia”, thu hút sự giúp đỡ từ bất kỳ ai quan tâm tới việc viết “một ngôn ngữ tối giản giống như BASIC dùng để viết các chương trình đơn giản”. Allison nhớ lại phản ứng với bài viết của PCC: “Sau đó ba tuần, chúng tôi nhận được các phản hồi, bao gồm một phản hồi được gửi từ hai anh chàng đến từ Texas, họ đã viết một phiên bản BASIC rút gọn hoàn toàn chính xác và được sửa lỗi, với toàn bộ mã nguồn dưới dạng bát phân.” Cặp đôi đến từ Texas đã đặt một chương trình BASIC trong 2K bộ nhớ, gửi nó đi và được in ra trên tờ PCC. Albrecht đã biên dịch, chạy toàn bộ mã nguồn, và chỉ trong vòng vài tuần, các chủ sở hữu của Altair bắt đầu gửi đi các “báo cáo lỗi” cùng những gợi ý cải tiến. Đó là trước khi bất kỳ bảng mạch đầu vào/đầu ra nào dành cho Altair từng tồn tại; các độc giả PCC đã phải nhập 2.000 con số thủ công thông qua các công tắc, và lặp lại toàn bộ quá trình đó mỗi khi bật máy tính lên.

Các hacker khác nhau đã khiến PCC ngập trong những phương ngữ mới của BASIC rút gọn và các chương trình thú vị viết bằng ngôn ngữ đó. Albrecht, vẫn luôn giống một nhà hoạch định hơn là một hacker, lo lắng rằng việc chạy tất cả mã nguồn đó sẽ khiến cho PCC trở thành một tạp chí quá kỹ thuật, vì thế anh đã đưa ra kế hoạch xuất bản một phiên bản tạm thời của PCC có tên là Tiny BASIC Journal. Nhưng các phản hồi về nó nặng nề tới mức anh nhận ra rằng, toàn bộ tạp chí mới chỉ dành cho phần mềm. Anh nhấc máy lên và gọi cho Jim Warren để biên tập nó.

Warren là sinh viên ngành Khoa học Máy tính có thân hình béo tốt và nhanh nhạy, anh đã từ chối tới Oasis sau buổi họp Homebrew vì không chịu được khói thuốc lá. Anh là một gã kỳ cục của Đại học Tự do Midpeninsula. Ngoài vài tấm bằng học thuật, anh có khoảng 8 năm kinh nghiệm tư vấn về điện toán và là chủ tịch của một vài nhóm có sở thích đặc biệt của Hiệp hội Máy tính (Association for Computer Machinery). PCC đã đề nghị anh một công việc với mức lương 350 đô-la và anh đồng ý ngay lập tức. “Trông có vẻ thú vị,” anh giải thích. Vì biết có một số người phản đối BASIC nên anh khăng khăng rằng tờ báo không nên xoay quanh BASIC mà nên xuất bản về phần mềm nói chung, để có thể giúp đỡ các hacker phần cứng đã thiết lập các cỗ máy của họ và đang muốn có một phép thần chú di chuyển các bit vòng quanh bên trong nó.

Cái tên ban đầu của tờ báo đã ngụ ý về không khí xung quanh PCC và Homebrew khi đó: Vì Tiny BASIC đã tiết kiệm được nhiều byte bộ nhớ nên nó được gọi là “Tạp chí của Tiến sĩ Dobbs về Máy tính… Chạy Mà Không Dùng Quá nhiều byte”. Sao không chứ?

Warren đã viết một bài xã luận trên ấn bản đầu tiên có tên là Dr. Dobbs Journal (DDJ), nói về “phần mềm miễn phí hoặc giá rẻ bất ngờ”. Trong một bức thư được gửi đi để giải thích về tạp chí, anh trau chuốt hơn: “Có một phương án thay thế khả dĩ đối với các vấn đề mà Bill Gates đưa ra trong bức thư đầy giận dữ của anh gửi cho những người yêu máy tính về việc ‘ăn cắp’ phần mềm. Nhưng khi phần mềm mang tính miễn phí hoặc giá rẻ bất ngờ, thì việc trả tiền cho nó sẽ dễ dàng hơn so với việc sao chép nó, và nhờ đó, chúng sẽ không bị ‘đánh cắp’ nữa.”

Warren coi DDJ là lá cờ đầu của giấc mơ hacker. Anh coi nó là nơi trao đổi các trình hợp ngữ, trình sửa lỗi, phần mềm đồ họa và âm nhạc. Đồng thời, anh cũng coi nó là một “phương tiện truyền thông và kích thích trí tuệ quần chúng”. Nhưng vào năm 1976, mọi việc diễn ra quá nhanh tới mức trong đa số trường hợp, các tin tức phần cứng mà anh nghe được hay giải pháp phần mềm cho một vấn đề đã không thể chờ tới lúc được xuất bản, và khi đó, anh sẽ ráo riết chờ tới cuộc họp tiếp theo tại Homebrew – nơi anh đã nhẵn mặt – đứng lên và tuôn ra tất cả tin tức anh biết trong tuần đó.

Những lời động viên của Warren về cách tiếp cận trên phạm vi rộng đối với phần mềm không phải là hành động duy nhất. Phản hồi tiêu biểu nhất của các hacker trước mối đe dọa của việc thương mại hóa phần mềm có thể làm thay đổi tinh thần hack đến từ một phù thủy phần mềm độc lập tới mức cứng rắn có tên là Tom Pittman. Khi đó, Pittman không tham gia vào bất kỳ dự án lớn nào ở Homebrew. Anh đại diện cho tầng lớp hacker phần cứng trung tuổi bị thu hút về Homebrew, và rất tự hào khi được tham gia vào cuộc cách mạng máy tính, nhưng lại thỏa mãn với thú vui hack cá nhân tới mức chỉ muốn giữ cho hình ảnh của mình thật mờ nhạt. Pittman ở cùng độ tuổi với Lee Felsenstein, và cũng đã ở Berkeley cùng thời gian đó, nhưng lại không có cuộc sống nội tâm đầy phiêu lưu như Lee.

Pittman gắn bó với Homebrew ngay từ buổi họp đầu tiên, và anh không phải tốn quá nhiều công sức giao tiếp với những người khác. Pittman nhanh chóng được biết đến là một trong những kỹ sư đơn thuần nhất và thành công nhất của Câu lạc bộ. Anh là người có thân hình nhỏ nhắn với cặp kính dày và nụ cười tỏa nắng; bất chấp sự bẽn lẽn ra mặt, nụ cười ấy báo hiệu anh luôn sẵn sàng tham gia vào bất kỳ cuộc trao đổi nào về phần cứng. Anh đã xây dựng một hệ thống máy tính không chắc là hữu dụng dựa trên con chip Intel 4004 có hiệu năng khá thấp, và duy trì danh sách thư của Homebrew trên đó. Anh tận hưởng thú vui trái khoáy này bằng cách khiến mọi người ngạc nhiên khi nói với họ về những gì anh đã làm với hệ thống, khiến nó thực hiện các tác vụ vượt xa giới hạn về lý thuyết.

Pittman đã mơ về việc có một chiếc máy tính cho riêng mình từ những ngày còn học phổ thông hồi những năm 1960. Toàn bộ cuộc sống của anh có thể được gói gọn là một “người theo phe hành động, chứ không phải là một kẻ quan sát”, nhưng anh đã làm việc một mình, trong thế giới bí mật được lấp đầy bởi những logic điện tử chắc chắn. “Tôi không nhạy bén với suy nghĩ của những người khác lắm,” anh kể lại. Anh sẽ tới thư viện và chọn những cuốn sách có chủ đề mình ưa thích, đọc chúng rồi lại lấy thêm những cuốn khác nữa. “Tôi không thể đọc nhiều cho tới khi đặt cuốn sách xuống và làm việc – có thể là làm việc trong đầu nếu như không còn nơi nào khác.”

Khi đến Berkeley, anh đã tham gia các khóa học trình độ đại học liên quan đến môn toán và chế tạo. Khóa học ưa thích của anh trong năm đầu đại học là Giải tích. Trong khi Phong trào Tự do Ngôn luận diễn ra sôi nổi xung quanh, Pittman đã vô tình thích thú với các vấn đề thuộc phần thí nghiệm của khóa học, và lần lượt giải quyết chúng một cách có hệ thống. Nhưng anh đã chán ngấy phần bài giảng; nó chẳng có vẻ gì “thú vị” và điểm Giải tích của anh là trung bình cộng của điểm A cho phần thí nghiệm và điểm F cho phần bài giảng. Kết quả của các môn học khác trong khóa học cũng y hệt như vậy. Có lẽ anh không hợp với cấu trúc có tổ chức của một trường đại học.

Rồi anh tìm cách thoát ra. Một giáo sư đáng mến đã giúp anh kiếm một công việc tại phòng thí nghiệm của Bộ Quốc phòng ở San Francisco. Tại đây, anh đã làm việc với máy tính, hỗ trợ các mô phỏng trò chơi được hiệu chỉnh theo hiệu ứng phóng xạ từ các vụ nổ hạt nhân lý thuyết. Anh không có vấn đề gì về mặt đạo đức khi làm công việc này. “Về cơ bản, tôi không nhạy cảm với các vấn đề chính trị nên thậm chí chưa từng chú ý tới điều đó,” anh kể lại. Đức tin thành kính đối với Thiên Chúa giáo đã khiến anh tuyên bố bản thân mình là một “người phản đối nửa mùa”. Anh giải thích: “Điều đó có nghĩa là tôi đã sẵn sàng [phục vụ] nhưng không sẵn sàng bắn người khác. Tôi làm việc ở đó, trong phòng thí nghiệm, để phục vụ Tổ quốc tôi. Tôi đã rất vui vẻ khi ở đó.”

Anh đã sẵn lòng trở thành một con nghiện máy tính; dù công việc kết thúc vào lúc 6 giờ nhưng anh thường làm việc muộn hơn rất nhiều để tận hưởng sự yên bình khi chỉ có một mình ở đó. Anh sẽ làm việc cho tới khi mệt rũ. Một đêm, trên đường lái xe về nhà ở Phía Đông Vùng Vịnh, anh ngủ gật và tỉnh dậy bên một bụi hoa hồng vệ đường. Anh đã hiểu về hệ thống máy tính ở phòng thí nghiệm rõ tới mức trở thành một hacker hệ thống không chính thức; mỗi khi gặp vấn đề với máy tính, mọi người lại tới tìm Tom. Anh đã tan nát cõi lòng khi phòng thí nghiệm bị đóng cửa cho tới khi chiến tranh kết thúc và họ cũng không còn nhận được tài trợ từ Bộ Quốc phòng nữa.

Nhưng vào thời điểm đó, việc tự lắp ráp một chiếc máy tính cá nhân đã trở thành hiện thực. Anh đến Intel, nơi chế tạo bộ vi xử lý đầu tiên, chip 4004, và đề nghị viết trình biên dịch cho nó. Anh làm việc đó để đổi lấy các linh kiện lắp ráp máy tính. Với khả năng lập trình của một bậc thầy, anh đã tạo ra một trình hợp ngữ gọn gàng, rồi lại viết một trình sửa lỗi để đổi lấy các linh kiện khác. Intel bắt đầu gửi những người mua 4004 cần trợ giúp lập trình tới cho Tom. Khi bắt đầu tham dự các buổi họp ở Homebrew, Tom đã chuyển tới San Jose và điều hành một doanh nghiệp tư vấn nhỏ để nuôi bản thân và vợ, người luôn phải chấp nhận thói cuồng máy tính của anh một cách miễn cưỡng.

Dù phấn khích trước tình cảm mà các anh em yêu công nghệ ở Homebrew dành cho nhau, nhưng Tom Pittman vẫn nằm trong số những người không bao giờ cân nhắc tham gia vào việc kinh doanh như những gì Bob Marsh đã làm với Processor Technology. Anh cũng không nghĩ đến việc làm cho bất kỳ hãng khởi nghiệp nào. “Tôi không quảng giao với bất kỳ ai ở đó. Họ không biết tôi – Tôi chỉ là một kẻ cô đơn,” anh kể lại. “Bên cạnh đó, tôi không có kỹ năng quản lý. Tôi giống một lập trình viên phần mềm hơn là một kỹ sư điện tử.”

Nhưng sau “cơn sóng gió phần mềm” mà bức thư của Bill Gates tạo ra, Pittman đã quyết định hành động công khai. “Gates đã than vãn về việc bị ăn cắp và mọi người nói rằng: ‘Nếu cậu không thu 150 đô-la thì chúng tôi sẽ mua nó.’ Tôi đã quyết định chứng minh điều đó.” Anh đã theo dõi bản tin về Tiny BASIC trên DDJ và hiểu cách viết một chương trình BASIC. Pittman thấy có một vài chiếc máy tính mới, các đối thủ của MITS, đã sử dụng chip Motorola 6800 thay vì chip Intel 8080, và chưa ai viết trình phiên dịch BASIC để vận hành trên chúng. Vì thế, anh quyết định viết một trình phiên dịch Tiny BASIC cho chip 6800 và bán nó với giá 5 đô-la, chỉ bằng một phần nhỏ so với giá của MITS, để xem liệu mọi người có mua nó thay vì ăn cắp hay không.

Là một hacker thực thụ, Pittman không hài lòng với việc máy tính chỉ chạy một loại BASIC Rút gọn bất kỳ: Anh đã bị con ác thú “sinh vật cuồng tính năng” giam cầm, nó luôn đứng sau lưng tất cả hacker, chọc vào lưng họ và thúc giục, “Thêm tính năng đi! Làm tốt hơn nữa đi!” Anh cho vào những thứ mà nhiều người nghĩ rằng không thể nhét vừa một ngôn ngữ “nhỏ xíu” – chẳng hạn như khoảng trống dành cho các chú ý hữu ích hay tận dụng một tập lệnh đầy đủ. Trong vòng hai tháng, anh đã có một trình phiên dịch hoạt động được và may mắn khi bán nó cho công ty AMI với giá 3.500 đô-la, với điều kiện là việc mua bán này không độc quyền. Anh vẫn muốn bán nó cho những người yêu máy tính với giá 5 đô-la mỗi bản.

Anh đặt một quảng cáo trên tạp chí Byte, và trong vòng vài ngày từ khi nó xuất hiện, anh đã nhận được 50 đô-la trong hộp thư. Một số người gửi 10 đô-la hoặc hơn và nói rằng 5 đô-la là quá ít. Một số người thì lại gửi 5 đô-la kèm một ghi chú nói rằng anh không phải gửi cho họ vì họ đã sao chép nó từ một người bạn rồi. Pittman vẫn cứ gửi cho họ. Giá thành của anh đã bao gồm 12 xu cho băng giấy và 50 xu cho việc in tài liệu hướng dẫn do anh viết. Buổi đêm, anh sẽ ngồi trên chiếc ghế trong ngôi nhà khiêm tốn của mình, nghe đài phát thanh Thiên Chúa ở San Jose hoặc băng cát-sét của các diễn giả trong những hội nghị Thiên Chúa giáo, và gấp các băng giấy, nhờ đó anh rất thành thạo kỹ năng gấp giấy theo độ dài 20cm. Sau đó, anh sẽ đến bưu điện và gửi cả gói đi. Tất cả đều được thực hiện thủ công với sự giúp đỡ của vợ anh, người luôn hoài nghi về toàn bộ công việc làm ăn này.

Đó là một chiến thắng dành cho chủ nghĩa hacker nhưng Tom Pittman không chỉ dừng lại ở đó. Anh muốn kể cho tất cả mọi người về nó và chỉ ra phương hướng phát triển cho họ. Trong một buổi họp của Homebrew, anh đã đứng lên thuyết trình, và khi anh nhảy cẫng lên phía trước thính phòng, Lee bỗng thấy toàn thân anh cứng đờ. Sau đó, anh cố gắng thả lỏng ra – “Họ gọi bạn là Tom Pittman bé nhỏ nhưng thực ra bạn không nhỏ lắm,” anh nói. “Tại sao lại thế?” Vì không giỏi đối đáp lắm nên anh chỉ cười trừ. Nhưng khi bắt đầu nói, anh lại có được sức mạnh để thả lỏng cơ thể, liên tục chặt tay trong không khí khi đưa ra các quan điểm về phần mềm miễn phí. Thật kịch tính khi anh chàng kỹ thuật viên lầm lì hằng ngày ấy đang phát biểu với sự cởi mở chân thành về một vấn đề vô cùng quan trọng đối với anh: dòng chảy tự do của thông tin.

Không lâu sau sự ra đời của BASIC Rút gọn, anh đã tiến thêm một bước xa hơn với việc tuyên bố ý định viết chương trình FORTRAN cho máy tính và bán nó với giá 25 đô-la. Đây lại là một dự án toàn thời gian đầy táo bạo khác, nhưng anh vẫn tiếp tục cắt giảm thời gian dành cho hack khi “góa phụ điện toán đã rời bỏ tôi. Nàng quyết định rằng nàng không muốn cưới một gã nghiện.”

Thật choáng váng khi biết rằng nhiều thành viên của Homebrew – những người đã thuyết phục một phụ nữ kết hôn với một kẻ nghiện máy tính ngay từ lần đầu gặp gỡ – sẽ trải qua điều đó. “Tôi có thể nói rằng tỷ lệ ly hôn trong cộng đồng những người sử dụng máy tính là gần 100% – đặc biệt là trường hợp của tôi,” Gorgon French kể lại. Điều đó không khiến mọi việc trở nên dễ dàng hơn đối với Tom Pittman. Anh chẳng còn lòng dạ nào để hoàn thành FORTRAN. Anh đã không nghĩ nhiều về sự tận tụy mà anh dành cho máy tính hay sự tận tụy đó đến từ đâu, và anh đã ngồi xuống để viết một thứ gì đó, không phải bằng ngôn ngữ máy mà là tiếng Anh.

Anh đặt tên cho tiểu luận đó là “Deus Ex Machina, hay Nhà Điện toán Đích thực” (ta có thể sử dụng từ “nhà điện toán” để thay thế cho từ “hacker”), và đó là lời giải thích cho điều đã gắn kết các hacker phần cứng ở Thung lũng Silicon với các hacker AI tại Cambridge. Anh viết về cảm giác chắc chắn mà hacker có sau khi đã hack được một thứ gì đó. “Ngay lúc đó,” anh viết, “một con chiên ngoan đạo như tôi sẽ cảm nhận được sự thỏa mãn mà có lẽ hẳn là Chúa đã cảm nhận được khi Người tạo ra thế giới.” Anh tiếp tục biên soạn các tín điều cho giới tin học – bao gồm các hacker phần cứng – trong đó bao gồm “danh sách các đức tin” tương tự (với các thành viên Homebrew) như sau:

Máy tính thú vị hơn hầu hết mọi người. Tôi thích dành thời gian bên chiếc máy tính của mình. Thật thú vị khi viết chương trình cho nó, chơi trò chơi điện tử với nó hoặc phát triển các linh kiện mới cho nó. Thật tuyệt vời khi cố gắng tìm ra phần nào đó trong chương trình khiến đèn nhấp nháy hay khiến cho radio phát ra âm thanh. Nó thú vị hơn các câu chuyện tẻ nhạt hằng ngày.

Máy tính chỉ cần thêm một chút (bộ nhớ) (tốc độ) (thiết bị ngoại vi) (ngôn ngữ BASIC tốt hơn) (CPU mới hơn) (giảm bớt nhiễu trên bus) (sửa lỗi chương trình này) (trình soạn thảo mạnh mẽ) (bộ cấp điện lớn hơn) để có thể làm được điều này hay điều kia.

Không cần phải mua gói phần mềm này hay bảng mạch đó; tôi có thể thiết kế một cái tốt hơn.

Đừng bao giờ bỏ lỡ một buổi họp Câu lạc bộ. Đây chính là nơi đó. Ở đó có những mẩu tin thú vị, cách sửa chữa các vấn đề khiến bạn đau đầu trong hai tuần qua… đó là một thứ có thực! Bên cạnh đó, họ có thể có một số phần mềm miễn phí.

Sắc thái của Pittman đã thay đổi từ đó. Anh tự biến mình trở thành một ngoại lệ đối với niềm tin này khi nhận ra rằng anh “ở đó” và chứng kiến các vấn đề cùng họ. Qua từng điểm một, anh cho thấy sự điên rồ của việc hack và kết luận như sau: “Giờ đây, máy tính đã bước ra khỏi hang tối để bước vào phần còn lại trong cuộc sống của bạn. Nó sẽ ngốn tất cả thời gian rảnh rỗi của bạn, và cả những kỳ nghỉ nữa nếu bạn cho phép. Nó sẽ làm cho ví tiền của bạn cạn kiệt và bó chặt các suy nghĩ của bạn. Nó sẽ khiến bạn xa lánh gia đình mình. Bạn bè nghĩ về bạn như một kẻ tẻ nhạt. Tất cả để đổi lấy thứ gì chứ?” Vẫn còn sốc sau cuộc đổ vỡ hôn nhân, Tom Pittman quyết định thay đổi các thói quen. Và anh đã làm được. Sau này, anh mô tả sự biến đổi đó như sau: “Hôm nay tôi sẽ nghỉ một ngày. Tôi sẽ không bật máy tính vào Chủ nhật.”

“6 ngày còn lại, tôi sẽ làm việc chăm chỉ như một chú chó.”

☆ ☆ ☆

Lee Felsenstein đã có được sự tự tin và mục đích cho mình thông qua vai trò người tuyên bố nâng ly chúc mừng của Câu lạc bộ Máy tính Homebrew. Anh bày tỏ mong muốn cho phép Câu lạc bộ phát triển như một cộng đồng vô chính phủ, một xã hội của những người thất bại trong hôn nhân, dù họ có nhận ra điều đó hay không, và được phát triển bởi Tuyên truyền Thành tích. Anh đã thấy điều mà Moore và French không thấy: Để tạo ra hiệu ứng chính trị tối đa trong cuộc chiến giữa các hacker phần cứng chống lại thế lực ma quỷ của IBM và những gã khổng lồ khác, chiến thuật của họ cần phải phản ánh phong cách của bản thân chủ nghĩa hacker. Có nghĩa là Câu lạc bộ không nên vận hành như một bộ máy quan liêu hình thức.

Nếu muốn có một kế hoạch thất bại, anh chỉ cần nhìn về phía nam, tới Cộng đồng Máy tính Nam California (Southern California Computer Society – SCCS). Được thành lập chỉ vài tháng sau cuộc họp đầu tiên của Homebrew, SCCS đã tận dụng ưu thế của những người yêu máy tính trong một khu vực tập trung về điện tử (hầu hết các nhà thầu quân sự công nghệ cao đều nằm ở Nam California) để nhanh chóng phát triển số lượng thành viên lên đến 8.000 người. Các lãnh đạo của nó không hài lòng với việc thuần túy chia sẻ thông tin: Họ hình dung về các kế hoạch mua sắm của nhóm, một tạp chí tầm cỡ quốc gia, và một tầm ảnh hưởng cho phép họ đặt ra các điều kiện đối với ngành công nghiệp máy tính đang phát triển. Homebrew không hề có ban chỉ đạo để đặt ra các mục tiêu và phương hướng; gần một năm sau khi bắt đầu, nó vẫn chỉ đóng vai trò giải quyết vấn đề; Câu lạc bộ không thu một khoản phí thực sự – ngoại trừ một khoản gợi ý đóng góp 10 đô-la mỗi năm để nhận được bản tin khiêm tốn của nó. Nhưng SCCS thì có một ban giám đốc chính thức với các cuộc họp định kỳ đầy những tranh luận gay gắt về việc Câu lạc bộ Nên Làm Như thế nào. Không lâu trước khi SCCS xuất bản một tờ tạp chí hấp dẫn, nó đã có một nhóm mua chương trình (lên tới 40.000 đô-la mỗi tháng), và đang cân nhắc đổi tên thành Hội Máy tính Quốc gia.

Bob Marsh, người chào bán các bảng mạch của Processor Technology, thường bay tới các cuộc họp nhồi nhét của SCCS, và thậm chí còn thuộc ban giám đốc SCCS trong vài tháng. Sau này, anh đã mô tả sự khác nhau giữa hai nhóm: “Homebrew là nơi mà mọi người đến với nhau một cách thần bí, hai lần mỗi tháng. Nó chưa bao giờ là một tổ chức thực thụ. Còn SCCS thì lại có tổ chức hơn. Những anh chàng này mắc chứng hoang tưởng. Và các hoạt động chính trị thật kinh khủng, nó đã phá hỏng SCCS.” Bằng cách nào đó, các chi tiết không bao giờ được làm rõ và rất nhiều tiền được chi nhầm chỗ trong các kế hoạch mua sắm. Biên tập viên mà họ thuê để vận hành tờ tạp chí cảm thấy có lý do chính đáng để cắt đứt mối quan hệ xuất bản với Câu lạc bộ, và tiếp tục tự mình quản lý nó (vẫn xuất bản dưới cái tênInterface Age – Thời đại Giao diện); điều này đã dẫn tới một vụ kiện. Các buổi họp ban quan trị trở nên vô cùng hỗn loạn, và những cảm giác tồi tệ ấy lan sang cả các buổi họp của các thành viên bình thường. Cuối cùng thì Câu lạc bộ cũng dần trở nên mờ nhạt.

Dù các kế hoạch của Lee không hề kém tham vọng so với của các lãnh đạo của SCCS, nhưng anh nhận ra rằng cuộc chiến này không thể được tiến hành theo kiểu quan liêu, chỉ tuân theo sự chỉ huy của các lãnh đạo. Anh hoàn toàn hài lòng khi đối phó với đội quân của Bob Marshes và Tom Pittmans, một số người đã thay đổi thế giới bằng các sản phẩm hữu ích được sản xuất trên tinh thần của chủ nghĩa hacker, còn số khác chỉ đơn giản là đi theo con đường của họ: trở thành các hacker. Mục đích cuối cùng là phân phối rộng rãi những điều ngạc nhiên thích thú mà Lee Felsenstein đã trải qua trong tu viện dưới tầng hầm của anh. Đó là một môi trường cho phép mọi người thỏa mãn Nhu cầu được Thực hành. Như Lee đã nói trong một hội nghị của Học viện Kỹ thuật Điện và Điện tử năm 1975: “Cách tiếp cận công nghiệp quá tàn nhẫn và hoàn toàn không hiệu quả: Châm ngôn thiết kế của nó là ‘Thiết kế bởi Thiên tài và Được sử dụng bởi Những kẻ ngu đần,’ và khẩu lệnh để đối phó với đám đông thiếu kinh nghiệm là ĐỪNG ĐỂ HỌ CHẠM TAY VÀO!... Các tiếp cận vui vẻ mà tôi gợi ý sẽ phụ thuộc vào khả năng học hỏi và giành được chút quyền kiểm soát nào đó đối với công cụ của người sử dụng. Người dùng sẽ phải dành một lượng thời gian nhất định dò dẫm xung quanh thiết bị, và chúng ta sẽ phải thực hiện điều này mà không làm tổn hại đến thiết bị cũng như người sử dụng đó.”

Thiết bị mà Lee Felsenstein nhắc đến là Thiết bị đầu cuối Tom Swift và nó vẫn chưa ra đời hồi năm 1975. Nhưng mọi thứ đã đến rất gần. Bob Marsh, trong khi háo hức mở rộng phạm vi của công ty Processor Technology đang bùng nổ của mình, đã đưa ra cho Lee một lời đề nghị mà anh không thể khước từ. “Tôi sẽ trả tiền cho anh để thiết kế phần video cho Thiết bị đầu cuối Tom Swift,” anh nói với Lee. Điều này với Lee thật tuyệt vời, khi mà anh đã làm việc trong bộ phận tài liệu và lập biểu đồ cho Processor Technology ngay từ hồi đầu. Bob Marsh đã trung thành triệt để với Đạo đức Hacker trong năm đầu công ty hoạt động. Công ty của anh đã phân phối các giải đồ và mã nguồn phần mềm ở mức phí tối thiểu hoặc miễn phí. (Để đáp trả lại mức giá cao của MIT cho chương trình BASIC, Processor Technology đã phát triển phiên bản của riêng họ và bán kèm mã nguồn ở mức giá 5 đô-la). Khi đó, công ty đã có cấu trúc lương “cào bằng” 800 đô-la mỗi tháng cho tất cả nhân viên. “Chúng tôi hầu như hoàn toàn không chú ý tới bất kỳ lợi nhuận hay phương pháp quản lý nào.”

Lee không phải là một nhân viên, và anh đã chọn cách làm việc theo hợp đồng. “Tôi đưa ra một mức giá,” Lee nhớ lại, và “họ sẽ phải nâng giá lên gấp 10 lần, vì tôi là một người tư duy nhỏ nhặt. Ít nhất là về khoản tiền nong.”

Trong chưa đầy ba tháng, Lee đã hoàn thành một sản phẩm mẫu hoạt động được. “Mô-đun hiển thị video” (Video Display Module – VDM) của Lee đã thể hiện một triết lý khác biệt so với bảng mạch video khác dành cho Altair, chiếc Dazzler của Cromemco. Bảng mạch Dazzler sử dụng màu và tạo ra các hiệu ứng nhấp nháy bằng cách quay trở lại bộ nhớ trong con chip chính của chiếc Altair (hoặc bất kỳ máy tính nào khác có sử dụng bus phần cứng tương tự). Steve Dompier thích sử dụng chiếc Dazzler của anh khi chạy chương trình BASIC: Nó hiển thị các hình mẫu trên màn hình và đem lại hiệu ứng thị giác kiểu Rorschach 71 của bộ nhớ máy tính tại một thời điểm nhất định – đó là một đầu ra bí ẩn gợi ý về hoạt động của chương trình, rất giống với ấn tượng thị giác mà bộ loa bên dưới bàn điều khiển của TX-0 phản ánh về bộ nhớ của nó.

71 Rorschach là một bài trắc nghiệm tâm lý dựa trên những vết mực. Các hình ảnh được tạo nên từ những vết mực có thể giúp bạn khám phá mong ước thầm kín nhất cũng như nỗi sợ hãi sâu xa nhất trong tâm hồn mình. (BTV)

Dù vậy, mô-đun hiển thị video của Lee là một thiết bị tập trung hơn, được thiết kế với ý tưởng về công cuộc tái cải cách sau cùng của CM. Đầu ra của nó có màu đen trắng và thay vì sử dụng các dấu chấm thì nó thực sự tạo ra các ký tự kiểu chữ cái và số. (Lee đã xem xét sử dụng một lựa chọn thay thế khác là ngôi sao sáu cạnh có thể tìm thấy trong Kinh Dịch nhưng ý tưởng đó bằng cách nào đó đã bị hoãn lại). Tuy nhiên, điểm thông minh nhất về VDM của Lee là cách mà nó sử dụng tốc độ của các con chip vi xử lý mới, cho phép bộ nhớ của máy tính có thể được chia sẻ giữa các tác vụ tính toán và hiển thị. Nó làm việc giống như một hệ thống chia sẻ thời gian mini mà ở đó hai người sử dụng là màn hình video và chính bản thân máy tính. VDM, cùng với một chiếc Altair và các thể mở rộng khác, đã giúp cho lời hứa về một chiếc máy chữ TV trở thành hiện thực, và lập tức thu được thành công tức thì, dù nó cũng giống như hầu hết các sản phẩm của Processor Technology. Thiết bị này đã không được tung ra sau ngày phát hành dự kiến vào cuối năm 1975.

Một người đặc biệt ấn tượng với VDM là Les Solomon ở New York. Anh không hài lòng với việc đắm chìm trong thứ vinh quang phản chiếu từ việc phát hành cỗ máy có tầm ảnh hưởng lớn của Ed Roberts. Tạp chí của anh đã thực hiện một hành động táo bạo, cung cấp thêm các câu chuyện liên quan đến máy tính trên trang bìa, và giờ đây hy vọng có thể giới thiệu một thiết bị đầu cuối hoàn chỉnh hiển thị video cho máy tính – một thiết bị hoàn chỉnh và độc lập vừa có năng lực của máy tính vừa có khả năng hiển thị. Nó sẽ là bước tiếp theo vượt lên Altair, một kết hợp giữa máy chữ-vi tính và video. Chẳng còn những ngón tay rướm máu vì phải gạt các công tắc ở mặt trước của Altair nữa. Để theo đuổi sản phẩm này, Solomon đã tới Phoenix để thăm Don Lancaster, người phát minh ra máy chữ TV (thứ mà Bob Marsh đã cố xây dựng ở Berkeley), và thuyết phục anh ta lái xe tới Albuquerque gặp Ed Roberts để hai người khổng lồ có thể kết hợp trong một dự án chế tạo thiết bị đầu cuối. Theo Solomon mô tả, cuộc gặp gỡ đó là “một vụ nổ, một sự va chạm. Sự va chạm của những cái tôi. Don đã từ chối thay đổi thiết kế của mình để khớp với chiếc máy tính của Ed, bởi anh cho rằng nó không hiệu quả. Ed thì nói: ‘Không thể có chuyện đó, tôi không thể thiết kế lại nó.’ Họ lập tức gây hấn với nhau ngay tại trận và tôi đã phải tách họ ra.”

Vì thế, Solomon tới gặp Bob Marsh, công ty Processor Technology của anh đã cung cấp VDM, các bảng mạch bộ nhớ và thậm chí là cả một “bo mạch chủ” có thể thay thế bảng mạch cơ bản của Altair và hỏi: “Sao anh không ghép tất cả chúng lại với nhau? Hãy thử làm ra một thứ gì đó để chúng ta cùng xem xét.” Nếu Marsh có thể hoàn thành một “thiết bị đầu cuối thông minh” trong vòng 30 ngày thì Solomon sẽ đưa nó lên trang bìa.

Bob đã nói chuyện với Lee, người đồng ý thực hiện phần lớn thiết kế, và khi thảo luận, họ nhận ra thứ mà Les Solomon muốn không chỉ đơn thuần là một thiết bị đầu cuối mà là một chiếc máy tính hoàn chỉnh. Trong cùng năm Altair được công bố, những chiếc máy tính “dành cho người đam mê” được bán theo các bộ linh kiện hoặc đã lắp ráp, đáng chú ý nhất là chiếc máy có tên IMSAI được giới thiệu bởi một công ty có các nhân viên đã tham gia khóa huấn luyện của Werner Erhard. Gần như tất cả những chiếc máy tính này đều sử dụng bus 100 chân của Altair làm nền tảng. Chúng có hình dáng giống Altair, trông như một dàn âm thanh nổi ngoại cỡ với các bóng đèn và công tắc ở mặt trước thay cho một núm điều chỉnh tần số FM. Tất cả đều đòi hỏi một thiết bị đầu cuối nào đó, thường là một máy chữ thô kệch, để người sử dụng có thể làm mọi việc với nó.

Trong tháng 12 năm 1975, Lee và Bob đã nghiên cứu thiết kế của nó. Marsh muốn sử dụng con chip 8080, một ý tưởng mà ban đầu Lee phản đối vì lý do chính trị (tại sao lại là một kẻ độc tài silicon 72 tập trung chứ?) nhưng sau này đã đồng ý khi nhận ra rằng một thiết bị đầu cuối “thông minh” đích thực – thứ đem đến cho bạn toàn bộ sức mạnh của một chiếc máy tính – sẽ cần một bộ não. Lee quyết định sử dụng phong cách đồng nát hoang tưởng của mình để cân bằng phần còn lại của thiết kế, sao cho bộ não sẽ không có xu hướng chạy một cách điên cuồng. Marsh thường cắt ngang công việc thiết kế dang dở của Lee để bộc lộ cảm hứng mới nhất của anh đến từ “sinh vật tính năng”.

72 Ý chỉ các các nhà phát minh và hãng sản xuất các loại chip silicon, sau này được dùng để chỉ các khu thương mại công nghệ cao trong khu vực. (BTV)

Lee đã kể lại chi tiết quá trình này trong một bài viết trên tạp chí: “Khi [Marsh] phát hiện ra một mối quan tâm mới, anh ấy sẽ liên tục đưa ra các tính năng bổ sung và đột nhiên muốn can thiệp vào thiết kế. Anh ấy sẽ giải thích vấn đề hoặc cơ hội đó rồi đưa ra giải pháp kỹ thuật của mình kèm một câu quen thuộc, ‘Tất cả những gì các cậu phải làm là…’ Vì người thiết kế giống như giọng nữ chính của một vở opera, nên mối quan hệ đó sẽ chấm dứt ngay lập tức khi anh ấy nổi giận về ‘phẩm chất chuyên môn’ và ‘sự can thiệp’. Tất nhiên, do phân xưởng của tôi nằm cùng một chỗ với phòng của anh ấy, nên tôi khó tránh khỏi việc phải hứng chịu cơn thịnh nộ của anh ấy.”

Marsh, cũng giống như Lee, coi cỗ máy như một công cụ chính trị cũng như một sản phẩm tốt và thú vị để thiết kế. “Chúng tôi muốn máy vi tính có thể tiếp cận được với nhiều người,” sau này anh kể lại. “Dù công chúng vẫn chưa biết gì về chúng, nhưng máy tính sắp sửa xuất hiện, mọi gia đình đều sẽ có một chiếc trong nhà và mọi người đều có thể sử dụng máy tính để làm những việc có ích. Chúng tôi thực sự không chắc chắn về những việc có ích đó [nhưng] theo một cách nhất định, chúng tôi cảm thấy mình đang tham gia vào một cuộc dịch chuyển.”

Lee gợi ý rằng do họ đang đưa sự thông thái và từng trải của Solomon vào cỗ máy nên nó phải được gọi là Sol. (Les Solomon sau này bình luận rằng: “Nếu nó hoạt động được thì họ sẽ nói rằng Sol nghĩa là ‘mặt trời’ trong tiếng Tây Ban Nha. Còn nếu không, họ sẽ đổ lỗi cho các anh chàng Do Thái.”)

Quá trình hoàn thành Sol mất 6 tuần làm việc ròng rã, mỗi ngày từ 14-17 giờ. Lee, gần như chỉ sống nhờ nước cam, đã dành rất nhiều thời gian dán mắt vào mớ giấy Mylar của sơ đồ bố trí trên chiếc bàn đèn huỳnh quang. Trong khi đó, một trong những người bạn là thợ mộc của Bob Marsh đã xoay xở để mua được một món hời các thanh gỗ óc chó, và nhờ vậy, các mặt của Sol sẽ được làm từ thứ vật liệu đẳng cấp đó. Các bảng mạch sản phẩm mẫu rốt cuộc cũng hoàn thành, chỉ 15 ngày trước thời hạn cuối cùng mà Les Solomon đặt ra ban đầu. Hai tuần sau, một ngày trước thời hạn mới vào cuối tháng 2 năm 1976 ở New York, họ đã chạy đua để làm cho tất cả linh kiện hoạt động được trên chiếc bus kiểu Altair, cùng một bộ nguồn chế, một bàn phím và thậm chí là cả một vài phần mềm có sẵn. Hệ điều hành của nó được viết bởi Trưởng phòng Phát triển phần mềm của Processor Technology, thành viên của Homebrew, Steve Dompier.

Marsh đã đặt chuyến bay đêm cho anh và Lee. Sau khi hoàn thành kịp thời hạn, họ đã chạy thục mạng mới kịp chuyến bay. Họ tới Kennedy vào khoảng 6 giờ sáng, mệt mỏi rã rời, mang theo Chiếc máy tính Đại chúng được chia vào hai chiếc túi giấy. Không có một cửa hàng nào mở cửa ở sân bay, thậm chí là cả một quán cà phê, vì thế Solomon đã mời họ về nhà anh ở Flushing để ăn sáng. Vào thời điểm đó, nhà của Solomon, đặc biệt là phân xưởng trong tầng hầm của anh, đã trở thành huyền thoại trong việc cung cấp sân chơi cho các đột phá kỳ thú mới mẻ. Anh thường tiếp đãi các hacker phần cứng đã thiết kế những sản phẩm này, và vợ anh luôn nhận ra họ trong nháy mắt. “Bởi tất cả bọn họ đều có một thứ,” Solomon giải thích. “Đó là ngọn lửa đang cháy trong đôi mắt. Cô ấy thường nói rằng họ có một cá tính tiềm ẩn, và mặc dù trông như những kẻ ăn mày nhếch nhác nhưng nếu nhìn vào sâu thẳm trong đôi mắt họ, bạn sẽ biết họ là ai. Cô ấy nhìn họ và thấy trong đó sự thông minh cùng một tinh thần sôi nổi.”

Sự thông minh ấy đã “mất điểm” vào một buổi sáng tháng Hai lạnh lẽo: Thiết bị đầu cuối của Marsh và Lee không hoạt động. Sau chuyến đi ngắn tới New Hampshire để gặp những người bạn đến từ tạp chí mới dành cho người yêu máy tính Byte, Lee đã sử dụng một chiếc bàn làm việc và tìm lỗi – có một dây bị lỏng. Họ quay trở lại văn phòng củaPopular Electronics và khởi động lại nó. “Cả ngôi nhà hừng hực như lửa cháy,” Solomon kể lại. Ngay lập tức anh biết rằng mình đang nhìn thấy một chiếc máy tính hoàn chỉnh.

Kết quả là đã có một bài viết trên Popular Electronics nói về thiết bị đầu cuối máy tính thông minh đó. Nhưng đấy rõ ràng là một chiếc máy tính, chiếc máy tính được Processor Technology đóng gói trong một lớp vỏ màu xanh với các mặt làm bằng gỗ óc chó, trông nó như một chiếc máy chữ không có trục cuốn giấy. Các giản đồ mới cho bộ linh kiện chỉnh sửa này (có giá chưa đến 1.000 đô-la) tất nhiên cũng được cung cấp cho bất kỳ ai muốn xem cách thức hoạt động của nó. Marsh ước tính họ đã nhận được 30.000-40.000 đô-la yêu cầu muốn có giản đồ. Các đơn đặt hàng bộ linh kiện này liên tục đổ về.

Sol được trình diễn công khai lần đầu tiên trong chương trình PC’76 ở Atlantic City. Đó quả là một hội chợ kỳ lạ, khi lần đầu tiên những người giao hàng trong lĩnh vực kinh doanh máy tính tề tựu với nhau để trình diễn các món hàng tập thể của họ. Địa điểm là khách sạn Shelbourne với danh tiếng khi đó còn rất mờ nhạt. Có nhiều vết nứt trên tường, một số cửa ra vào không có núm, điều hòa không khí không hoạt động. Một số người già về hưu khó tính đang sống trong khách sạn gần như muốn lao vào Steve Dompier trong thang máy khi thấy bộ tóc dài của anh. Dù vậy, đó vẫn là một trải nghiệm vui vẻ. Có gần 5.000 người tham dự chương trình, nhiều người trong số họ đến từ những vùng khác nhau của nước Mỹ. Các công ty lấy cảm hứng từ Homebrew như Processor Technology và Cromemco cuối cùng cũng gặp được những tâm hồn đồng điệu đến từ các vùng khác của đất nước, và mọi người ở lại tới khuya để trao đổi các mẹo kỹ thuật và lên kế hoạch cho tương lai.

Sol đã thu hút được rất nhiều sự chú ý. Tất cả các hacker dường như đều đồng ý rằng với vẻ ngoài nhỏ bé, bàn phím được dựng sẵn theo phong cách máy chữ và màn hình video, Sol sẽ là bước đi tiếp theo. Không lâu sau đó, Processor Technology đã xoay xở để đưa Sol lên truyền hình – trong chương trình “Tomorrow” (Ngày mai) của Tom Snyder. Một nhân vật quen mặt trên truyền hình sẽ đối mặt với tuyên ngôn mới nhất của giấc mơ hacker – chiếc máy tính Sol chạy một chương trình trò chơi điện tử được Steve Dompier viết. Trò chơi có tên là Target (Mục tiêu), nó bao gồm một khẩu pháo nhỏ ở dưới đáy màn hình để người chơi có thể bắt những chiếc tàu của người ngoài hành tinh, được làm bằng các ký tự kiểu chữ số, bay dọc trên đỉnh màn hình. Đó là một hack nhỏ thông minh, và Steve Dompier sau đó kể lại rằng anh “về cơ bản là cho không”. Sau tất cả, mấu chốt ở đây là việc viết các trò chơi điện tử để mọi người có thể chơi với máy tính.

Target là công cụ hoàn hảo để trình diễn cho Tom Snyder và khán giả truyền hình một cách nhìn mới mẻ về những con quái vật đội lốt quỷ mang tên “máy tính”. Hãy tưởng tượng cảnh những con người thời hậu hippy bẩn thỉu này đem một chiếc máy tính tới một trường quay, cài đặt nó, và để cho một người hoàn toàn mù tịt về máy tính như Tom Snyder tiến hành làm gì đó với nó. Tom đã thích thú với nó và trước “phần giải lao dành cho quảng cáo” thì anh đã chìm – không quá lời chút nào – trong việc triệt hạ những người ngoài hành tinh khi họ xuất hiện ngày càng nhiều lúc trò chơi diễn ra, và thậm chí còn thả thêm những người nhảy dù nhỏ xíu cùng những quả lựu đạn. Nó mang đến thử thách mà bạn cảm thấy hứng thú muốn theo đuổi. Khi bắn hạ những người ngoài hành tinh, Tom Snyder đã cảm nhận được một cảm giác… đầy quyền lực. Thứ cảm giác đó đem lại cho bạn chút mùi vị về những gì bạn có thể thực sự tạo ra với chiếc máy này. Bí ẩn nào đang nằm sau những cỗ máy có hình dáng như máy chữ này? Ngay cả một chương trình đơn giản như Target cũng có thể khiến bạn nghĩ về điều đó. “Chưa có ai từng định nghĩa điều đó,” Steve Dompier kể lại, “nhưng tôi nghĩ là có một phép màu trong đó.” Dù sao thì, như Dompier nhớ lại, “họ đã phải kéo Tom Snyder ra khỏi cỗ máy để anh ta có thể kết thúc chương trình.”

« Lùi
Tiến »